. Phạm Khắc Trung
Chủ Nhật này là Ngày Của Cha, tôi mới chuẩn bị định viết chút cảm nghĩ về ngày này thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn tôi bước vô mới chỉ vừa liếc nhìn qua cái tựa đề “Tản mạn về con cái” của tôi trên computer là anh bạn tôi đã nhảy dựng lên, “Ai bảo người Việt mình trọng nam khinh nữ đâu, có bao giờ họ nhắc con đực không hay chỉ toàn nhắc con cái?”
Tiếng Việt mình thật nhiêu khê! Thấy vui, tôi cười khỏa lấp, “Bộ cứ nhắc là trọng sao cà? Thường thì đau người ta mới nhắc, như có đau răng mới nhắc tới răng đau chứ!”
Anh bạn tôi sừng sộ, “Cứ cho là đau mới nhắc đi, nhưng con cái có mỗi nỗi đau sợ có bầu thôi, còn con đực thì cả bầy đau mà sao không nhắc?”
Rồi anh bạn tôi lại gật gù, “Mà bầu bì bên đây người ta phá tới ngày sinh thì còn gì nữa đâu phải sợ?”
Tôi nói lại cho đúng: “Ai bảo tới ngày sinh cũng phá được? 24 tuần trở lại thôi nha. Quá 24 tuần thì bác sĩ phải đưa ra bằng chứng y tế nghiêm trọng, như nếu để lại cái thai thì thai phụ sẽ chết, mới được phép phá.”
Rồi để câu chuyện không bị dẫn đi xa, tôi quay lại với Ngày Của Cha, giải thích, “Bây giờ tôi tản mạn về chữ con và chữ cái nhân Ngày Của Cha chứ không phải con cái!”
Anh bạn tôi chưng hửng, “Vậy sao?” Rồi anh ấy quay qua thắc mắc, “Mà con và cái khác nhau ra sao?”
Tôi bèn kể câu chuyện vui (trích):
Có anh Mỹ nọ lấy vợ Việt và thích học nói tiếng Việt…
Năm nay hai vợ chồng dắt nhau về quê vợ ăn Tết, nhìn đâu cũng thấy lạ mắt, anh chồng luôn miệng tấm tắc khen:
− Nhìn kìa em, những căn nhà sàn nằm ẩn mình trong những bụi cây xanh cạnh “cái sông” trông nên thơ hết sức!
Cô vợ mỉm cười, âu yếm sửa lưng chồng:
− Anh phải gọi là “con sông” chứ không ai nói là “cái sông” bao giờ!
Anh chồng “cám ơn” vợ xong lẩm nhẩm ghi nhớ lời vợ vào bụng. Xe chạy thêm một đoạn đường dài, người chồng thắc mắc, hỏi vợ:
− Ở đây nhà nào cũng đào “con ao” trữ nước xài quanh năm hở em?
Chị vợ cười nắc nẻ rồi mới vuốt nhẹ tay chồng, giải thích:
− Anh phải gọi là “cái ao” chứ không ai nói là “con ao” hết đó!
Anh chồng trố mắt nhìn vợ, cự nự:
− Cũng đều chứa nước như nhau, mà ba hồi em gọi là “con”, ba hồi em bảo là “cái”, làm sao anh biết để phân biệt?
Chị vợ âu yếm nguýt chồng rồi cười giải thích:
− Cũng dễ phân biệt thôi anh. Này nhé, nước ở sông di chuyển trong khi nước ở ao thì cô đọng. Anh thấy hễ có sự di chuyển, hiếu động thì gọi bằng “con”, hễ nằm ù lì, bất động thì gọi bằng “cái”.
Anh chồng “cám ơn” và lẩm nhẩm ghi nhớ lời vợ giảng. Rồi bỗng dưng anh nhảy dựng lên:
− Anh hiểu ra nguyên tắc đó rồi, chẳng hạn của anh nó nhúc nha nhúc nhích nên gọi bằng “con”, trong khi của em nó nằm yên bất động một chỗ nên gọi bằng “cái”, đúng không nào? (ngưng trích)
Anh bạn tôi ôm bụng, gập người mà cười ngặt nghẽo và khen anh chàng Mỹ thông minh, nên quên luôn không vặn vẹo tôi nữa…
Thật ra, sự suy nghĩ của tôi cũng không xa câu chuyện vui đó là bao. Tôi suy ngẫm về bài thơ “Tình non nước” của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời “nguyện nước thề non”,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
Non cao đà biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.
Nước là thần vật Trời ban, là nhu cầu cơ bản cho sự sống của muôn loài. Nước là vật khởi nguyên, là chức năng của đạo Trời, thế nên nước là Càn, là cha. “Khổng Tử nói: Nước là quân tử ví như đức vậy. Cho khắp cả mà không tư, giống như đức; đến đâu thì đó sống, không đến đâu thì đó chết, giống như nhân; trôi chảy xuống chỗ thấp, chảy thẳng, chảy quanh, đều theo lý, giống như nghĩa; ở trên cao trăm trượng chảy xuống khe mà không ngần ngại, giống như dũng; chỗ cạn thì lưu hành, chỗ sâu thì không lường được, giống như trí; yếu ớt, mờ nhỏ, mà đâu cũng thấm đến được, giống như sát (soi xét tinh tường); chịu các cái xấu, không từ chối cái nào, giống như bao khỏa thật (bao dung cả mọi việc); cái gì không sạch mà vào nước, thì không mấy cái ra mà không tinh khiết, giống như thiện hóa; đọng thì bằng phẳng, giống như chính; đầy thì không phải gạt, giống như có độ; đi chiết khúc bao giờ cũng chảy về đằng đông, giống như có ý” (Lễ Ký, Khuyến Học, Nho Giáo, Trần Trọng Kim, trang 81-82).
Nước vừa ở thể lỏng, vừa ở thể khí. Lúc ở thể lỏng, nước là phần hình, mắt thường có thể trông thấy, tay thường có thể sờ được. Lúc này nước nặng nên đọng chỗ chũng, dưới vực sâu, trên đồng ruộng… Nước gặp nhiệt bốc hơi, hơi nước là phần khí nên không trông thấy, khí nhẹ nên bay lên cao, ngưng tụ thành mây trôi dạt trên trời. Khi áp suất thay đổi, mây đọng thành nước, từ thể khí chuyển thành thể lỏng, phần hình, nặng nên nước rơi xuống đất gọi là mưa.
Từ thể khí chuyển qua thể lỏng, rồi từ thể lỏng biến thành thể khí. Nước hóa mây, mây hóa nước, cứ thế tiếp diễn, chẳng ai thắc mắc nước có trước hay mây có trước, chỉ biết, chúng tạo thành một vòng tròn, theo định luật biến đổi tự nhiên của vạn vật:
Gạch liền (—), dương, ở thể khí, nhẹ nên có khuynh hướng bay lên. Lên đến tột cùng thì biến thành âm, rơi xuống.
Gạch đứt (− −), âm, là phần hình, nặng nên luôn lắng xuống. Lắng xuống tận cùng thì biến thành dương, bay lên.
Trong thế gian, không có vật gì khả dĩ có thể biểu tượng được cho nước: vừa ở thể khí, vừa ở thể hình, vừa sống dưới vực sâu, dưới sông, dưới hồ, dưới ruộng…, uống nước như sáng hút (cơn lốc); lại vừa sống trên bờ (chứa trong các chậu, chum, vại…); lại có thể bay lượn trên trời (mây), hung dữ (giông tố), cuồng nộ (sấm), miệng phun ra lửa (sét) đốt cháy núi rừng? Thế nên Tổ Tiên ta mới tưởng tượng ra con Rồng mà tha hồ vẽ cho Rồng những nét văn vẻ, sáng sủa, để Rồng là Cha, là đại biểu cho nền văn hóa nông nghiệp lúa Mễ (lúa trồng ruộng nước). Hơn nữa, vì Rồng không có thật nên không sợ Rồng làm điều sái quấy, gây tai tiếng cho danh dự người Cha. Rồng từ đây hiện hữu như một vòng tròn ở thể khí, biểu tượng bằng chiếc bánh dày làm bằng nếp tán nhuyễn nặn tròn của công tử Lang Liêu (truyện Bánh Dày Bánh Chưng).
Như vậy, 2 câu đầu của bài ca dao, “Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” không còn đứng vững nữa, có lẽ nên được sửa thành, “Nghĩa mẹ như núi Thái Sơn / Công cha như nước trong nguồn chảy ra”?
Đạo của trời đất là chủ ở sự sinh vạn vật, Hệ từ hạ truyện viết: “Thiên địa chi đại đức viết sinh: Đức lớn của trời đất là sự sinh”, và “Thiên địa nhân huân, vạn vật hóa thuần, nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh: Khí trời hình đất, nhờ ở sự khởi nguyên và sinh ra, mà vật nào thì có cái sở nghi của vật nấy, rồi giống đực và giống cái giao cấu nhau, mà vạn vật cứ thế mà sinh ra mãi”.
Càn dương, là vật khởi nguyên, muôn việc nhờ Càn sinh ra: “Đại tai Càn nguyên, vạn vật tư thủy, nãi thống thiên: Lớn thay cái đức đầu cả của Càn, muôn vật nhờ đó khởi đầu, bèn tóm việc trời” (Lời Thoán). Biểu tượng của Càn ☰ Dương mang số 3, là đạo trời, là hình tròn (bánh dày), là người cha…
Khôn âm, là vật sinh ra, muôn việc do Khôn tác thành: “Chí tai khôn nguyên, vạn vật tư sinh, nãi thuận thừa thiên: Cùng tột thay cái đức đầu cả của Khôn, muôn vật nhờ đó mà sinh ra, bèn thuận theo trời” (Lời Thoán). Biểu tượng của Khôn ☷ Âm mang số 4, là đạo đất, là hình vuông (bánh chưng), là người mẹ…
“Cha sinh mẹ dưỡng”, có nghĩa là người cha khởi nguyên, làm chủ lúc mới đầu mà sinh ra; rồi sau người mẹ mới làm cho ngưng kết để thành hình mà cưu dưỡng. Hệ từ thượng truyện viết: “Càn tri thái thủy; Khôn tác thành vật: Càn làm chủ lúc mới đầu; rồi sau Khôn mới làm cho ngưng kết mà thành hình”.
Bởi Mẹ làm cho ngưng kết mà thành hình nên chúng ta Thờ. Thờ là biểu hiện của phần hình có thể hình dung ra được (chẳng hạn nhắc tới thờ là người ta mường tượng ra nải chuối sống và con gà khỏa thân).
Bởi Cha khởi nguyên, làm chủ lúc mới đầu nên chúng ta Kính. Kính là biểu hiện trong lòng, thuộc phần khí, không thấy bằng mắt thường được, nên 2 câu tiếp của bài ca dao là, “Một lòng thờ mẹ, kính cha / Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Happy Father’s Day to All!
Phạm Khắc Trung (2024)
Cái nhà là nhà của ta,
Công khó ông cha dựng ra.
Cháu con hãy gìn giữ lấy,
Muôn năm giữ nước non nhà!