Sứ-điệp của Nguyễn-Du Qua Đoạn-Trường Tân-Thanh
. GS Đỗ Quang Vinh
(bài thuyết-trình do Văn Bút VN Ontario tổ-chức tháng 6 năm 2003)
tóm lược những phân tích và đánh giá Truyện Kiều
viết trong cuốn “Bút Thuật Của Nguyễn Du Trong Đoạn Trường Tân Thanh”
Thưa quý vị:
Nói rằng Nguyễn-Du, nhà đại thi-hào trong lòng dân tộc, là đã mặc-nhiên nhìn-nhận thi-tài trác-tuyệt của ông. Quả vậy, Đoạn-Trường Tân-Thanh của ông đã được nâng lên hàng siêu-phẩm vượt thời-gian và không-gìan để trở thành một di-sản văn-hoá quốc-tế được thế-giới ngưỡng-mộ
Cuốn “Bút-Thuật Của Nguyễn-Du Trong Đoạn-Trường Tân-Thanh” của chúng tôi ra mắt quý vị hôm nay, không hẳn chỉ là những phân-tích và đánh giá thi-tài trác-tuyệt của ông, mà qua việc làm này, một cách gián-tiếp, chúng tôi muốn phác-hoạ đôi nét về chân-dung của ông. Kẻ Sĩ Nguyễn-Du thể-hiện một tâm-hồn chan-chứa yêu thương, một nhà cách-mạng tư-tưởng, một nhà cải-cách xã-hội. Thời-gian hạn định không cho phép chúng tôi tham-lam sang việc phân-tích con người tình-cảm của ông, một tâm-hồn chan-chứa yêu thương, bởi lẽ để cho thật thấu-đáo, cần phải có cái nhìn tổng-quát lấn sang toàn bộ thi ca của ông ngoài Truyện Kiều, cho nên chỉ xin nói riêng qua Truyện Kiều mà thôi, để vẽ lại ở đây cho đậm nét con người suy tư của tác-giả. Chúng tôi muốn làm phát-hiện những sứ-điệp mà Nguyễn-Du rao truyền trong tác-phẩm Đoạn-Trường Tân-Thanh. Chính những sứ-điệp này thể-hiện con người suy tư của ông: một nhà cách-mạng tư-tưởng, một nhà cải-cách xã-hội, điều mà chúng tôi vừa mới đề-cập. Những sứ-điệp ấy là tình yêu và hôn-nhân, tự-do và định-mệnh, nhân-quyền và nữ-quyền.
I- Tình yêu và hôn-nhân
1- Nói về luyến-ái-quan,
Nguyễn-Du để cho con tim được tự do nói lên tiếng nói của tâm tình, điều mà khuôn thước Nho-giáo cấm kỵ. Các nhà nho xưa gay-gắt lên án Kiều mất nết hư thân.
* Quả thực Kiều có lãng mạn, Với hành động “thoăn thoắt gót sen, xăm xăm băng lối vườn khuya, xắn tay mở khóa động đào, rẽ mây vội vã sang nhà Kim Trọng mà tỏ tình, ngâm thơ uống rượu, cắt tóc thề bồi, quả là một tình yêu sôi nổi đam mê. Kiều đúng là đã hành động theo tiêén gọi tự nhiên của con tim.
* Nhưng không phải là nàng đã đánh mất lý trí:
“Dù cho lá thắm chỉ hồng,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.”
Nàng cũng còn đủ sáng suốt để đem lời “đoan chính” mà cảnh giác người yêu, khi thấy chàng “Xem trong âu yếm có chiều lả lơi
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao!
Đạo tòng phu, lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi!
Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiết trăm năm nỡ bỏ đi một ngày!
……….
Gieo thoi, trước chẳng giữ giàng,
Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai?
Vội chi liễu ép hoa nài,
Còn thân ắt lại đền bồi có khi!”
“Thấy lời đoan chính dễ nghe,
Chàng càng thêm nể thêm vì mười phân”
Lễ giáo nhìn nàng một cách khắc nghiệt không cần biết đó là những rung cảm thực sự của con người, nhưng con người ấy chưa dám giơ chân đạp tung khuôn vàng thước ngọc cổ kính. Người ta tự hỏi thế Kiều Nguyệt Nga kia ôm tượng Vân Tiên trầm mình vì yêu thì sao không bị lên án? Cũng quá lãng mạn chứ! Hay tại vì nàng là con quan đại thần, con của giới nho sĩ thượng tầng cố bám lấy cái huyền thoại Nho giáo làm nền tảng cho chế độ cai trị?
Thế những người thôn dân tỏ tình còn phóng túng táo bạo biết bao nhiêu thì chẳng thấy các cụ nhà nho tố cáo cho:
“Thương nhau cởi áo cho nhau,
Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay,
Tại mẹ may áo rộng tay,
Con quen gió mát nên bay mất rồi.”
Hoặc:
“Ước gì sông hẹp một gang,
May cầu dải yếm cho chàng sang chơi!”
Đây những đôi trai gái khao khát tự-do, muốn vượt khỏi khuôn thước “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”:
“Dẫu mà cha mẹ không thương ,
Hai đứa mình trải chiếu ngoài đường lạy vô”
Hãy nghe những thôn nữ sau đây tỏ tình với trai làng :
“Trầu này trầu túi, trầu khăn,
Trầu này dải yếm, anh ăn trầu nào?
Trầu này trầu tính, trầu tình,
Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình với ta,
Trầu này têm tốì hôm qua,
Giấu cha, giấu mẹ đem ra cho chàng”
Hoặc chỉ vì ấm ức, bất mãn, mà chống đối cả lễ nghi:
“Không chồng mà chửa mới ngoan,
Có chồng mà chửa thế gian sự thường”
Kìa những “cụ già đầu bạc răng long, có cô con gái còn măng tuổi đào”, những “bà già đã tám mươi tư, ngồi trong cửa sổ gửi thư lấy chồng”, đó có phải là lãng mạn hay không? Có coi thường lễ giáo hay không? Những tiếng nói ấy sẽ là những tiếng kêu khát vọng của tự do, những rung cảm thực sự của con tim nhân loại. Những tiếng nói ấy rất “người”, rất gần gũi với đời sống thực tại, trung thực, không giả dối, giả hình, không miễn cưỡng gò bó, tưởng chừng muốn phá tung hàng rào lễ nghĩ của Nho Giáo vốn được du nhập làm một thứ khí cụ chính trị cho những thế lực cầm quyền.
2- Nói về hôn nhân và tình yêu,
Nguyễn Du đã phân biệt trinh nguyên và trinh tiết, cùng bác bỏ chế-độ đa thê. Nguyễn-Du đã nói lên quan-điểm của mình qua cuộc đấu lý sôi nổi thắng lợi của Thuý Kiều với Kim Trọng trong buổi đoàn viên tái hợp.
a- Kiều phân biệt trinh nguyên với trinh tiết. Nàng theo quan niệm trung dung, vừa duy vật, vừa duy tâm, điều hoà lý trí và tình cảm, vẫn vợ chồng trên danh nghĩa, nhưng không thực sự vợ chồng theo cái nhìn duy vật sinh lý, thỏa mãn xác thịt, mà vẫn “ân ái chan chan” theo nghĩa bầu bạn tương tri. Nghĩa là vẫn yêu tha thiết, nhưng yêu bằng tình yêu cao cả, hy sinh những đòi hỏi xác thịt, hy sinh cái bản ngã, cái “TA” của mình, hy sinh dục vọng, ham muốn nhục dục.
Như vậy sự dung hoà giữa duy vật và duy tâm ở đây cho thấy Kiều đã phân biệt tình ái với tình dục, trinh nguyên với trinh tiết. Với cái nhìn trinh nguyên, khi thất thân, coi là mất trinh. Với quan niệm trinh tiết, thì tuy mất trinh nhưng vẫn còn tiết, vẫn giữ được lòng ngay thẳng, vẫn giữ được cái TÂM cao thượng, cao đẹp ở chỗ quên mình vì người, không ích kỷ nhưng vị tha, không chấp ngã nhưng xả kỷ vì quyền lợi hạnh phúc của tha nhân hơn là vì thoả mãn dục vọng riêng của mình.
Bàn thêm về trinh tiết, vợ chồng ăn ở với nhau mà ngoại tình là không giữ tiết thuỷ chung. Đôi bạn trẻ bảo rằng yêu nhau, tuy vẫn giữ trinh nguyên thân xác, nhưng lòng lại rẽ lối muôn phương mà ngoại tình trong tâm tưởng, như vậy sao bảo là trinh? Tuy còn trinh về thể chất, nhưng không còn trinh trong tâm hồn, như vậy là thất tiết.
Nguyễn Khuyến đã nói về cái tiết ấy như thế này:
“Ngoại mạo bất cầu như mĩ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim”
Trong tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên, Giải Thị, vợ của Thiết Đình Quý, đang có mang mà buộc phải lấy tướng giặc Hoá Long để bảo toàn dòng dõi nhà chồng, đến khi con đã khôn lớn, Giải Thị lấy đầu tướng giặc để tế chồng, rồi gieo mình xuống sông tự vẫn, hầu vẹn tiết thuỷ chung với chồng. Đấy là trinh tiết. Thất trinh vì cảnh ngộ mà tòng quyền, buộc phải thất thân, nhưng vẫn còn “tình ái”, lòng vẫn còn trinh vì vẫn giữ tiết, vẫn không “tà dâm”, vẫn còn giữ được cái TÂM trong sạch cao quý, tâm vẫn còn hướng về người tình của mình, vì chính “chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài” theo tác giả, và đúng như Đạo Cô Tam Hợp đã nói về Kiều:
“Xét trong tội nghiệp Thuý Kiều,
Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm”
b- Và đến đây thì ta thấy rõ thêm một điều, Nguyễn Du muốn truyền đạt sứ điệp qua tiếng nói Thuý Kiều, một sứ điệp mang tính hiện đại: tình yêu hôn nhân không hẳn chỉ là tình yêu của xác thịt, của dục tình. Khác với ái tình, tình dục chỉ là phương tiện củng cố cho tình yêu hôn nhân, không thể là căn nguyên và bản chất làm nên tình yêu hôn nhân. Tình yêu đích thực và cao cả, trên hết phải là tình yêu đặt trên sự tương kính, cảm thông, hoà hợp và hy sinh cho nhau, trên hết phải bắt đầu bằng tình bạn tương giao tri kỷ. Vì có tương tri mới có sự hài hoà, nhường nhịn, quên mình mà mưu cầu hạnh phúc cho nhau, không trống đánh xuôi kèn thổi ngược, đúng như tổ tiên vẫn nói: “thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”.
Có tương kính thì mới biết lắng nghe người yêu mà không tự ái, kiêu căng, không độc đoán, chống đối hoặc vũ phu. Với Mã Giám Sinh, ái tình là tình dục cưỡng ép, với Thúc Sinh là tình yêu của nhân tình, nhân ngãi có tính toán lợi dụng, nặng tính xác thịt đam mê vị kỷ hơn là can đảm nhận lấy trách nhiệm và hy sinh chia sẻ theo đúng nghĩa vợ chồng. Với Từ Hải, thì thực sự trong thực tại, có yêu thương, có hy sinh, có tương kính. Nhưng với Kim Trọng thì cao quý hơn, vừa lãng mạn sôi nổi, vừa nghiêm trang đoan chính, vừa có cái nồng nhiệt của con tim, vừa có cái duy lý của tình yêu cao siêu vị tha hoàn toàn, hy sinh tất cả cho những người mình đã yêu thương, yêu gia đình, yêu tình quân, yêu hết mọi người, không muốn làm hạnh phúc của người, nhất là của người mình yêu thương, phải bị vẩn đục sứt mẻ, phải canh cánh bực dọc, yêu trong mưu cầu an bình, bởi không có bình an thì không có hạnh phúc, không có hài hoà vị tha thì không có hoà bình. Hơn ai hết, Kiều đã nếm giấm đắng của cảnh chồng chung, đã kinh nghiệm sự xâm lấn ái ân và hạnh phúc của người, gây nên biết bao đau khổ không phải cho riêng mình, mà cả cho mọi người. Đây là một tình yêu thăng hoa.
c- Với tình yêu cao thượng ấy, Nguyễn Du bác bỏ chế-độ đa thê
Trong Lục-Vân-Tiên, Kiều Nguyệt-Nga tự trầm. Câu chuyện cũng cho nàng được cứu sống, nhưng sau này được kết duyên “thực sự” với Vân Tiên, mặc dầu khi ấy Vân Tiên đã có vợ do nhà vua tác thành để tưởng thưởng công lao bình định của chàng. Truyện kết thúc với cảnh đa thê đề huề. Các truyện cũ như Phan Trần, Hoa Tiên, cũng có lối kết cục tương tự. Nguyễn Du thì trái lại, cho Kim Kiều trùng phùng, nhưng để cho hai người tranh biện, và kết cuộc cùng chấp nhận tiếng nói của Kiều: không đa thê theo nghĩa thông thường, mà bên cạnh Thuý Vân là vợ chính thức, Kiều vẫn làm vợ Kim Trọng nhưng chỉ là vợ trên danh nghĩa cho đẹp lòng mọi người, thực ra họ đối xử với nhau bằng tình yêu cao thượng, tình yêu thương tri kỷ, bằng sự tâm giao bầu bạn tương tri. Ngày nay tại các nước Âu Mĩ, chuyện vợ chồng ly thân vẫn ở chung một nhà coi nhau như bạn, không phải là lạ lùng. Trách chi ở thế kỷ của Nguyễn Du, tư tưởng mang tính hiện đại này bị chỉ trích là thế!
II- Tự-do và định mệnh.
Chúng tôi đã có dịp chủ-trương rằng: ngay từ thuở xa xưa, trước cả Hán-tộc, Việt-tộc đã sở-hữu một nền Việt-Triết làm nên Hồn Nước Việt-Nam. Đó là triết-lý âm dương dịch học. Mang nặng hồn Việt, Nguyễn Du đã mượn Đoạn Trường Tân Thanh dể biện giải triết thuyết tam tài thiên địa nhân nói lên mối tương quan giữa con người với Trời Đất.
1) Định-mệnh:
Trong hai câu đầu vào truyện, tác-giả đã nêu ngay cái công-lệ tự-nhiên:
“Trong năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau.”
“Trăm năm”, “chữ tài” “người ta”, những tiếng ấy nói về con người và đời người, ấy là NHÂN. “Trong cõi” là bao-quát về không gian vũ-trụ, ấy là ĐỊA. “Chữ Mệnh” là nói về thiên-định, ấy là THIÊN. Trong tương quan Trời, Đất, Người, có mối xung-khắc: con người càng được Trời phú cho sự tinh khôn sắc-sảo, thì càng phải chịu đựng thử-thách gian truân. Đó là luật thừa trừ theo lẽ công bằng, mà cụ-thể thường thấy nơi kẻ hồng nhan:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng,
Lạ gì bỉ sắc tư-phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.”
Luật thừa trừ này được chứng minh bằng cả cuộc đời Kiều. Từ đó, người ta mặc-nhiên chấp-nhận định-mệnh:
- người ta tin ở Trời
- và nhìn nhận con người là một công-trình sở-hữu của Trời:
“Trời kia đã bắt làm người có thân”
- trời chi-phối đời sống con người:
“Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
2) Nhưng không hẳn là thế, dưới mắt Nguyễn Du, Trời không độc tài độc đoán.
Con người vẫn được tự-do đối phó với định-mệnh cho dù định-mệnh có khắt-khe đến đâu chăng nữa, vì lẽ “xưa nay nhân-định thắng thiên cũng nhiều”. Đối phó như thế nào?
Kiều đã tranh đấu vật lộn với định mệnh, đã cố gắng bằng mọi giá để lướt thắng định mệnh khắt khe: bằng tài lực vật chất dùng tiền bán nình để chuộc cha, bằng sự quyên sinh ở nhà mụ Tú, bằng sức lực con người mà trốn khỏi lầu Ngưng Bích, bằng ngay cả tình yêu hiến thân để theo Thúc Sinh ra khỏi thanh lâu, bằng sự chịu đựmg cực hình nơi cửa quan, nơi nhà họ Hoạn mong khỏi nhìn thấy cảnh ô trọc bẩn thỉu của chốn lầu xanh, bằng ngay cả sự gian trá lấy trộm chuông vàng khánh bạc trên bàn thờ Phật mà trốn khỏi am Chiêu Ẩn, bằng uy quyền danh vị của Từ Hải mà ra khỏi hành viện Châu Thai, bằng mộng “phu quý phụ vinh” để xui chồng về với triều đình, bằng chính mạng sống của mình là tội huỷ hoại xác thân nơi sôngTiền Đường để mong thoát khỏi định mệnh. Nhưng Kiều vẫn bất lực, hoàn toàn bất lực với những phương tiện chấp ngã. Kiều phải mua mười lăm năm giá đắt để nhân chân giá trị của thiện căn, và chính vì thiện căn tích luỹ, vì đã gìn giữ và tô đậm chữ Tâm nên Kiều mới được cứu vớt. Không còn chấp ngã, nhưng đã xả chấp để có được Thiện Tâm. Thiện Tâm chính là giải đáp tối hậu cho mọi vấn nạn của cuộc đời, của con người trong kiếp sống tang thương nơi trần thế:
“Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.”
Một quan niệm kỳ lạ vào thời đó và cũng rất hiện đại trong thế kỷ ngày nay: quan niệm về tình yêu và hôn nhân, về tự do và định mệnh, trong bối cảnh xã hội đương thời, Nguyễn Du đúng là một nhà cách mạng tư tưởng!
III- Nhân quyền và nữ quyền
1) Bối-cảnh xã-hội đường-thời:
Nhân-vật Từ Hải được Nguyễn Du dựng nên như một “đấng anh-hào’ vớt nàng ra khỏi chốn thanh lâu ô trọc. Thế nhưng tại sao Kiều lại ví chồng như tướng giặc Hoàng Sào?
“Ngẫm từ dấy việc binh đao,
Đống xương vô định đã cao bằng đầu.
Làm chi để tiếng về sau?
Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào?”
Xin thưa, đây là lời của Kiều, của người đàn bà vốn tính nhẹ dạ, và người đàn bà này chỉ lập lại tiếng nói của viên sứ giả triều đình mà thôi, tiếng nói của phe cầm quyền đối lập, dĩ nhiên là ca tụng mình và kết tội Từ Hải để đem phần thắng lợi về mình. Cho nên khách quan mà nhận định:
* Đống xương vô định này có phải là do Từ Hải đi cướp bóc hà hiếp dân chúng hay không? Vì sao có cuộc chiến này? Phải chăng như đã nói, vì
“Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!”
Cái sự bất bằng ấy ở đâu mà ra? Có phải do triều đình gây ra hay không? Thì cứ nhìn vào bộ mặt của chính quyền, ắt sẽ thấy rõ.
* Bộ mặt ấy là một xã hội kim tiền, mà sức vạn năng của nó còn trải dài mãi đến về sau, khiến cho, chẳng những cụ tam nguyên Yên Đổ phải thốt lên rằng:
“Có tiềnviệc ấy mà xong nhỉ?
Đời trước làm quan cũng thế a?”
mà ngay đến bây giờ, ở thế kỷ hai mươi mốt này, người dân cũng vẫn hãy còn mai mỉa: “đồng tiền là cái lọng che thân, là cán cân công lý”. Sức mạnh vĩ đại của nó đã làm băng hoại cả cái xã hội Kiều mà thượng tầng thì quan lại thối nát tham nhũng hối lộ công khai, sai nha như lũ “ruồi xanh”, mè nheo hối lộ, bắt người khảo của:
“Một ngày lạ thói sai nha,
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”
“Tính bài lót đó luồn đây,
Có ba trăm lạng việc này mới xuôi.”
Hạ tầng thì cũng vẫn không tiền, đầu không xuôi, đuôi chẳng lọt:
“Tiền lưng đã sẵn, việc gì chẳng xong.”
Trái lại có tìền, thì “nén bạc đâm toạc tờ giấy”:
“Trong tay đã sẵn đồng tiền,
Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì.”
* Bộ mặt ấy đại diện bởi những Hồ Tôn Hiến, đại thần hèn mọn, tiểu nhân bỉ ổi, gian trá, lọc lừa, tráo trở, thủ đoạn, đê tiện.
* Bộ mặt ấy là những tên Hồ Tôn Hiến đại thần, đã cướp vợ kẻ thù, ức hiếp kẻ cô thế, ham mê sắc dục, quá chén say sưa trước nhan sắc của vợ địch thù:
“Bắt nàng thị yến dưới màn,
Giở say lại ép cung đàn nhặt tâu,
Nghe càng đắm, ngắm càng say,
Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!”
* Bộ mặt ấy “nghĩ mình phương diện quốc gia, quan trên nhắm xuống, người ta trông vào”, cho nên tỉnh giấc, nhớ tới “tuồng trăng gió” tối qua khi “chén đã quá say, nên tính bài ăn ốc rồi bắt người đổ vỏ, ăn vụng rồi chùi mép phủi tay, đem gán ép ngay cho tên thổ quan, coi dân như tên nô lệ buộc phải cúi đầu tuân lệnh:
“Công nha vừa buổi rạng ngày,
Quyết tình, Hồ mới đoán ngay một bài.
Lệnh quan ai dám cãi lời,
Ép tình mới gán cho người thổ quan.”
* Bộ mặt ấy là những ông huyện Lâm Truy “mặt sắt đen sì”, xử người theo ý riêng, hết sức khôi hài, lại chiếm công vi tư, lấy công quỹ ra mà làm hôn lễ long trọng cho bị cáo vừa mới bị ông ra án gia hình, chỉ vì ông đắc ý về thi tài của bị can này:
“Kíp truyền sắm sửa lễ công,
Kiệu hoa cất gió đuốc hồng điểm sao.”
* Bộ mặt ấy là cái thói “công thần chủ nghĩa” (!) “một người làm quan cả họ được nhờ”, như vợ con viên quan lại bộ Hoạn gia kia đã ỷ quyền cậy thế sinh sát lê-dân, có bà lớn oai vệ sống trong “lâu đài” vương giả, mà dân nô lệ bước vào phải bàng hoàng:
“Ngước trông toà rộng dãy dài,
Thiên quan Trủng Tể có bài treo trên.
Ban ngày sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.”
* Bộ mặt ấy là những dung túng cho xã hội đen tự do hoành hành, gây nên biết bao thảm trạng đau thương triền miên cho người dân cô thế, một xã hội bẩn thỉu, đến nỗi người con gái phải xót xa căm hờn, cất lên tiếng thét não nùng ai oán:
“Thân lươn bao quản vũng lầy,
Tấm lòng trinh bạch từ sau cũng chừa!”
* Bộ mặt ấy là một địa ngục cho bọn ác quỷ lộng hành từ trên xuống dưới, không lời nào lột cho hết được cái trắng trợn tàn nhẫn độc ác của xã hội, đành chỉ còn biết ngậm ngùi nói lên nỗi uất ức than rằng:
“Nước trôi hoa rụng đã yên,
Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian!”
* Bộ mặt ấy là nền giáo dục từ chương cổ hủ đào tạo nên những tên trí thức vô lương bất nghĩa, cam tâm hèn hạ đi làm ma cô tay sai cho bọn vô học.
* Bộ mặt ấy, tóm lại là một xã hội vô luật pháp, mạnh được yếu thua, dẫy đầy những thối nát bất công làm người anh hùng thấy chướng mắt, “bất bình” chẳng tha.
* Bộ mặt ấy là một xã-hội mà nữ-quyền là một ân huệ của xã-hội. Ngay đến vấn đề thiết-thân là hôn nhân, người con gái cũng không có. Ông quan huyện Lâm Tri đã lấy của công mà làm đám cưới linh đình cho Kiều làm vợ lẽ Thúc-Sinh. Xã-hội đương thời coi thường nữ-quyền mà chấp-nhận đa thê.
Tại sao những truyện cổ khác khuyến khích cổ võ đa thê mà lại lên án Truyên Kiều có chủ trương trái ngược? Thế cái việc nhà vua tác thành nhân duyên cho Kiều Nguyệt Nga với Vân Tiên mặc dầu chàng đã có vợ rồi, việc làm ấy là tôn trọng hay không tôn trọng nhân vị của người phụ nữ? Nhưng chính nàng Kiều đã không chấp nhận cách này vì lòng hy sinh cao cả, không muốn phá vỡ hạnh phúc của tha nhân, vì biết tôn trọng và giữ liêm sỉ. Có lẽ tiếng kêu “tân thanh” của Kiều sẽ phát động tiếng nói khát vọng sẵn có của người dân bùng lên làm nhức nhối chế độ, một chế độ hằng bao thế kỷ chôn sâu mọc rễ, người ta sợ cái cây cổ thụ Nho Giáo này vẫn từng nuôi sống và củng cố chế độ sẽ bị bứng đi chăng?
Kết-luận
Truyện Kiều rao truyền sứ điệp của Nguyễn Du, một nhà cách mạng tư tưởng, một nhà cải cách xã hội. Ông đề xuất triết thuyết Thiên Mệnh, giải đáp luận đề tài mệnh tương đố, xác định vị trí con người trong mối tương quan Trời, Đất, Người, nói lên quan niệm tự do và định mệnh mà bằng thiện tâm, con người vẫn có thể tự mình tận lực khống chế, lấy nhân định mà thắng thiên, và từ đó cổ võ cho sự tôn trọng nhân vị, nhân quyền, cho những khát vọng tự nhiên của con người: tự do luyến ái trong chiều hướng cao thượng của thiện căn dẫn đến cần phải có một quan niệm vững vàng về tình yêu và hôn nhân, tự do đòi hỏi công lý, và công bằng xã hội.
Đoạn Trường Tân Thanh gióng lên một tiếng chuông, tiếng nấc nghẹn ngào của người con gái bất hạnh, tiếng kêu khát vọng nhân phẩm, nhân quyền nói chung và nữ quyền nói riêng. Tiếng chuông mới ấy, chính là để nói lên sứ điệp của Nguyễn Du, điều ông chưa tìm được niềm cảm thôNg của xã hội đương thời, đúng như ông đã thổ lộ khi kết thúc bài Tiểu Thanh Độc Ký:
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
(Chẳng biết sau hơn ba thế kỷ
Thiên hạ, ai người khóc Tố Như?
Tiếng chuông mới ấy, chính là tiếng kêu trong tấn bi-kịch được vén mở hạ màn bằng cung đàn Bạc Mệnh. Qua cung đàn này, Kiều đã nói hộ cho Nguyễn-Du sứ-điệp ông muốn loan truyền, cho nên cảm-nghiệm sứ-điệp của ông qua tiếng đàn Kiều, chúng tôi xin kết thúc bằng mấy vần thơ sau đây:
Đàn ai réo-rắt trong sương,
Gieo vào nhân-thế “đoạn-trường tân-thanh”?
Đàn ai ríu-rít yến oanh,
Cho tình xuân mãi tươi xanh muôn đời?