Chương I

Sáng hôm đó, bà Ba Các đang tưới bốn chậu cau kiểng đặt áp bốn gốc cây ngoài mái hiên thì nghe con chim khách hót một dọc lảnh lót trên ngọn cây bông công chúa. Ðiềm có khách quý đến viếng nhà. Bà cười chúm chím, tiếp tục tưới thêm bồn cây lá gấm màu huyết dụ giữa sân và tám nọc trầu ở bên trái vuông sân. Giữa bồn là mấy cây chuối nước, trổ bông màu gạch, bông màu đỏ. Bông kiểng ở khuôn viên chỉ có vậy. Ngoài ra là vườn trồng nhiều thứ chuối, mận và các loại cây ăn trái khác như xoài, ổi, đu đủ, vú sữa, khế, chanh, kim quất… Chèn ơi, hai mẫu vườn tuy chẳng có là bao mà nhờ bàn tay cần mẫn của bà mà cây cối thạnh mậu, bông trái ê hề. Nào chuối sứ mập mạp, chuối chà bôm lửa màu đỏ thén, chuối cau vàng óng thơm ngọt nhứt hạng, chuối lá ngọt dịu, chuối xiêm mẳn thơm ngon… Rồi mận thì nào là mận Thái Lan xanh màu cẩm thạch, mận Bến Tranh màu trắng như men sứ, mận hồng đào Trung Lương màu hường tươi thiệt là tươi, mận da người màu nâu ửng hồng thơm ngọt hơn các giống mận khác, một thứ kỳ trân thổ sản của đất Mỹ Tho.

Nhà bà Ba Các ở gần bến đò nằm trên sống Bảo Ðịnh, thuộc về làng Ðạo Thạnh, cách ga xe lửa Trung Lương chừng 500 thước. Ông Ba Các đã qua đời được bốn năm. Ông vốn là con ngoại hôn của ông Hương cả Ðường.

Số là hồi 50 năm về trước, ông Hương Cả Ðường vào tuổi bốn mươi có tằng tịu với người tớ gái của mình sanh ra cậu Hai Lầu, sau đó mới thêm cậu Ba Các. Tuy là con dòng thứ nhưng hai cậu không được lấy họ cha và không được kế tiếp sắp theo thứ tự hai người con dòng đích là cô Hai Viện và cậu Ba Thất. Khi cậu Hai Lầu 14 tuổi, bà Hai Ngọt, mẹ cậu, qua đời. Cậu liền bỏ nhà nổi trôi theo đám thương hồ ở Bến Chùa. Cậu Ba Các ở với cha và bà đích mẫu, chịu kiếp tôi đòi, bị chửi mắng, đòn bọng như cơm bữa. Sau đó bà Hương cả Ðường qua đời. Năm sau, ông Hương cả cũng theo gót vợ về chầu Diêm chúa. Hai Lầu bị truất phần gia tài, còn Ba Các chỉ được hai mẫu vườn cây cối già háp, còi cọc ở gần bến đò Ðạo Ngạn.

Cô Hai Viện lấy chồng giàu ở Bến Tranh là cậu Hai Giai, con ông Bang biện Dõng. Về sau cậu đắc cử hội đồng địa hạt tỉnh Tân An, cô Hai Viện được dân địa phương và bà con láng giềng gọi là bà Hội đồng Giai, vẻ vang vô cùng.

Cậu Ba Thất cưới cô Tư Thảnh, con gái ông Huyện Thảo ở Bến Tranh, được bên vợ giúp đỡ đắc cử hội đồng quản hạt tỉnh Mỹ Tho trở thành ông Quản hạt Thất.

Con dòng đích trên bước thanh vân thì lên như diều gặp gió, còn hai người con ngoại hôn tuy không đến nỗi nghèo đói nhưng bề sanh sống lúc đầu hơi khó khăn, cảnh nhà lụi xụi. Sau bao năm xuôi ngược bán buôn trên sóng nước bình bồng, lấy cảnh gạo chợ nước sông làm cuộc đời, cậu Hai Lầu dắt người vợ mà cậu quơ bậy quơ bạ dọc đường cùng đề huề về Ðạo Thạnh. Tới nơi cậu mới hay cha mình và bà đích mẫu đã qua đời. Anh chị con dòng đích đều nên danh phận nên tỏ ra lợt lạt với thằng em phiêu bạc hồi hương. Duy có điều an ủi là thằng em ruột của cậu cùng cô vợ đảm đang mới cưới đã có cơ ngơi, lo chăm bón khu vườn mới lập.

Hai anh em ruột gặp nhau, cảm động đến nghẹn ngào ứa nước mắt. Hai người chị em bạn dâu vừa gặp nhau đã có cảm tình với nhau liền. Chiều hôm đó, gió mưa mù mịt, vợ Ba Các mổ gà, làm món nhậu cho anh chồng và chồng mình cụng ly. Rồi đó chung quanh mâm cơm, cả bốn cùng hàn huyên tâm sự.

Ba Các than thở:

– Chị Hội đồng Giai thường dặn tụi em, nếu muốn tới thăm chỉ thì không nên vô phòng khách mà nên vô phía nhà bếp hoặc ngõ sau ngồi chờ. Phòng khách của chỉ là nơi tiếp khách quờn cao tước trượng, tụi em không nên phạm thượng đặt chơn tới. Coi vậy chớ chỉ cũng còn nghĩ tới tình máu mủ. Hồi em bị bịnh ban cua lưỡi trắng, chị được tin liền cho xe chở em ra nhà thương Mỹ Tho, đóng tiền phòng để em nằm điều trị cho tới khi em lành bịnh. Còn anh Quản hạt Thất thì sẵn tính vô tình, lại sợ vợ như sợ bà thánh mẫu nên dù ở gần đây mà không hề lui tới tụi em. Ðã vậy chị Quản hạt còn cấm tụi em léo hánh tới nhà họ.

Vợ Ba Các tiếp lời chồng:

– Em phải kể rõ từ gốc tới ngọn cho anh chị hiểu. Tía em vốn là thày dạy võ và thày bùa Lỗ Ban. Cách đây hai năm, hồi đó anh Ba đây chưa cưới em, anh chị Quản Hạt định cất nhà gần Bến Chùa. Ảnh thương lượng với anh ruột em vốn làm nghề thợ cất sườn nhà lẫn thợ mộc. Ðôi bên đồng ý giá cả và công việc xây cất bắt đầu. Ngặt nỗi chị Quản Hạt ke re cắt rắt, tính tình khắc bạc. Chỉ dọn cơm cho thợ bằng thứ cá lòng tòng lục chốt, đã vậy có lần chỉ còn quơ gà chết toi, vịt chết gió kho sả ớt dọn cho họ. Bọn thợ mộc tuy có bất bình nhưng không đến nỗi oán ghét chỉ. Ngày nào chỉ cũng tới chỗ cất nhà để kiểm soát từng khúc cây, miếng ngói, viên gạch. Anh ruột em ghét lắm nên to nhỏ với đám thợ mộc sao đó, để sáng hôm nọ họ tháo hết chỉ đáy quần trước khi leo lên mái nhà lợp ngói. Chị Quản Hạt y thường lệ, xách dù tới, ngó lên rường nhà kiểm soát. Chèn ơi, ngó tới đâu chỉ cũng gặp mấy anh thợ ngồi vắt vẻo trên mái, đáy quần mở rộng tàng hoạc, bày nguyên đùm lòng thòng lưởi thưởi. Chỉ đỏ mặt tía tai, xách dù ra về. Truy ra cớ sự, chỉ thâm thù ông anh của em lắm. Ðến khi anh Ba Các đây đòi cưới em, chỉ tỏ ra bất bình lắm, ton hót với anh Quản Hạt sao đó nên hôm nhóm họ lẫn hôm rước dâu, cả hai vợ chồng họ không tới dự đám. Mãi cho tới nay, họ tuyệt giao với vợ chồng em luôn.

Vợ chồng Hai Lầu nghe qua vận sự, cười nghiêng ngửa. Sáng hôm sau, cả hai cùng vợ chồng Ba Các thăm thú khắp khuôn viên. Vợ Hai Lầu bảo em chồng và em dâu:

– Cuộc đất của chú thím có hình thế Lý ngư vọng nguyệt. Hai cái ao nằm song song ở gần đầu vườn là cặp mắt của con lý ngư đó đa. Chú thím sanh con gái sẽ tốt hơn sanh con trai. Nguyệt chỉ về con gáiNếu con gái mà sanh vào trung tuần tháng tám là tuần trăng thì quí lắm đó…

Vợ chồng Hai Lầu ở chơi với em độ hai tháng. Hai Lầu mở gói mo cau lấy ra mười lượng vàng cho em, dặn dò:

– Qua thấy cuộc đất của ông Xã Tẩu gần cuộc đất em thuộc thế đất Phụng hoàng chuyển dực. Trong bao năm xuôi ngược giang hồ, qua vừa học võ vừa học nghề địa lý nên biết nhìn thế đất. Em rán nài mua cuộc đất đó đi. Xã Tẩu đâu biết mình có cuộc đất quí, lại dọn về chợ Mỹ Tho buôn gạo, bỏ đất hoang vu.

Ba Các bảo:

– Em sẽ mua cuộc đất đó cho anh chị. Biết đâu mai sau chán ngán nghề thương hồ, anh chị sẽ về trụ ở đây cho anh em mình được gần nhau.

Vợ Hai Lầu cười:

– Chừng đó sẽ hay. Việc đời biết sao mà lường được! Có điều tui yêu cầu chú thím sau khi mua đất xong nên dời hài cốt má về mai táng, năm năm sau sẽ thấy điềm lạ ứng nghiệm.

Rồi vợ chồng Hai Lầu lại ra đi. Sáu năm sau, Hai Lầu mắc bịnh thời khí, bỏ mình trên kinh xáng Xà No. Vợ anh ta chở quan tài chồng về Ðạo Thạnh mai táng. Ði theo chị ta là một cô gái nhỏ 8 tuổi, mặt mũi xinh đẹp và một bé trai tuổi mới lên năm rất dễ thương. Vợ Hai Lầu khóc:

– Chồng tui trước khi chết dặn tui đem thi hài ảnh về chôn trong cuộc đất Phụng hoàng chuyển dực. Có vậy thằng con trai tụi tui mới có thể như con chim phụng quạt cánh tung bay. Còn con nhỏ nầy là con người bạn chí thân của ảnh. Hồi 4 tuổi nó mồi côi cha lẫn mẹ nên vợ chồng tui nuôi nó làm con.

Chôn cất chồng xong, vợ Hai Lầu đợi tới tuần bách nhựt cho chồng mới từ giã em chồng và em dâu:

– Tui còn khoẻ mạnh nên tính đi thương hồ một thời gian nữa. Xin chú thím nuôi giùm hai đứa nhỏ của vợ chồng tui. Tui không muốn tụi nó theo tui mà lỡ dở việc học hành.

Vậy là vợ chồng Hai Các nuôi cháu làm con. Ðứa con gái nuôi của ông Hai Lầu tên Hai Ngọc Dung, con trai là Ba Ngọc Toản. Hai đứa con gái của ông Ba Các được sắp thứ tự kế theo, đó là cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga, hai chị em song sanh.

Bà Hai Lầu từ khi Ba Ngọc Toản lên 10 không về Ðạo Thạnh vào dịp Tết năm đó. Rồi bẵng cho tới nay, Hai Ngọc Dung được 20 tuổi, Ba Ngọc Toản 17 tuổi, hai chị em Tư Ngọc Nhan và út Ngọc Nga 16 tuổi, bà Hai Lầu đã trở thành bóng chim tăm cá đối với gia đình ông Ba Các.

Ông Ba Các hồi sanh tiền thường đón các ghe thương hồ hỏi thăm tin tức chị dâu nhưng chẳng ai biết bà Hai Lầu còn sống hay chết, và nếu còn sống thì trôi giạt tận chân trời góc biển nào.

Cô Hai Ngọc Dung càng lớn càng xinh đẹp nết na, chỉ học tới năm thứ hai ban trung học rồi nghỉ ở nhà phụ giúp việc nhà. Cậu Ba Ngọc Toản còn một năm nữa thi bằng thành chung. Hai cô Nhan, Nga học giỏi, thi đậu vào trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho.

Bà Hội đồng Giai ăn ở với chồng không con, năm 40 tuổi bị bịnh hoại huyết mà lìa đời. Còn ông bà Quản hạt Thất thì có ba người con, hai trai một gái. Suốt mười năm qua, họ sống an ổn trong ngôi nhà ở gần Bến Chùa. Hai ông bà gắt gao với tá điền tá thổ, ưa đày xắc đánh chửi tôi tớ. Ðã vậy ông còn ăn hối lộ, đi bao kiện. Còn bà thì hùn hạp nhà chứa điếm ở gần ga xe lửa Trung Lương và làm nghề phá thai lậu. Do đó mà họ càng lúc càng giàu. Nhưng từ khi ông ăn bẩn, bà làm chuyện thất đức thì trong nhà họ bắt đầu có vài biến cố đáng sợ. Vào mùa nắng, không hiểu vì sao cây đòn dông ở nhà giữa rịn nước. Ðã vậy ban đêm có tiếng dây lòi tói khua rổn rảng bên hông trái, chỗ sắp dãy lu bầu đựng nước mưa. Chưa hết, một hôm nọ, cô út Thiên Kim, con gái độc nhứt của bà, quét nhà, tìm thấy những thẻ tre có viết chữ bùa ngoằn ngoèo dưới ngạch cửa hông.

Ðó rồi một hôm về nhà ông Hương bộ Khâm, anh ruột mình, bà Ba Các hỏi:

– Nè anh Hai, em hỏi anh phải nói thiệt. Vậy chớ hồi cất nhà anh Quản hạt Thất, anh có ếm bùa Lỗ Ban hay không?

Ông Hương bộ Khâm chau mày:

– Tui nói thiệt với cô nó, bất cứ thợ mộc nào cất nhà cho kẻ khác, cũng ếm chút đỉnh bùa Lỗ Ban, nếu không bùa sẽ hành bịnh mình. Kỳ cất nhà ông Quản hạt, tui chỉ ếm nhẹ cho lũ chó nuôi trong nhà sủa ma mỗi canh một chặp. Tui không dám ếm mạnh bất cứ nhà nào, cốt để đức cho con cái. Bùa ếm chỉ có hiệu lực một năm mà thôi. Ngặt vì lúc thợ làm nhà, bà Quản hạt khe khắt với thợ khiến họ oán ghét. Tất cả năm thằng thợ, đứa nào cũng già tay ấn. Cách cư xử thiếu tình cảm của bả chắc chắn đã khiến tụi nó ếm mạnh tay chớ chẳng không.

Bà Hương bộ Khâm têm trầu nhai chóc chách, bảo cô em chồng:

– Tui đã nói với cô nó nhiều lần rồi. Bà Quản hạt Thất hồi còn nhỏ có mụ vú gốc Miên biết đủ thứ bùa phép, thư ếm. Mụ vú nầy truyền dạy các món ác đức đó cho bả. Cô nó không thấy hay sao, bả xấu ỉn như vậy mà chài được tấm chồng bảnh trai như ông Quản hạt. Nghe nói bả còn biết bào chế dầu thơm và rượu ướp ngải, ướp bùa yêu. Nếu mình muốn chim ai, cứ viết tên mình lên giấy vàng bạc rồi đốt ra tro hoà với rượu cho đương sự uống hoặc trộn với dầu thơm cho đương sự xức làm đương sự sẽ mê say, bám sát mình, trời gầm cũng không nhả.

Bà Hương bộ Khâm xuống bếp, chừng giập bã trầu trở lên cùng với một người đờn bà tuổi ngũ tuần, vóc dáng phương phi, vẻ mặt hiền hậu. Bà Hương bộ bảo bà khách lạ:

– Nè chị Giáo, đâu chị thuật lại chuyện xưa giữa chị với ông Quản hạt Thất cho cô sắp nhỏ nghe chơi.

Bà khách bước lên bộ ván gõ, vén vạt áo xuyến trắng ngồi gần ô đồng bạch đựng trầu cau. Bà cũng têm trầu nhai rồi hưởn đãi bảo bà Ba Các:

– Té ra bà Ba đây là em dâu ông Quản hạt! Thưa bà, tui vốn gốc gác ở Thủ Thừa, theo con trai tui về đây được nửa năm nay. Con trai tui là Hớn, dạy lớp nhứt trường tiểu học Trung Lương. Số là hồi 16 tuổi, tía tui là ông Hương chủ Chiếm có hứa gả tui cho cậu Ba Thất. Lúc đó ông Hương cả Ðường mần ăn thất bại, phải bán ruộng bán vườn. Tía tui thấy cậu Ba Thất học giỏi nên có bụng thương, chẳng những hứa gả tui mà còn giúp đỡ ông Hương cả kinh doanh để chuộc lại ruộng đất và giúp cậu Ba ăn học thành tài. Khi họ toại nguyện về tài lộc và công danh rồi, ông Hương cả Ðường liền lui tới chốn giàu sang chức phận, nhứt là kết giao với ông Huyện Thảo. Ông Huyện nầy có cô con gái lớn tên Thảnh vừa xấu vừa dữ, muốn dụ dỗ cậu Ba Thất để gả cô Thảnh cho cẩu. Ông Hương cả Ðường thấy chỗ giàu sang liền tối mắt, còn cậu Ba Thất muốn tiến thân trên hoạn lộ, bởi đó mà tui bị hồi hôn. Duyên phận tui lỡ dở, tui đã tự vận xém chết mấy lần. Sau đó tui được một thầy giáo làng có bụng thương xót, cưới tui làm vợ nên tui cũng bớt buồn. Lần hồi vợ chồng tâm đầu ý hiệp, tui cũng quên chuyện bội ước của họ để vui sống với chồng con. Chồng tui mãn phần cách đây 5 năm.

Từ đó bà Giáo Toàn thường lui tới bà Ba Các. Sau bao phen tâm sự, cả hai kết nghĩa chị em. Bà Ba Các than thở với bạn:

– Mẹ chồng em hồi còn sanh tiền chịu trăm cay ngàn đắng bởi bà má lớn của chồng em. Mấy người đó sanh ra là để hưởng phước, hưởng lộc. Thằng con lớn của anh Quản hạt thì học trường thuốc tận ngoài Hà Nội, làm quan thày thuốc. Thằng kế thì học trường thày kiện rồi làm thày kiện, vẻ vang cho gia đình biết mấy! Con út Thiên Kim mai mốt sẽ được làm bà kỹ sư, rạng mày nở mặt với chị em họ hàng.

Bà Giáo Toàn trầm ngâm:

– Tui ở Thủ Thừa nhưng cũng biết cậu thày thuốc Hữu Thạnh không hiền. Cẩu giao du với cậu Kinh lý Thận rồi thấy vợ bạn có bóng sắc nên cướp vợ bạn. Ít lâu sau cậu Kinh lý Thận chết một cách khó hiểu. Tía má cậu Kinh lý Thận vốn dân làm ruộng, tuy dư ăn dư để nhưng không quen biết chốn quyền môn nên không dám thưa kiện. Còn cậu thày kiện Hữu Vượng tò tí với vợ góa ông Ðốc học Bào ở Tân An lớn hơn cẩu tới 10 tuổi nhưng có bóng sắc chói chan. Chớ tưởng vậy là rồi việc đâu nghen! Cẩu thấy cô Thoại Hảo, con bà Ðốc học vừa mới lớn, đang mơn mởn đào tơ nên cẩu cũng xên luôn. Còn cô út Thiên Kim, như thím thấy đó, hồi hôn bội ước với cậu Bảy Trinh Tường để đính hôn với ông Kỹ sư Oanh. Tội nghiệp cậu Bảy, sau ba năm ở rể, lo việc trong ngoài cho ông Quản hạt Thất, giờ bị hất cẳng ra ngoài. Bị vố đó nên cẩu lững đững lờ đờ như ốc mượn hồn, tội nghiệp quá!

Bà Hương bộ Khâm thở dài:

– Bởi phước đức của họ tích lũy từ bao kiếp trước nên giờ đây gia đạo họ hưng thạnh. Nhưng họ không biết gây nhơn lành mà cứ làm chuyện ác đức khiến phước báo họ cạn mỏng dần. Tới lúc áo báo hiện hành, chẳng những bùa Lỗ Ban đã từng trù ếm họ lộng hành mà ma quỉ sẽ thừa cơ sách nhiễu họ.

*

*  *

Tưới bông và trầu xong, bà Ba Các vô nhà. Hai cô Tư và út đang ngồi rọc lá chuối, lau lá vông để gói nem, gói bì. Tuần tới là đám giỗ mẹ chồng bà. Ngoài ra cô Hai Ngọc Dung còn học bà cụ Chiêm người Huế món tré và món bánh ít lá gai. Sáng nay cô Hai gói tré. Còn bánh ít lá gai, bánh qui, bánh dừa, bánh tét nước tro phải gói trước ngày giỗ hai hôm vì mấy thứ bánh này để lâu dễ bị thiu.

Bà Ba Các hỏi hai cô con gái:

– Anh Ba bây đâu rồi?

Cô út Ngọc Nga nói:

– Ảnh ra tắm ở ao.

Bà dặn hai cô con gái cưng:

– Nó là con trai nên tắm ao không sao. Còn tụi bây với chị Hai bây là phận gái, mình mẩy mỗi tháng ô uế vì kinh nguyệt, nếu chị em bây mà tắm trong ao thì ao hết linh, nghe chưa? Tụi bây chỉ nên xách nước ao lên tắm gội cho trắng da dài tóc. Nước tắm nước giặt phải đổ ra rạch ra mương chớ đừng đổ lộn trở về ao. Hai cái ao nầy ở trong thế đất lý ngư vọng nguyệt, chúng là con mắt của con lý ngư đó đa!

Cô Tư Ngọc Nhan cười chúm chím bảo mẹ:

– Má coi con đây có trắng da dài tóc hay không? Chèn ơi, ai cũng nói con đẹp như Nam Phương hoàng hậu ráo trọi.

Cô út Ngọc Nga hỏi:

– Ai nói vậy? Chắc là mấy người đó chưa gặp em…

Cô Hai Ngọc Dung từ dưới bếp bưng mâm cháo lên, nguýt hai con em xí xọn:

– Thôi thôi, bây đừng có cà khịa với nhau. Nếu con nầy là Ðoàn Hồng Ngọc thì con nọ là Vương Lan Anh trong Ngũ Hổ Bình Tây. Nếu một con là Tây Thi thì một con là Trịnh Ðán trong Ðông Châu liệt quốc. Chị nói vậy bây có vừa lòng chưa?

Nếu cô Tư và cô út trắng như dừa nạo thì cô Hai Ngọc Dung trắng vừa phải. Nếu hai cô em đẹp sắc sảo thì cô chị đẹp đoan trang thùy mị.

Mâm điểm tâm gồm có cháo trắng ăn với cá bống cát kho tiêu, khô sặt nướng xé tơi và món dưa mắm trộn tỏi ớt. Ngoài ra còn có rổ khoai lang và khoai mì luộc.

Cô Hai Ngọc Dung hỏi thím dâu:

– Thưa má Ba, hồi hôm con nằm chiêm bao thấy mình cắn một khúc dồi heo, vừa cắn đứt xong thì hai miếng rời lại xáp lại dính liền nhau như chưa hề bị cắn. Chẳng biết là điềm gì đây?

Bà Ba Các mỉm cười:

– Con tưởng má Ba đây lão thông sách vở lắm sao? Phải đợi thằng con em tắm xong vô đây rồi nhờ nó đoán điềm giải mộng giùm cho. Nó ưa đọc truyện Tàu, thuộc nhiều điển tích, chắc sẽ biết đây là điềm gì.

Cô út cười:

– Theo con, chẳng có điềm gì ráo trọi. Chị Hai con mê món cháo lòng bán ngoài chợ Trung Lương nên đêm đêm chiêm bao thấy khúc dồi chớ có gì lạ đâu mà phải bàn!

Cậu Ba Ngọc Toản từ ngoài bước vào, ăn mặc tề chỉnh, đầu chải bảy ba. Cậu trắng trẻo hồng hào, cứng cáp khoẻ mạnh. Thấy cả nhà ngồi vào bàn đang đợi mình, Ba Ngọc Toản bảo thím dâu:

– Con xin phép má Ba cho con cỡi xe đạp đi Cai Lậy chơi vài ngày.

Bà Ba Các chau mày:

– Nắng nôi như vầy con đi làm chi?

Cô Tư Ngọc Nhan bàn vô:

– Anh con sức trai đang lớn, vật bò bò té, vật trâu trâu quÿ, hơi sức đâu mà má lo! Má cứ để ảnh đi chơi, ngày tựu trường hãy còn lâu, ở nhà hoài ảnh tù túng, chịu sao thấu!

Cậu Ba Ngọc Toản cười:

– Con nhỏ nầy nói nghe được.

Bà Ba Các nói xuôi:

– Ừ, con muốn đi thì đi. Nhưng mà chị Hai con đêm qua nằm chiêm bao thấy cắn khúc dồi heo, dồi đứt hai rồi lại ráp liền như cũ. Ðâu, con đoán thử coi là điềm gì đây?

Cậu Ba tròn mắt ngạc nhiên:

– Lạ dữ không! Hồi hôm con nằm chiêm bao cũng thấy y chang như vậy đó!

Cô Hai bảo em:

– Má Ba cứ khen em đọc nhiều truyện Tàu, lão thông chuyện hay tích lạ. Em rán đoán thử coi điềm gì!

Ba Ngọc Toản cắm cúi ăn cháo, nhưng sắc mặt lộ vẻ suy nghĩ lung lắm. Qua chén thứ ba, cậu nói:

– Trong cuốn Vạn Huê Lầu, bà Thái hậu Ðịch Thiên Kim nằm chiêm bao thấy mình cắn miếng chả, miếng chả đứt làm hai nhưng lạ thay miếng chả lộn xương làm nướu răng bả bị phạm, khiến bả đau đớn lắm. Tới khi nhìn lại, bả thấy miếng chả liền lạc như chưa hề bị ăn. Bả liền mời ông Khấu Ngươn coi về tinh tượng học ở toà Khâm Thiên Giám. Ông nầy đoán rằng xương thịt miếng chả đã đứt mà lại liền, tức là điềm những kẻ ruột thịt sau bao năm xa cách chia lìa, nay sắp được trùng phùng. Ðó rồi ngày hôm sau, bả gặp lại thằng cháu Ðịch Thanh kêu bả bằng cô sau 18 năm trời thất lạc. Ðây chắc là điềm má tụi mình sắp về đây tái hiệp với tụi mình.

Cô út Ngọc Nga ngứa miệng:

– Khúc dồi gồm có ruột heo dồn thịt heo bằm, nó không tượng trưng cho ruột thịt thì cho giống gì đây?

Ðang lúc đó bà Ba Các thấy một bà khách lạ mặc áo màu dà từ ngoài cổng bước vào sân. Mà lạ lùng thay, con chó vện già nua dữ tợn đáng lẽ phải sủa rùm lên thì nó chỉ hực hực mấy tiếng rồi bổ nhào tới bà khách, vẫy đuôi mừng rỡ.

Cô Tư Ngọc Nhan la lên:

– Chèn ơi, cả nhà ơi, má Hai về kia cà!

Bà Ba Các cũng la theo:

– Ðúng rồi, chị dâu tao về đó đa!

Cô Hai Ngọc Dung buông đũa chạy ra sân, bổ nhào vào mẹ nuôi vừa khóc vừa bệu bạo:

– Chèn ơi, má đi đâu mà biệt tăm biệt tích suốt 12 năm vậy? Con tưởng đâu má bỏ xác dọc đường rồi!

Cậu Ba Ngọc Toản cũng chạy ra mừng mẹ, nước mắt chan hoà. Bà Ba Các bảo bà Hai Lầu:

– Mừng chị bình an trở về, thiệt khác nào tái sanh tương hội. Chị ôi, khi chồng em còn sống, hễ gặp ghe thương hồ nào qua đây ảnh cũng cầu may hỏi thăm tin chị, nhưng chẳng ai biết hết!

Bà Hai Lầu không già hơn trước bao nhiêu. Bà cũng vui mừng, cũng cảm động nhưng không khóc. Bà bảo em bạn dâu:

– Tui về đây cất am tu hành, trụ luôn tại cuộc đất nầy.

Bà Ba Các mời chị dâu vào nhà, trải chiếu bông, bày gối ống trên bộ ván cẩm lai để bà nghỉ mệt. Cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga bước lại mừng bác dâu. Bà Hai Lầu vui vẻ:

– Hai con nhỏ nầy trổ mã coi được đến. Chẳng hay thím đã hứa gả tụi nó cho ai chưa?

Bà Ba Các lắc đầu, cười:

– Em chờ tụi nó thi bằng thành chung rồi mới tính. Còn con Hai có vài đám đánh tiếng nhưng nó chê là chỗ thiếu đạo đức.

Bà Hai Lầu bảo cô Tư và cô út:

– Hai đứa bây ra ngoài bến mời thím Chín chèo ghe lên đây nghỉ ngơi. Luôn tiện, bây lấy hành lý giùm má Hai luôn.

Bà Ba Các đem khay trầu lại bộ ván cẩm lai. Vừa lúc đó cô Hai Ngọc Dung từ dưới bếp xách bình trà lên. Bà Hai Lầu bảo:

– Con dọn cơm chay cho má và thím Chín Hiệp ăn. Chỉ cần chén nước tương và dĩa rau luộc là đủ.

Bà Ba Các nói:

– Ở đây gần lò tương, nơi làm tàu hũ và giá sống. Mà chợ Trung Lương cũng chẳng xa xôi gì. Ðể em sai tụi nó đi chợ dọn bữa cơm chay thiệt ngon đãi khách và chị. Luôn tiện em cũng ăn chay với chị cho vui.

Thím Chín Hiệp tuổi ngoại tứ tuần, mặt mũi hiền lành nhưng vóc dáng ô dề thô kệch. Vừa thấy khách, bà Ba Các liền mời uống nước ăn trầu. Bà cũng không quên thuật chuyện con chim khách hót trên cây bông công chúa và điềm chiêm bao của cô Hai cùng cậu Ba mà bà yêu quí như trưởng nam của mình.

Bà Hai Lầu nhìn con trai với ánh mắt hân hoan, âu yếm. Bà quay về phía em bạn dâu:

– Bảy năm trước, lần đi viếng đền thờ Bà Chúa Xứ ở Vồ Bà, một chỏm cao trong năm chỏm trên núi Cấm, tui gặp tía má nuôi của tui, hiện tu ở chùa Bồng Lai xã Nhơn Phước, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Ðốc. Chùa nầy do ông Phạm Thái Chung tức ông Ðạo Lập đứng ra quyên tiền bá tánh xây cất. Tía má nuôi tui là đệ tử của ổng nên giỏi bùa Lỗ Ban, tu theo pháp môn Mật Tông. Ðược biết tui goá chồng, có chỗ gởi con ăn học nên ổng bả rủ tui tu với họ. Năm sau, có ông đạo Hy Mã từ núi Cô Tô xuống chùa Bồng Lai vãng cảnh, gặp tui. Ổng dạy tui một mớ thần chú và cách đọc tụng cùng phép hoá giải bùa chú và phép trừ yêu quái. Sau đó ổng về núi Cô Tô rồi đi đâu mất. Mới đây tui nhận được thơ ổng gởi từ Ấn Ðộ, biểu tui nên về quê chồng cất am để hoằng pháp cứu độ đời. Chồng thím Chín Hiệp đây là đệ tử của tía má nuôi tui. Từ khi chồng chết, thím ở với tía má nuôi tui, rồi má nuôi tui giờ đây ký thác thím cho tui.

Bà Ba Các vui mừng:

– Chị về đây hiệp cùng em dạy dỗ lũ con lũ cháu là em mừng. Chi bằng chị cùng thím Chín đây ở chung với cả nhà có hơn không?

Bà Hai Lầu lắc đầu:

– Tui cần có am để thờ Phật Mẫu Chuẩn Ðề và lập kính đàn. Chỗ thờ phụng phải tinh khiết, người chủ am phải thân tâm trong sạch. Ở đây, thím và lũ nhỏ ăn mặn, lại nữa tụi con gái có kinh nguyệt hàng tháng thì làm sao chỗ ở tinh khiết cho được! Tui có dành dụm được hai chục lượng vàng, sẽ trích một nửa lập am, một nửa chi dụng chỗ tiếp đãi khách hành hương vãn cảnh.

Bà Ba Các bảo:

– Nhờ ơn Trời Phật nên huê lợi trong vườn rất thạnh. Nếu chị cần thêm tiền bạc xin cho em biết. Huê lợi bên miếng đất anh chị mua cho có phần trội hơn miếng đất do tía chồng mình để lại. Ba sắp nhỏ nhờ chí thú mần ăn nên sắm thêm được dây ruộng gò hai chục mẫu ở xóm Tre. Còn riêng em vựa than củi, nước mắm, nước tương, gạo nên cũng đủ xây xài.

Bà Hai Lầu có vẻ suy nghĩ:

– Tui không đụng tới tiền do huê lợi miếng đất Phụng hoàng chuyển dực đâu. Chồng tui đã tặng đứt nó cho chú thím rồi. Bấy lâu nay, chú thím nuôi con Hai thằng Ba, ơn đó tui không dám quên. Tui về đây cốt giúp cả nhà trau tria phần tâm linh, chớ đâu nghĩ tới chuyện gì khác.

Cô Tư và cô út đem hành lý của bà Hai Lầu và thím Chín Hiệp lên nhà rồi sửa soạn đi chợ mua đồ chay. Thím Chín Hiệp nhìn mặt trời sắp leo lên đỉnh ngọ, bảo:

– Dưới ghe còn một ít mì căn, tàu hũ, nấm tràm và dầu phọng. Ðể tui ra vườn coi có rau chi hái đem về.

Bà Ba Các lấy tờ giấy bạc hai chục in hình con công đưa cho con gái, dặn:

– Hai chị em bây nhớ mua tương, chao, dầu phọng cho nhiều để dự trữ trong nhà. Nhớ ghé bác Giáo Toàn mời bác chiều nay qua dùng cơm rồi ngủ luôn đây để bác đàm đạo cùng má Hai tụi bây.

Ðợi thím Chín Hiệp và lũ con cháu đi khuất, bà Hai Lầu nhỏ giọng bảo bà Ba Các:

– Vùng đất nầy đang thạnh yêu khí, tà khí. Chị Quản hạt Thất kết giao với bọn tả đạo bàng môn, làm tôi tớ cho quỉ ma cho nên ông đạo Hy Mã mới khuyên tui về đây độ sanh cho kẻ hiền lương, đạo đức. Bởi vậy thím rán lo thành lập am càng sớm càng tốt.

Bà Ba Các bảo:

– Ðể em qua xóm Ống Cống nói cho thằng cháu kêu em bằng cô là Xã Huề biết. Trước kia anh Hai Khâm, tía nó, làm thợ mộc, thợ cất sườn nhà. Từ khi giữ chức Hương bộ trong ban hương chức hội tề trong làng, ảnh truyền nghề cho nó để có thêm thời giờ coi sóc vườn tược và lo việc làng.

Khi mặt trời đứng bóng, cô Hai Ngọc Dung bưng mâm cơm mặn đặt trên chiếc bàn tròn, còn thím Chín Hiệp bưng mâm cơm chay đặt trên bộ ván cẩm lai. Mâm mặn gồm có canh chua tép bạc nấu với rau nhút và bông súng, cá bống dừa kho nước đặc sền sệt bát ngát mùi tiêu hành, món thịt gà xào sả ớt. Mâm chay cũng tươm tất lắm, gồm món xác đậu hũ xào giá sống, rải lá cách xắt nhuyễn, món nấm tràm kho tiêu, món bông bí và đọt bí luộc chấm tương hột, món canh rau tập tàng nấu với nấm rơm.

Ngoài bãi xa, chim bìm bịp kêu báo hiệu nước lớn. Khi bữa cơm trưa vừa xong thì bà Hương bộ Khâm đầu đội khăn rằn đen, tay che dù đen, tay ôm quả bánh tới viếng. Vừa gặp bà Hai Lầu, bà ứa nước mắt:

– Ai dè tui có ngày gặp lại chị, tưởng như chiêm bao vậy đó!

Bà quay qua cô Hai Ngọc Dung:

– Cháu lấy bánh bò nướng trong quả bày ra dĩa cho hai má cháu và cả nhà dùng.

Rồi bà than với bà Ba Các:

– Con dâu tui hồi hôm nổi cơn suyễn, không nằm được, phải ngồi dựa vách. Chồng nó có rước thầy Tám Chiến hốt thuốc cho nó mà coi bộ không ăn thua gì, nó vẫn thở khò khè khọt khẹt, thiệt tội nghiệp quá! Thôi, tui phải về. Nhà neo người, giờ đây nó ngã bịnh, tui bận đầu tắt mặt tối!

Bà Hai Lầu nói:

– Bịnh suyễn là bịnh nan y, theo con nước mà phát tác. Thôi thì tui xin trổ chút tài mọn trị thử cho cháu một phen. Vậy chị ngồi chờ tui một chút.

Bà sai thím Chín Hiệp hái chín lá chanh non sắp lên dĩa bày trên bàn thờ đức Quán Thế Âm rồi rửa mặt, súc miệng, chải đầu, mặc áo dài tử tế. Ðoạn bà đốt đèn, thắp nhang trầm, lấy chiếc kiếng tròn từ trong rương ra bày lên bàn Phật, đọc 108 biến Phật mẫu chuẩn đề đà-la-ni và cùng vài mật chú khác nữa. Xong xả, bà đặt dĩa đựng chín lá chanh non vào quả bánh của bà Hương bộ Khâm, dặn:

– Chị đem lá chanh nầy về chưng với nước mưa và đường phèn cho con dâu chị uống, bịnh trạng sẽ dứt tuyệt.

Khi bà Hương bộ Khâm về rồi thì nước lớn từ sông Bảo Ðịnh dồn vào khe vào ngòi, vào ao bàu, lung vũng tràn trề. Vừng kim ô vừa gác bụi tre, mây hồng, mây màu cam chói lọi ở phương tây. Cô Hai Ngọc Dung xách chiếc nồi đồng, đong gạo nấu cơm.

Bà Hai Lầu bảo cậu Ba:

– Con hiệp sức với thím Chín kéo ghe lên bờ, tháo mui ra lật úp ghe để mai trét chai vô mấy lỗ mọt.

Cậu Ba vưng lời mẹ, cùng thím Chín ra ngoài bến sông. Vì bà Giáo Toàn sắp lại chơi nên cô Tư bày bánh trái ra dĩa và chùi chiếc ấm đồng đỏ để nấu sâm thang. Cô út ra vườn chọn một cây mía lau róc vỏ và cắt khúc cỡ nửa gang tay. Cô cũng hái một mớ rau má, một mớ lá mã đề. Vậy là cùng với mớ rễ tranh phơi khô, cả nhà sẽ có món sâm thang giải nhiệt.

Khi cô Tư từ sàn nước đem chiếc ấm đồng sáng loáng vào bếp, cô Hai Ngọc Dung bảo:

– Chị nấu xong nồi nước bồ kết rồi đó. Em rủ con út hái chanh gội đầu cho trơn tóc. Hôm nay nước trong ao đục quá nên chị dùng nước mưa vậy.

Từ nhà trên nghe biết, bà Ba Các bước xuống bếp hỏi:

– Chắc thằng Ba bơi lội trong ao nên nước ao đục chớ gì?

Cô Hai lắc đầu:

– Không phải đâu má Ba ơi! Mới nãy con rầy nó lội xuống ao làm chi cho nước ao nổi bùn thì nó nói rằng ba hôm rày nước ao đục ngàu nên hồi nãy nó tắm ngoài xẻo rạch.

Cô Tư thắc mắc:

– Kỳ chưa! Hai cái ao đó từ hồi nào tới giờ nước trong vắt quanh năm. Vào mùa mưa, nước sông rạch dẫu có đục ngầu nhưng hễ theo lỗ mội tuôn vào ao là trở thành trong văn vắt như mắt mèo, nhìn tới tận đáy.

Bà Hai Lầu bảo nhỏ em dâu:

– Ðiềm bất thường nầy coi bộ không nhỏ đâu. Thím cùng tui ra ngoài ao coi sự thể ra sao.

Hai bà tất tả men theo con đường rải ngói vụn viền cây đinh lăng, cây mít kiểng, cây lẻ bạn đưa tới hai cái ao linh kia. Chung quanh mỗi ao, thuở sanh tiền ông Ba Các có tấn đá ong, chỉ chừa một khoảng để bắc cầu nhủi. Nhờ cầu nhủi nầy mà cô Hai và cậu Ba vẫn gánh nước về nhà tắm. Ngoài vòng đá ong, những cây gừa chìa nhánh buông rũ xuống mặt nước. Trong ao, những lá súng tròn trải trên gương nước. Quả nhiên như lời cô Hai Ngọc Dung nói, nước ao đục ngầu, thỉnh thoảng sủi bong bóng kèm theo tiếng ục ục sôi râm ran.

Bà Hai Lầu quan sát ao và chung quanh cuộc đất, kinh hãi bảo em dâu:

– Có kẻ ếm hai chiếc ao linh nầy!           Bà Ba Các run giọng:

– Có cách nào giải ếm không chị?

Bà Hai Lầu trầm ngâm:

– Ao mới đục từ ba hôm nay, như vậy chưa tới nỗi nào. Nếu quá bảy ngày thì không có cách nào cứu chữa được…

Bà nhìn những khóm lác, khóm ô rô dưới bậc đá ong, rồi vạch bảy chỗ, nhổ bảy chiếc cọc sắt đóng chung quanh ao. Mỗi cọc có vẽ bùa ngoằn ngoèo bằng sơn đỏ.

Bà Ba Các ngạc nhiên một cách thích thú lẫn khâm phục. Bà hỏi chị dâu:

– Sao chị tìm thấy ngay mấy cọc ếm nầy hay vậy?

Bà Hai Lầu cười vui vẻ:

– Ðó là nhờ cặp mắt… đặc biệt của tui. Mỗi cọc sắt nầy có bốc khí yêu, chỗ cắm xuống nước lại nổi bọt lăn tăn. Kẻ ếm bùa nầy cũng không cao tay gì mấy!

Bà Ba Các hỏi:

– Bây giờ chị làm cách nào tìm kẻ ếm đây?

Bà Hai Lầu săm soi từng cọc sắt:

– Phải tìm nó, hoàn lại nó để từ rày về sau nó không dám léo hánh tới đây. Tui thấy yêu khí toả trên các cọc sắt nầy có sắc màu, giống hình tướng bên chị Quản hạt Thất. Tìm kẻ ếm không khó đâu, nhưng tui muốn chuyện ếm đối nầy chỉ có thím và tui biết thôi.

Ðang lúc đó, cậu Ba Ngọc Toản từ trong nhà chạy ra thưa:

– Thưa hai má, có bác Giáo Toàn tới.

Hai bà chầm chậm trở về nhà. Bà Ba Các bảo chị dâu:

– Chị Giáo Toàn có thằng con trai dạy lớp nhứt trường tiểu học ngoài chợ Trung Lương. Nó có tướng tá phải trang hảo hớn, cách cư xử phải thế kẻ hiền lương. Chị Giáo thấy con Hai nhà mình nết na, duyên dáng mềm mỏng nên chỉ muốn cưới nó cho con trai chỉ. Nhưng em nói để thong thả đã, trong vòng hai năm nếu chị không trở về thì em mới gả chồng cho con Hai.

Bà Hai Lầu nắm tay em dâu:

– Con tui cũng là con thím. Hễ thím nhắm chỗ nào gả được thì cứ tự tiện, đợi tui về làm gì!

Bà Giáo Toàn qua chơi không quên mang theo giỏ chất đầy trái cây đương mùa như lôm chôm, bòn bon, măng cụt. Tuy mới gặp bà Hai Lầu lần đầu mà bà tỏ ra thân ái lắm. Ðược biết chiều nay bà Ba Các ăn chay cùng chị dâu nên bà cũng xin ăn chay theo.

Khi trời vừa tắt nắng, cô Tư Ngọc Nhan từ ngoài ao bước vào, báo cáo:

– Nước ở ao bây giờ trong như lộng kiếng vậy.

Bà Ba Các nhìn chị dâu cười ngỏn ngoẻn rồi bảo con gái:

– Ừ, nước hết đục tới trong, đời hết buồn tới vui…

Ba cô Ngọc nhìn nhau thắc mắc, nhưng thấy nét mặt nghiêm nghị của bà, không ai nói thêm điều gì.

Cậu Ba Ngọc Toản thắp đèn nhang trước khi ngồi vào mâm cơm mặn. Bên ngoài, trời tối mịt. Trên những cây bần dọc theo sông, bầy đom đóm chớp tắt liên hồi. Cây nguyệt quới bên hông nhà bắt đầu toả hương thơm ngát.

Bà Hai Lầu bảo em dâu:

– Tối nay tui sẽ tụng phẩm Phổ Môn rồi kể chuyện cứu khổ độ sanh của đức Phật cho cả nhà nghe. Thím Chín hãy coi việc trà nước.

Bà Giáo Toàn mừng rỡ:

– Trót hai tháng nay, bởi bận việc lu bù nên tui không có thời giờ tụng kinh. Lát nữa được nghe tụng thì may mắn cho tui biết chừng nào.

Ðầu canh hai, bóng trăng thượng huyền méo xẹo méo xọ leo lên khỏi rặng cây từ sân nhà. Trên nền trời chàm đậm, sao đêm in những chấm nhấp nháy. Bây giờ mấy khóm dạ lý bên bờ rào bắt đầu tỏa hương.

Giữa lúc mọi người chuẩn bị hương đăng trà quả để bà Hai Lầu tụng phẩm Phổ Môn thì Xã Huề, con ông Hương bộ Khâm, thắp đuốc tới chơi. Anh ta mang theo trái mít nghệ, vui vẻ nói:

– Thưa bác Hai, thưa bác Giáo, thưa cô, má cháu đem chín lá chanh về chưng đường phèn với nước mưa cho vợ cháu uống. Nó vừa nuốt xong khỏi cổ là đờm nhớt trong họng nó tuôn ra một đống. Do đó nó thở được nhẹ nhàng và ngủ được một giấc ngắn. Tỉnh dậy nó đòi ăn cháo. Bây giờ nó khoẻ khoắn như chầu xưa rồi. Bởi đó má cháu sai cháu đem trái mít nầy cho hai bác và cô cùng cả nhà ăn chơi. Sáng mai má cháu dắt vợ cháu tới đây tạ ơn bác Hai.

Bà Ba Các khuyên Xã Huề ở lại để nghe kinh. Khi xong phần tụng, cô Hai dọn cháo chay lên mời mọi người giải lao. Trước khi sang phần kể truyện cứu khổ độ sanh, bà Hai Lầu khều bà Ba Các về buồng, đưa cho em dâu gói mo cau đựng hai chục lượng vàng, bảo:

– Tui chữa bịnh cho con cháu dâu của thím để lấy tiếng. Rồi đây am sẽ thạnh, cuộc đất nầy cũng như đất phước trổ bông, người thành tâm mến đạo đến am sẽ đông. Cần nhứt là thím đừng tiết lộ việc ếm đối của chị Quản hạt Thất. Thím nên nhớ rằng phép ma sao qua phép Phật, người ngay thật luôn thắng kẻ gian tà, con gà múa xa con phụng.

Bà Ba Các có vẻ lo:

– Chắc là “bên đó” biết cái linh hiển của cuộc đất nên tìm cách trù ếm chớ gì! Chèn ơi, từ đây về sau mình phải đương đầu với họ để giữ đất giữ ao… Mệt lắm chớ không dễ đâu chị!

 

 

Chương Hai

 

 

Bên nhà ông Quản hạt Thất, sáng hôm đó cô út Thiên Kim đang đốc thúc con Hiếu sửa soạn bữa ăn sáng thì ngoài cổng có tiếng gọi ơi ới. Cô út nói với hai cô tớ gái:

– Bây coi đó, mới bửng sáng chim chìa vôi, chim chèo bẻo chưa đến lăng líu trên mái nhà thì đã có con quạ khoang tới kêu chát chúa. Con quạ khoang vừa bay đi thì có con quạ ở xóm Ống Cống tới.

Con quạ xóm Ống Cống đây là cô Hai Kim Ðiệp, con nhà cậu của cô út Thiên Kim, cháu gọi bà Quản hạt Thất bằng cô. Xóm Ống Cống cách Ngã Ba Trung Lương một cây số, ở giữa chặng cầu Bến Chùa và Ngã Ba Trung Lương. Xóm có nhiều khe ngòi cùng ao bàu lung vũng và vùng ruộng trũng ngập nước vào mùa mưa. Nước muốn tháo ra sông Bảo Ðịnh phải nhờ cái ống cống luồn dưới quốc lộ nên xóm mới có tên như vậy. Xóm nầy có lò bún của ông Hai Dần. Ông nầy vốn là con rơi của ông Huyện Thảo trước khi ông huyện chính thức cưới vợ. Bà Huyện cấm không cho chồng nhìn đứa con rơi kia. Bà sanh cho chồng hai người con trai đều chết non, tới khi sanh cô Tư Thảnh thì bà qua đời vì chứng hậu sản. Ông Huyện Thảo từ đó đi lại với má cậu Hai Dần, cấp cho bà hai mẫu đất ở xóm Ống Cống, biến thằng con rơi thành đứa tớ trai. Cô Tư Thảnh tuy vẫn lui tới với ông Hai Dần, nhưng chỉ coi đương sự ngang hàng với tá điền của cha mình. Tuy cô Hai Kim Ðiệp là vai cháu cô bà Quản hạt, vai chị cô út Thiên Kim, nhưng cô phải kêu bà Quản hạt bằng bà, kêu cô út Thiên Kim bằng cô, và kêu hai người con trai của ông bà Quản hạt bằng cậu.

Cô út Thiên Kim nhấc nồi cháo cá giò heo xuống và bắc ấm nước lên để châm trà và pha cà phê. Cô bảo con Thiệp:

– Mầy ra ngoải mở cổng cho con quạ xóm Ống Cống đi. Giờ nầy ông bà già còn ngủ, để nó đứng kêu chát chúa, ổng bả thức giấc, sẽ cằn nhằn tao nhức xương.

Rồi đó cô út bảo con Hiếu đặt bàn và sắp mâm, còn cô thì đi súc miệng đánh răng và chải gỡ tóc tai. Cô mặc chiếc áo nhiễu màu tím, quần cẩm nhung đen, tóc cuốn vành nôm, trước trán chải phùng lượn sóng, giắt thêm lược đồi mồi cẩn hột ngọc trai. Nhìn vào kiếng, cô thấy mình không được trắng nhưng nhờ xức kem dưỡng da nên da mặt cô mịn màng. Thiệt tình khuôn mặt cô không có nét nào lỗi lầm, nhưng cô chỉ có duyên mà thôi chớ không thể nào thành bực mỹ nhơn được. Ðôi mắt sáng, ướt và lẳng là điểm nổi nhứt trên khuôn mặt cô.

Cô út Thiên Kim bôi chút dầu thơm lên cổ rồi õng ẹo bước ra phòng khách. Bà Quản hạt Thất đã thức dậy, mặt hãy còn sật sừ, đang tiếp chuyện cô Hai Kim Ðiệp. Năm nay bà ngoài năm mươi, vóc vạc cao lớn, mập mạp, tướng tá coi bệ vệ lắm. Tiếc một điều là da bà tối hù, còn có đám lang ben trắng trên mặt. Mặt mũi bà không thô, không xấu nhưng vẻ dữ tợn và hà khắc làm cho thần thái bà u ám. Cô Hai Kim Ðiệp thì mặn mà sắc sảo, vóc vạc vừa tầm, nụ cười có duyên nhờ hai lúm đồng tiền. Hôm nay cô đội khăn màu hột gà, mặc áo cẩm kim màu huỳnh yến, quần sa-teng tuyết nhung đen, tai đeo bông mù u nở bằng vàng, cổ đeo chuỗi hột san hô đỏ, tay trái đeo chiếc đồng bánh ú và chiếc cà rá bằng vàng pha đồng cẩn hột hổ phách lớn cỡ hột me. Nhìn chung, cô ăn mặc trang nhã, quần áo và nữ trang tuy không mấy quí giá nhưng rất hợp với hạng gái nửa chợ nửa quê có chút ít kiến thức.

Nguyên cô Hai Kim Ðiệp có người chị bạn dì tên Hai Kim Chung mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được vợ chồng ông Hai Dần nuôi dưỡng. Hồi 17 tuổi, cô Hai Kim Chung bỏ nhà theo một gã khách trú lai lên Nam Vang xây tổ uyên ương. Chừng ít năm sau, cả hai keo rã hồ tan, cô Kim Chung tò tí với đủ hạng người. Nhờ đẹp lộng lẫy, nhờ khôn ngoan quyền biến, cô Hai Kim Chung trở thành một danh kỹ với tên mới là Odette Mai. Cô chỉ cặp xách với các tay giàu sụ hoặc những Pháp kiều có quyền thế. Cô Odette Mai từ khi tằng tịu với tên Chánh tham biện Lionel Dubeauchamp ở Mỹ Tho thì mua một cái biệt thự bên kia cầu Quay để ở. Nhớ tới công ơn nuôi dưỡng của dì dượng mình, cô giúp đỡ chị em cô Hai Kim Ðiệp ăn học. Nhưng cô Hai chỉ học tới năm thứ nhì ban Thành Chung thì nghỉ. Trong khi đó cậu Ba Kim Lân và cậu Tư Kim Luông vẫn tiếp tục theo đuổi việc học ở trường Petrus Ký Sài gòn.

Cô Hai Kim Ðiệp là bạn cùng lớp với cô Hai Ngọc Dung. Cả hai thân nhau vì có chung hoàn cảnh. Cô Hai Ngọc Dung là cháu ông Quản hạt Thất nhưng không được ông nghĩ tới sợi dây huyết thống; cô Hai Kim Ðiệp là cháu bà Quản hạt Thất bị bà loại ra khỏi vòng ruột rà.

Cô út Thiên Kim thấy mặt mẹ mình hầm hầm tức giận, còn mặt cô Hai Kim Ðiệp thì đanh lại thách đố. Từ một tháng nay, bà Quản hạt Thất thường lui tới ông Hai Dần và cô Hai Kim Ðiệp cũng thường lui tới nhà nầy. Cô út mang máng đoán là mẹ mình rủ rê tía con ông Hai hợp tác trong vụ bùa chú, ngải nghệ chi đó. Từ khi khôn lớn, cô út đã biết mẹ mình là một tay phù thủy. Bà Quản hạt có một số khách riêng mà chồng con bà không cần giao thiệp. Ðó là các thày địa lý người Tàu, các thày bùa ngải thư ếm gốc người Chà Châu Giang, các thày tướng số, các ông đồng bà cốt và những kẻ tả đạo bàng môn khác. Bà Quản có một khoảnh đất trồng ngải để lấy củ hoặc trồng các thứ dược thảo tráng dương, phá thai… Bà cũng có một căn bếp riêng để phơi khô, sấy khô các loại thuốc. Khoảnh đất và căn bếp đó chỉ có bà và đứa tớ gái tên Phước Vân được lui tới vì nó là kẻ tâm phúc của bà, được bà dạy dỗ, truyền nghề.

Cô út Thiên Kim cậy tía má mình giàu sang nên coi thường cô Hai Kim Ðiệp lắm. Từ khi cô đoán biết mẹ mình đang cần cô Hai thì cô cũng tỏ ra niềm nở với cô Hai hơn dù cô không thể ưa được người chị con nhà cậu mình. Cô Hai có giọng nói hơi chát, lúc cất cao thì như xoáy vào óc người nghe nên bị cô út âu yếm tặng cho cái hỗn danh “con ác là xóm Ống Cống”.

Vừa thấy con gái, bà Quản hạt cố dẹp sắc mặt đằng đằng sát khi, nở nụ cười gượng gạo, chìa tấm giấy có viết tên những người được tặng quà và những món quà cho con gái. Ðó là thày địa lý Lưu Yểm, thày Ba Châu Giang, bà Năm xác cốt, thày bùa Kim Sang…

Cô út nhận lịnh, lủi xuống bếp. Bà gọi con Hiếu bưng mâm điểm tâm lên. Cô Hai Kim Ðiệp từ chối, nói rằng vì mới ăn bắp nấu nên còn no. Bà Quản hạt nói:

– Cháu không ăn thì uống cà phê với qua. Cháu ngồi chơi, vội chi mà về? Ðể tui nói chuyện đời, bày lẽ hơn thiệt cho cháu rõ. Bề ngoài, tui và cháu là lối xóm láng giềng, chớ bề trong là cô cháu ruột thịt. Cháu đừng để người ngoài xúc xiểm mà làm hư việc của tui.

Con Hiếu bưng lên một dĩa bánh xếp một nửa nhưn thịt, một nửa nhưn tôm xào nước gạch đỏ ối, một dĩa bánh ướt triều châu lồng nhưn tôm khô thoa mỡ hành, hai ly cà phê sữa.

Cô Hai Kim Ðiệp:

– Có ai xúc xiểm gì đâu! Nhưng tại cháu thấy cái việc bà lớn xúi biểu cháu làm coi bộ… không hạp lẽ trời rồi đa. Cháu chưa chồng, phải tích đức tu nhơn thì trời cao sẽ ngó lại phù hộ cho cháu duyên nợ được vuông tròn, đường con cái được hanh thông.

Cô lôi trong giỏ mây một gói bọc giấy dầu, mở ra bày một hộp phấn trắng, một hộp phấn hường, một thỏi son, một ve dầu thơm, một cặp lược đồi mồi, nhỏ nhẹ:

– Cháu xin trả lại bà lớn mấy món nầy. Cháu quanh năm ở chốn ruộng vườn, ít có dịp phấn son trang điểm.

Bà Quản hạt sửng sốt:

– Cháu làm cái gì kỳ cục vậy? Bộ cháu muốn phản tui hay sao? Tui nói cho cháu biết, ai mà lộn nài bẻ ống với tui thì muốn sống không được mà muốn chết cũng không trôi đâu!

Cô Hai Kim Ðiệp mặt lạnh như tiền, giọng bắt đầu chát chúa:

– Cháu chẳng phản ai hết. Chuyện giữa bà và cháu, cháu xin giữ kín, cháu chỉ không hợp tác với bà nữa kể từ đây mà thôi.

Bà Quản hạt hăm he:

– Tùy cháu. Nhưng cháu nên nhớ một điều: ai đã lỡ theo tui nhúng tay vào bùa chú thư ếm rồi thì cũng như đã leo lên lưng cọp vậy. Ðã lỡ thì cứ ở trên lưng cọp chớ đừng leo xuống mà cọp xé xác. Trước hết, tui sai thày Hương quản dắt lũ cai tuần và lũ trùm xuyên đóng trăng cháu ngoài nhà làng, rồi cháu sẽ thấy vài ngón nghề của tui…

Mắt cô Hai Kim Ðiệp đổ lửa. Cô rít lên:

– Bà đừng có hù tui, vô ích! Tui đâu phải dân quê mùa dốt nát mà bà giở thói húng hiếp, bắt đóng trăng tui được! Chồng bà làm hội đồng quản hạt nhưng đâu có lui tới dinh quan chánh tham biện ở Mỹ Tho như chị Odette tui. Còn ba cái vụ thư ếm của bà giờ đây đối với tui như giấy chùi đít. Bà cứ làm tới đi, tui chống mắt coi đây!

Nói xong cô Hai Kim Ðiệp nguýt bà Quản hạt và ngoe ngoảy bước ra cửa. Phản ứng cứng cỏi mạnh bạo của cô Hai làm bà Quản hạt kinh ngạc đến sững sờ. Ủa lạ! Con nầy bữa nay ăn nói ngang ngược quá! Bùa ngải thư ếm của tui mà nó dám coi như “thứ giấy chùi đít”! Bộ nó kiếm được kẻ cao tay ấn hơn chắc? Ðể rồi tui phải dò la cho kỹ.

Bà cao giọng gọi con Thiệp:

– Ông mầy sắp dậy bây giờ. Mau dọn bánh, cà phê cho ổng và cô út mầy dùng. Mầy cũng nên dọn một mâm riêng cho con Phước Vân luôn thể.

Cô út Thiên Kim dưới bếp bước lên:

– Má đừng quên bữa nay anh chị Hai từ Sài gòn về chơi. Còn con cần đi chợ Mỹ mua sắm thêm vài món làm đám giỗ.

Ngày mai là đám giỗ tiên bà cụ Hương cả Ðường, mẹ ông Quản hạt Thất. Bà Quản hạt đã cho người lên Bến Tranh mời vợ chồng ông Hội đồng Giai. Hôm nay thứ bảy, có vợ chồng bác sĩ Hữu Thạnh ở Sài gòn về chơi, còn luật sư Hữu Vượng có văn phòng ở chợ Mỹ Tho, đợi xế mai mới về thăm nhà ăn giỗ được.

Bà Quản bảo con gái:

– Lát nữa má biểu tụi nó kho một nồi thịt cá đệm trứng luộc, nồi giò heo hầm măng mạnh tông, nồi khổ qua hầm dồn thịt, niêu tôm kho tàu. Sáng mai mới biểu con Hiếu, con Thiệp làm vịt làm gà.

– Sao má không cho làm thịt nguyên con heo coi có xôm hơn không? Kỳ giỗ nầy ba con có mời ông bà Phủ Trạch tới dự tiệc nữa đó.

Bà Quản xí dài:

– Thịt heo làm sao xôm bằng thịt gà, thịt vịt? Làm nguyên con heo thì lấy ai mà ăn cho hết? Nhưng má cũng đã dặn lò heo Chệt Xủi để dành cho mình hai cái đầu heo, hai bộ lòng và hai kí thịt để nấu cháo. Còn thịt sấu non nữa chi? Thằng Cai tuần Hựu đã lựa cho má hai con sấu cỡ bắp tay để nấu cà ri trong bữa giỗ chánh rồi.

Cô út cười lỏn lẻn, mắt ướt rượt. Ông bà Phủ Trạch là tía má của hôn phu cô. Ổng bả tới đây dự tiệc thì cô phải làm sao có những món độc đáo. Thịt sấu có cái đặc sắc là nửa như thịt heo, nửa như cá. Thịt sấu non nấu cháo, xé phay trộn rau răm ngon gấp đôi cháo gà cháo vịt và ngon gấp rưỡi gỏi gà gỏi sứa. Ðã vậy món sấu nấu cà ri theo kiểu chà và thì ngon quá là ngon, các món bát trân chưa chắc qua mặt được!

Cô út Thiêm Kim không thèm ăn điểm tâm ở nhà. Ði chợ Mỹ Tho mua sắm, cô sẽ ăn mì và hoành thánh ở tiệm nước chú Hành, gần rạp hát thầy Năm Tú. Cô giồi phấn thiệt khéo, thoa son thiệt tươi, đeo thêm vài món nữ trang rườm rà, xịt dầu thơm nực nồng. Tới chợ Mỹ, trước hết cô ghé thăm kỹ sư Trần Quanh Oánh, hôn phu của cô; rồi mua sắm xong cô sẽ cùng cậu đi dưng hương ở am Bửu Liên gần bến đò Rạch Miễu.

Nghĩ tới ông kỹ sư Oánh, cô chợt thấy chạnh lòng thương cậu Bảy Trinh Tường, kẻ bị cô hồi hôn. Cậu Bảy chỉ đậu bằng tú tài mà thôi. Vì say mê cô, cậu bằng lòng ở rể suốt ba năm mà chẳng được dịp cọ quẹt cô lần nào để rồi giờ đây cậu bị gia đình cô tráo trở, bị cô đá giò lái một cách thảm thiết. Rốt cuộc cậu phải về xóm Tre để mong thời gian vá lành lặn vết thương lòng.

Kể ra về sắc vóc, ông kỹ sư Oánh làm sao bì được với cậu Bảy Tường. Ông kỹ sư hơi lùn, hơi mập; còn cậu Bảy vóc vạc thanh cảnh, trắng trẻo khôi ngô. Ông kỹ sư ăn nói phang ngang bửa củi, cậu Bảy thì ăn nói khiêm cung mềm mỏng. Nhưng mà lấy chồng, cô phải lựa kẻ có địa vị. Lũ bạn gái cô lần lượt lấy chồng nếu không bác sĩ, luật sư thì cũng kỹ sư, nha sĩ. Chẳng lẽ cô làm vợ một anh chỉ có bằng tú tài trơn lu để thua chị kém em cho đành!

Cô út nghe con Hiếu và con Thiệp kể, từ khi về xóm Tre, cậu Bảy Tường lửng đửng lờ đờ, bơ phờ thất sắc. Tuy có xót xa, nhưng cô không thể viết thơ an ủi hoặc mua tặng bánh trái thuốc men cho cậu được.

Ông Quản Thất đã tắm rửa chải gỡ tóc tai, ngồi vào bàn điểm tâm. Vóc vạc ông trung bình, nước da sáng, khuôn mặt hơi tròn, đôi mắt thiệt lanh. Vừa ăn bánh canh bột gạo nấu tôm thịt bao quản, ông vừa nói với vợ:

– Tui vừa bắt được hai mối áp phe, má nó à. Tui sẽ bao kiện vụ tranh gia tài giữa hai anh em dòng đích dòng thứ ở Vòng Lớn. Tui cũng đang tìm cách mua rẻ dây ruộng mười mẫu của ông Chánh bái Cước ở Vòng Nhỏ.

Bà Quản têm cho mình một miếng trầu vàng đệm cau Bà Ðiểm và quế cay, dặn chồng:

– Ông nhớ dặn thằng Bảy sốp-phơ ghé ga Trung Lương rước vợ chồng thằng Hai về đây trước. Mười giờ xe lửa tới ga rồi.

– Má nó đừng lo, thằng Bảy sẽ đưa tui tới Vòng Nhỏ trước rồi vòng lại đón vợ chồng thằng Hai cũng kịp.

Nhà ông Quản Thất thuộc hàng đại gia nên ông có một chiếc xe hơi Citroen, một chiếc xích lô và nuôi trong nhà một người sốp-phơ, một người phu đạp xe. Mỗi khi đi chợ Mỹ, bà Quản và cô út nếu không dùng xe hơi thì đi xe xích lô nhà. Ngồi xe thổ mộ, hai mẹ con bà sợ áo quần nhăn như cái nhau mèo khô mà còn bị lũ người hạ tiện chen lấn nữa.

Vừa thấy cô út ăn diện rườm rà choáng lộn, ông Quản hạt tằng hắng lấy giọng rít róng quở:

– Ði chợ mua sắm mà mầy ăn diện còn hơn đào hát bội! Ai coi nó chải đầu phùng chín lượn mười mồng như sóng lượn ngoài bãi Ô Cấp. Ðã vậy nó còn dến cái áo hoa hoè loè loẹt trông mà mệt con mắt quá chừng chừng!

Cô út nguýt cha:

– Con gái chỉ có một thời. Lúc còn trẻ trung, còn dung quang bóng sắc mà không ăn diện thì đợi tới chừng nào?

Bà Quản Hạt sành tâm lý hơn:

– Nó đi chợ Mỹ mua sắm nhưng chắc còn ghé đằng cậu kỹ sư Oánh. Kệ nó ông à! Nó lớn rồi, cứ để nó trau chia bóng sắc, o bế dung nhan. Nó đâu có cái đẹp thiên chơn mà ông cấm nó dùng màu mè rằn rực!

Ông Quản hạt nói xuôi:

– Thì ra vậy! Tụi trẻ thời nay sao làm gì cũng có… dụng ý ráo trọi!

Bà Quản cười tự đắc:

– Nó là con tui mà. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.

Ông chồng nhìn vợ cười mơn. Ðã trên ba mươi năm qua chung sống với người đờn bà thủ đoạn nhưng ông vẫn hạnh phúc. Bà có bỏ bùa cho ông hay không ông đâu cần biết. Ông chỉ thấy cảnh gia đình êm ấm, hoạn lộ hanh thông, lợi nhuận thăng tiến.

Bởi thiên hạ đồn đãi bà Quản rành bùa chú, thư ếm nên chẳng có mụ nào, cô nào dám láng cháng với chồng bà. Chẳng ả chơi bời nào dám qua mặt bà về tiền đi khách, chẳng tá điền tá thổ nào dám cân điêu đong thiếu lúa thóc của bà, chẳng có con nợ nào dám trây nợ với bà. Họ sợ bà như sợ hung thần vì tin rằng bà có đủ phép thần thông để gieo hoạ gieo tai cho họ.

Bà Quản Thất đi rửa mặt và ngồi vào bàn trang điểm. Chỉ một lượt kem mỏng, một lượt phấn dày là khuôn mặt bà tươi màu ngay. Bà tô son màu cam, vẽ cong nét mày, mặc chiếc áo bà ba bằng gấm Thượng Hải dệt lông công mặt nguyệt và đeo vài món nữ trang hột xoàn. Bà không bới cái bí bo như các phụ nữ lục tỉnh mà bới tóc bánh tiêu có bao lưới giắt trâm lấp lánh. Với tuổi năm mươi ngoài, đáng lẽ bà phải phục sức theo lối các bà già trầu, nhưng vì quá yêu chồng, bà ăn diện theo kiểu trẻ trung, trông cậy vào vàng đeo ngọc khảm, hương xông xạ ướp và phấn trét son tô để gỡ gạc tuổi trời và cái nước da tối hù của mình.

Ngắm vuốt trong kiếng một hồi rồi bà Quản hạt Thất mới xẹt ra chỗ trồng cỏ thuốc. Các chậu nghệ, ngải diệp, bông ngải… sắp hàng lủ khủ. Cỏ cây trong chậu đều rườm rà xanh tốt. Mấy cây nầy được nuôi bằng bùa, bằng mật chú nên có một đời sống đặc biệt. Cứ mỗi tháng hai lần, vào ngày mồng bảy và ngày hăm mốt âm lịch, bà cho chúng ăn tôm tươi và hột gà. Cứ đặt trứng gà nguyên vỏ và tôm tươi chưa ngắt đầu lột vỏ dưới gốc chúng khi trời vừa sụp tối. Rình nghe, sẽ thấy từ trứng, từ mấy con tôm có tiếng rột rột như ai đó húp canh và có tiếng nổ lóc bóc. Sáng ra, dưới gốc cây bày ngổn ngang những vỏ hột gà, vỏ tôm khô queo như bị sấy hai cữ lửa, phơi ba cữ nắng vậy.

*

*  *

Trời tuy nắng gắt nhưng có gió thổi lai rai nên đỡ hầm. Từ bến Chùa đến ngã ba Trung Lương xa cỡ một cây số, cô Hai Kim Ðiệp rẽ qua bến đò Ðạo Ngạn. Ngoài quốc lộ nắng chói chan nhưng lối đi đưa tới bến đò thì ngập tràn bóng râm, cây lá toả hơi nước mát lạnh. Bây giờ nước lớn đang tràn sông, khách trẩy đò hai bên bờ đông nghẹt, tiếng cười nói lao xao vẳng lên từng chặp.

Ðáng lẽ cô Hai Kim Ðiệp rẽ về phía tay mặt để tới nhà bà Ba Các thăm cô Hai Ngọc Dung, nhưng vì khát nước nên cô ghé cái quán lá núp dưới bóng cây da xà, kêu một tô trà huế và một cái bánh tét nước tro. Quán chia làm hai gian, gian bên trái dành cho khách đờn ông gồm ba chiếc bàn tròn, mỗi bàn có sáu chiếc ghế đẩu vây quanh; gian bên mặt chỉ có một chiếc bàn dài và tám chiếc ghế đẩu. Nếu khách đờn bà đông hơn thì họ chia nhau ngồi trên chiếc vạt tre trải chiếu đậu.

Vừa ăn bánh uống nước, cô Hai Kim Ðiệp vừa bần thần nghĩ tới những sự việc xảy ra trong tháng rồi. Không hiểu sao bà Quản Thất biết miếng đất đằng nhà bà Ba Các có thế Lý Ngư Vọng Nguyệt, hai cái ao là hai con mắt cá. Cô gái nào múc nước ao đó tắm gội thì sẽ trắng da dài tóc, mắt sáng mày thanh, môi đào răng lựu. Bà Quản biết cô Hai Kim Ðiệp là bạn cùng lớp với cô Hai Ngọc Dung nên dùng lời xúc xiểm, chê bai nào là cô Hai Ngọc Dung kiêu căng, coi thường bên vợ ông Quản hạt Thất tức gia đình cô; nào là cô Ngọc Dung chê các cô trong làng dầu ăn diện cách mấy cũng không đẹp bằng chị em cô ta. Bà nói riết tới khi thấy cô Hai Kim Ðiệp nổi giận, mày chau mắt trợn, bà mới đưa bảy cọc sắt cho cô, bảo:

– Tui không xúi cháu hại họ mần ăn tàn mạt, hoặc vong mạng nát thân đâu. Với bảy cọc sắt nầy, cháu cắm chung quanh ao thì ao sẽ đục, mắt con thần ngư sẽ đui. Chừng đó chị em tụi nó sẽ hết yểu điệu mỹ miều, hết kiêu căng phách lối nữa.

Thế là cô Hai Kim Ðiệp lợi dụng tình bạn, lân la tới cô Hai Ngọc Dung chơi, lén cắm bảy cọc sắt vẽ bùa chung quanh ao. Nhưng hôm qua, bà Quản Thất lại đem thêm một cọc sắt vẽ hai đạo bùa, bảo cô:

– Cháu cắm thêm cây cọc nầy trước mộ mụ nội tụi con Ngọc để mả bị động, con cháu của mủ sẽ như lò lửa bị mưa tạt.

Cô Hai Kim Ðiệp lắc đầu:

– Cắm cọc chung quanh ao đã là ác rồi, lại còn hại họ tán mạng nữa thì ác quá! Cháu không thể vưng lời bà được đâu.

Sau một hồi thuyết phục cô Hai vô hiệu quả, bà Quản Thất xách đít ra về. Ðêm đó cô Hai Kim Ðiệp nằm chiêm bao thấy một ông già râu bạc, áo lấp lánh như vảy cá, bảo:

– Ta là thần lý ngư nằm trong cuộc đất Lý Ngư Vọng Nguyệt của bà Ba Các đây. Cô nghe lời bà Quản Thất, tính đâm đui cặp mắt ta nhưng vì gia đình người ở trong cuộc đất là kẻ hiền lương nên bà Hai Lầu về kịp, nhổ cọc sắt đi, ta khỏi bị đui mù. Ta cũng cho cô biết, bà Quản hạt Thất không thể nào địch nổi bà Hai Lầu đâu. Phép ma làm sao qua phép Phật! Riêng cô, vốn lòng dạ chơn chất, từ rày về sau phải cải tà qui chánh thì hậu vận mới tốt được.

Vía cô Hai Kim Ðiệp năn nỉ:

– Xin thần ngư tha tội cho cháu. Cháu xin ăn năn sám hối từ đây. Chỉ sợ bà Quản sẽ trù ếm cháu vì tội không chịu nghe lời bả nữa.

Thần lý ngư trấn an:

– Cô là khắc tinh của bả. Bả dù có muốn hại cô thế mấy cũng không được. Ðể rồi cô sẽ rõ.

Khi thần lý ngư biến đi thì một người đờn ông ăn mặc như kép hát bội, hoàng bào hoàng giáp sáng ngời, đầu đội mão xích khôi cẩn ngọc đỏ chớp lia chớp lịa, mặt mày tuấn tú khôi ngô, bộ dáng oai phong lẫm lẫm bước tới:

– Ta là thần phụng hoàng trong thế đất Phụng hoàng chuyển dực đây. Bởi cô không nghe lời bà Quản Thất cắm cọc vẽ bùa trên đầu mộ cụ bà Hai Ngọc nên ta mới được sanh tồn. Ðầu mộ là trái tim ta đó. Ta đến để tạ ơn cô và mách bảo cô một việc. Ngày mốt, đầu giờ Tị, cô nên ra rình ở gốc cây sao cuối vườn. Trên ngọn cây là ổ chim gõ kiến. Ngày mai ta sẽ làm phép cho lũ chim con vừa ra ràng bị bội thực, kêu la đau đớn. Con chim mẹ sẽ bay xuống bãi cát cạnh gốc cây vẽ bùa Lỗ Ban để cứu con nó. Cô nên nhớ mang theo giấy bút vẽ phỏng theo và học thuộc lòng. Mai sau có bị bà Quản Thất trù ếm, cô cứ vẽ bùa và miệng la biến thì bùa ngải sẽ thành tro bụi.

Liền đó cô Hai Kim Ðiệp tỉnh giấc chiêm bao. Cô nghĩ tới nghĩ lui, quyết lòng đoạn tuyệt với bà Quản Thất. Dây dưa với mụ đờn bà lòng lang dạ sói kia có ngày chết chớ không chơi. Cô nghĩ mà tức khi thấy mình quá ngây thơ, chỉ một câu khích bác của mủ mà hại bạn mình. Cô quên rằng cô Hai Ngọc Dung là con nuôi, nếu cuộc đất Lý ngư vọng nguyệt có bị ếm thì cũng chỉ gây hậu quả xấu cho cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga mà thôi. Càng nghĩ sâu cô càng thấy mình sai quấy trăm phần. Cô Hai Ngọc Dung từ hồi nào tới giờ vẫn ăn nói mềm mỏng, giúp đỡ mọi người. Lại nữa, nếu kiếp trước cô Hai Ngọc Dung gây nhơn lành thì giờ đây dù có xấu như Chung Vô Diệm, mồ mả tổ tiên cô có táng trong thế đất Dạ Xoa, chằn tinh gì đó thì cô ta cũng vẫn lấy chồng trong giới thượng lưu như thường.

Ðã quyết định nên sáng hôm nay cô mới tới nhà bà Quản hạt Thất trả lại quà. Rồi vì giận quá mà cô trả treo bà Quản, giờ nghĩ lại cô giựt mình đồm độp. Bùa Lỗ Ban chưa biết có tìm được không, lỡ bị bà ta thư ếm thì chỉ có nước nằm chờ chết.

Một chiếc ghe mui ống lướt tới, người ngồi trong mui ghe hát:

Nước mắm ngon giầm con cá đối

Xin hứa với nàng đợi tối anh qua

Hò ơ… ớ…

Nước mắm hòn đương ngon hoá dở

Hận kẻ bạc tình, ruột bở dưa gang…

Chiếc ghe tấp vô bờ chỗ gốc sung đơm đầy trái đỏ. Chàng thanh niên tuổi khoảng hai mươi lăm, da trắng trẻo, cằm vuông mũi thẳng mắt sáng, từ trong mui ghe bước lên bờ. Bà Sáu Nhành, chủ quán, nói nhỏ với cô Hai Kim Ðiệp:

– Cô Hai coi kìa! Cậu Bảy Tường lóng rày thất tình thất chí nên con mắt trõm lơ. Từ khi ra khỏi nhà ông bà Quản hạt Thất, cẩu như khùng, cứ hát lý tối ngày.

Vừa thấy cậu Bảy xăm xăm đi vào quán, bà Sáu bước ra chào, bô lô ba la:

– Mèn ơi, cậu Bảy! Từ xóm Tre qua đây đâu có khe ngòi sông rạch chi, sao cậu dùng ghe?

Bảy Trinh Tường cười:

– Chào bác Sáu. Bữa qua tui ra chợ Mỹ nhậu nhẹt với thằng bạn. Sáng nay quá giang ghe chú thợ thiến heo tới đây rồi lát nữa cuốc bộ về xóm Tre.

Bà Sáu mau mắn:

– Về đâu thì về, nhưng cậu ở đây uống trà ăn bánh ú nước tro trước đã.

Bảy Tường bước vào gian dành cho phụ nữ, kéo ghế ngồi gần cô Hai Kim Ðiệp. Cả hai nhìn trộm nhau. Khi cô Hai bắt đầu lui tới nhà bà Quản Thất thì cậu Bảy đã cuốn gói ra khỏi nhà rồi. Tuy khi đi chợ Trung Lương hay chợ Bến Chùa cô có thỉnh thoảng gặp cậu, nhưng cả hai không chào hỏi nhau. Ở vùng nầy, ông bà Quản hạt Thất là người nổi tiếng. Cậu ở rể nhà họ, ai ai cũng biết. Cậu bị hồi hôn, ai nấy đều hay. Cậu thất tình thất vọng, thiên hạ đều xót xa ái ngại giùm cậu. Cậu dở khùng dở ngây, mọi người đều rủa sả ông bà Quản Thất đoản hậu, khinh chê cô út Thiên Kim lòng dạ bạc bẽo.

Riêng cậu Bảy Tường, từ khi yêu cô út Thiên Kim thì cậu chỉ biết có cô út, không hề dòm ngó bất cứ người đờn bà nào khác. Càn khôn vũ trụ đều qui tụ vô một mình cô út yêu quí của cậu mà thôi. Giờ đây, giáp mặt cô Hai Kim Ðiệp, chỉ cách một khoảng nửa sải tay, cậu thấy cô Hai tuy không ăn mặc kim thời, không son phấn hực hỡ, nữ trang choáng lộn rườm rà, nhưng chu choa ơi, giữa đám người quê mùa cô vẫn có nét trội vượt hẳn. Chiếc áo cẩm kim màu huỳnh yến cô mặc nào có quí giá chi đó, nhưng nó thiệt hạp với nước da mơn mởn và khoẻ mạnh của cô. Môi cô mọng thắm như bông ô môi, mày cô tỉa khéo nên nhỏ vừa phải và cong vòng nguyệt. Rèm mi cô rậm và cong quớt lên cứ chớp chớp như cánh bướm. Cậu Bảy Tường vốn là nòi tình. Cậu ngây người nhìn cô Hai Kim Ðiệp, ánh mắt không giấu nổi vẻ chiêm ngưỡng nồng nhiệt.

Cô Hai như không cưỡng lại được, cũng lặng người nhìn cậu Bảy. Vốn là trai tân học nên cậu dạn dĩ, chào hỏi cô liền một khi:

– Chào cô, có phải cô cư ngụ ở vùng nầy không? Tui thấy cô quen quen.

Cô Hai Kim Ðiệp cũng thuộc hạng có học và hiểu rõ nếp sống mới nên dạn dĩ chào lại:

– Chào thầy. Em ở xóm Ống Cống, tía em mở lò bún bên đó. Em thường đi xóm Tre mua mắm cá lóc, cá trèn của bà Hai Thông nên em có gặp thầy một lần.

Cậu Bảy cười:

– Bà Hai Thông là chị dâu tui đó.

Cô Hai làm bộ như không biết quãng thời gian cậu Bảy ở rể tại nhà ông bà Quản hạt Thất, và cô cũng giấu luôn liên hệ huyết thống giữa cô và bà Quản. Cô không muốn làm cậu tẽn tò.

Cậu Bảy Tường gọi một tô trà huế và mấy miếng kẹo gừng. Gió từ sông thổi lên làm cành lá cây da xao động. Từ tiếng rào rào như thoảng ra hơi mát và thơm mùi nhựa lá non khiến cậu dễ chịu. Bà Sáu Nhành ân cần mời:

– Nè cậu Bảy, hôm nay có bánh ú nhưn mặn ngon lắm, cậu ăn thử một cái là cậu mê liền, hổng chừng còn ăn thêm năm mười cái nữa.

Cậu Bảy cười:

– Bà cho tui hai cái ăn thử đi. Sáng nay tui chỉ húp một chén cháo đậu xanh nên giờ kiến cắn bụng rồi. À, bà đem thêm hai cái nữa cho cô đây gọi là bánh tui mời trong buổi sơ kiến vậy.

Cô Hai Kim Ðiệp xua tay:

– Cám ơn thầy, sáng sớm em không quen ăn mặn. Em đã ăn bánh tét nước tro nhưn đậu xanh ngào đường rồi.

Dưới bến nước có tiếng lao xao. Thì ra ghe đáy bán cá bán tôm vừa cặp bến. Cô Hai Kim Ðiệp chạy ra để chọn mua mớ cá rói, cá linh, cá lành canh và mớ tép bạc xanh trong. Trả tiền cho chủ đáy xong, cô bước trở lại quán. Bà Sáu Nhành cầm chùm bánh ú, hớn hở bảo:

– Cậu Bảy cuốc bộ về xóm Tre rồi. Chèn ơi, chẳng những cẩu trả hết tiền trà bánh cho cô mà còn mua tặng cô xâu bánh ú nhưn mặn nầy.

Cô Hai Kim Ðiệp mặt đỏ như bông lồng đèn, mắt sáng tợ sao, rèm mi chớp lia chớp lịa, miệng cười lỏn lẻn ra vẻ vừa sượng sùng vừa thích thú. Cô lắc đầu cười:

– Cậu Bảy kỳ ghê! Mới gặp mà cẩu đã tặng bánh!

Tuy nói vậy nhưng cô vẫn nhận xâu bánh rồi kiếu từ bà Sáu Nhành, te tái bước ra khỏi quán. Nhưng cô không đến thăm cô Hai Ngọc Dung liền đâu. Cô cần phải về nhà, trước hết là để cá tép khỏi ươn sình, sau nữa là để nghiền ngẫm cái thú vị đang nở bông nở huê trong lòng cô. Ừ, mặt cậu Bảy Trinh Tường coi bơ ngơ báo ngáo làm sao ấy! Chuyện hồi hôn bội ước của cô út Thiên Kim vừa là lưỡi dao bén rọc trái tim cậu te tua tơi tả, vừa là cái chày vồ đập lên đầu làm cậu choáng váng bàng hoàng. Bởi vậy cậu hành xử không coi trước coi sau, coi dị thấy mồ! Ai coi khi vô quán bà Sáu cậu a thần phù vô gian dành cho phụ nữ. Rồi vừa thấy cô là mời dùng trà bánh, còn tặng quà nữa. Nghĩ tới đây, cô mỉm cười thích thú, mắt chớp liên hồi, trái tim đập nhịp rõ hơn trong lồng ngực.

Về tới nhà, cô Hai Kim Ðiệp thấy cha mình đang o bế mấy nọc trầu bên hông sân. Bà Hai Dần thì cùng con Tí ép bún. Cô cởi áo dài, mặc áo túi rồi đi rửa mặt trước khi làm bếp. Cá linh cá rói cô kho với khóm và sả ớt cho tới khi xương cá mềm rục. Tép thì phân nửa cô lột vỏ quết nhuyễn để nấu canh với rau bồ ngót và mướp hương, phân nửa còn lại cô chấy với khóm và thịt ba rọi. Mâm cơm dọn lên, cô mời cha mẹ, hai thằng em và con Tí vào ăn. Riêng cô, cô chỉ ăn một cái bánh ú. Chèn ơi, bánh ú của bà Sáu Nhành nổi tiếng ngon khắp Trung Lương, Bến Chùa. Hột nếp sao mà dẻo mề dẻo mệt, nhưn bánh gồm đậu xanh tán nhuyễn, thịt nạc dăm, tôm khô và một phần tư cái trứng vịt luộc.

Trưa hôm đó, cô Hai Kim Ðiệp ngủ một giấc thiệt ngon. Bên ngoài, trời xáng một cơn mưa rầm rộ nên thời tiết mát mẻ lạ thường. Trong chiêm bao, cô thấy một ông già đầu bịt khăn đóng, áo dài the đen, trên ngực đeo thẻ bài bằng ngà. Bên mép ông có mụt ruồi đen với một sợi râu dài bạc trắng. Ông lại có túi mắt, lông mày lưỡi mác, mũi lân, vai rùa. Ông nói với cô

– Cháu ôi, ông đây là nội tổ của cháu. Bởi ông khinh bần trọng phú không nhìn nhận tía cháu là con cho nên trời phạt ông không có kẻ nối dõi tông đường, chỉ có một đứa con gái độc dữ thất đức. Cháu rán khuyên tía má cháu ăn ở nhơn đức, tạo nghiệp lành cho nhiều, trời sẽ ngó lại chị em cháu. Còn con út với cậu Bảy tuy vậy mà chỉ có nợ chớ không có duyên. Nợ đó cậu Bảy trả hết rồi. Từ đây cậu sẽ hưởng phước duyên với cháu. Cháu và cậu Bảy mới đúng là giai ngẫu đó.

Chiều hôm đó, quanh mâm cơm, cả nhà ông Hai Dần vui vẻ chuyện trò hết chuyện nầy sang chuyện nọ. Ðây là một gia đình thuận hoà, tràn ngập tình thương yêu. Hai cậu Ba Kim Lân và Tư Kim Luông đều khôi ngô trắng trẻo. Ông Hai Dần tướng ngũ đoản, thân hình lực lưỡng, mặt hồng hào. Còn bà thì trắng trẻo, mặt hiền hậu.

Cậu Tư Kim Luông nói với cha mẹ:

– Sáng nay tụi con lại chơi đằng nhà bác Ba Các, gặp bác Hai Lầu. Nghe nói bác tính cất am tu hành.

Bà Hai Dần bảo chồng:

– Xế qua, chị Hương bộ Khâm có cho tui biết chuyện chị Hai Lầu về trụ đất nầy. Ðể mai tui tới thăm chỉ cho phải đạo.

Bà dặn cậu Ba:

– Con bẻ cho má buồng cau xiêm, một quày dừa tam quan để má cho bên đó.

Ông Hai Dần ngó hai cậu con trai, cười:

– Hai thằng cốt đột rán o bế bác Ba Các tụi bây cho gắt củ kiệu mới được. Có vậy tao với má bây mới cầm trầu cau đi cưới con Tư Ngọc Nhan cho thằng Ba, con út Ngọc Nga cho thằng Tư.

Mưa ngoài trời cứ tuôn hoài tuôn hủy. Thời tiết mát lạnh làm cơm sốt canh nóng ngon hơn. Chiều nay cô Hai đã nấu canh chua cá lóc với bông súng, cá rô kho tộ, cá chẽm chiên vàng rưới tương hột. Mâm cơm như vậy cũng tươm tất rồi, nhưng bà Hai Dần còn xào thêm món lòng gà với đậu đũa.

Cậu Ba Kim Lân kể:

– Anh Ngọc Toản muốn trồng ấu trong hai cái ao nhà ảnh.

Ông Hai Dần lắc đầu:

– Mùa nắng, nước ở đây tiếp nước sông Chợ Gạo nên hơi mặn, trồng ấu sao được!

Cậu Ba trầm trồ:

– Mèn ơi, nước ao của họ trong văn vắt, phải thả sen thả súng, trồng ấu thì cảnh ao mới xinh lịch, mới có tinh thần chớ.

Cô Hai Kim Ðiệp hỏi dò:

– Chị thấy nước ao của họ đục ngầu, xinh lịch gì đó?

Cậu Ba cãi lại:

– Chị nói sao chớ sáng nay tụi em tới thăm anh Ba Ngọc Toản, ảnh rủ ra ao hóng mát thì thấy nước ao trong như lộng gương, ngó tới đáy.

Cô Hai thở phào nhẹ nhõm. A di đà Phật, vậy là mấy cọc ếm của bà Quản Thất bị ai đó hoá giải rồi. Cô cúi xuống và miếng cơm chót rồi xuống bếp nấu nước pha trà, trước để cúng Phật, sau để cho cha nhâm nhi.

Vừa lúc đó cô Hai Ngọc Dung lại chơi. Cô ôm theo con chó cò lông toàn một màu trắng, mới vừa dứt sữa. Cô bảo:

– Hai tháng trước, bác Hai gái có ngỏ ý muốn có con chó cò nầy. Hôm nay cháu đem lại tặng bác nuôi để giữ nhà.

Cậu Tư Kim Luông xớt con chó, bồng trên tay. Nó liếm tay cậu, đôi mắt đen như hột nhãn ngó mọi người thấy thương hết sức.

Cô Hai Kim Ðiệp rủ cô Hai Ngọc Dung về buồng mình chơi. Phòng cô Ðiệp quét dọn sạch sẽ, mùng trắng tinh, chiếu bông mới, áo gối thêu cặp chim xanh, mền nỉ tươi màu huyết dụ. Ðã vậy còn có rèm màn cửa sổ bằng vải trắng thêu đục lỗ, tủ áo bằng gỗ thao lao quang dầu, bàn viết hột xoài cũng quang dầu.

Cô Hai Ngọc Dung vui vẻ:

– Em mong con chó cò sẽ đem vận hên tới nhà hai bác. Con chó này lông trắng muốt như bông lau, không một sợi đen.

Cô Hai Kim Ðiệp cười, nói giỡn:

– Ðể em mua vé số. Biết đâu em sẽ trúng tiền muôn bạc vạn.

Con chó cò từ ngoài chạy vô, chui ngay dưới bàn viết, chưn quào, miệng sủa vang rân. Cô Hai Kim Ðiệp nhìn xuống gầm bàn, chắc lưỡi:

– Ngộ dữ hông! Gầm bàn đâu có chuột hay thằn lằn rắn mối chi, cớ sao con chó nầy quào sủa điếc con ráy vậy cà?

Cô Hai Ngọc Dung cười:

– Biết đâu dưới nền gạch có chôn hũ vàng hũ bạc gì đó nên con chó mới quào.

Cô Hai Kim Ðiệp gật đầu, cười ngỏn ngoẻn:

– Ờ biết đâu đó!

Cô Hai Ngọc Dung bồng con chó vuốt ve, cười hăng hắc:

– Chị chưa biết đó thôi, đôi lúc miệng em linh lắm, nói chơi mà thành thiệt mới là lạ chớ!

Cô Ðiệp bỗng dưng thấy mí mắt bên mặt mình giựt liên hồi. Và cô rùng mình mấy lượt bởi cảm giác rờn rợn chạy dài suốt xương sống.

 

 

Chương 3

 

 

Cô Hai Kim Ðiệp bỏ nửa buổi sáng để rình rập lấy bùa Lỗ Ban do con chim gõ kiếng vẽ. Cô hết lòng tin tưởng thứ bùa thiêng kia. Nó có thể hoá giải hết mọi trấn ếm trù ẻo do các tay phù thủy cao cường. Bùa Lỗ Ban của ông Hương bộ Khâm cùng bùa của các tay thợ mộc trong vùng là những loại tầm thường, vậy mà bà Quản hạt Thất còn không đương đầu nổi. Cô vẫn nghe cha mình kể rằng, từ khi cất xong nhà việc làng Long An, bà Quản Thất thâm thù ông Hương bộ Khâm và bọn thợ làm rường nhà, nhưng vẫn không hại họ được. Mỗi khi thấy trong nhà có biến động, lập tức họ vẽ bùa ra rồi la “hô biến”, lập tức bùa ếm chôn ở xó kẹt bí ẩn nào cũng bị văng ra. Nhưng bùa Lỗ Ban, theo ông Hương bộ Khâm, chỉ mạnh ở hoá giải chớ không mạnh ở tấn công. Chúng chỉ có thể phá quấy sơ sài một khi chúng được dùng để ếm. Tuy nhiên nếu kẻ bị ếm hành ác tích ác, đến chừng ác báo hiện hành, chúng mới trở nên hung hãn.

Khi được hình vẽ lá bùa Lỗ Ban, cô Hai Kim Ðiệp lận vào túi áo. Hôm nay cô vừa dứt kinh nguyệt, mình mẩy khô ráo nên sáng sớm cô đã tắm bằng nước lá sả, lá bưởi, lá ổi, lá ngải cứu, lá từ bi… Cô chưa muốn về nhà vội. Tiết trời hanh hanh, gió mát lai rai từ phía mé sông Bảo Ðịnh thổi về. Bên cạnh vườn nhà cô là một gò đất cao. Mộ của bà nội cô ở tận đỉnh gò, dưới bóng mát cây dương. Ở đó gió mát thổi lồng lộng nên tụi trẻ chăn trâu thường đến thả diều.

Ông Hai Dần, cứ mỗi đám giỗ mẹ, thường than thở với vợ con về cuộc đời bạc phước truân chiên của mẹ mình. Số là bà Hai Cúc là con ông Nhiêu Trương Văn Thục. Mẹ bà qua đời khi bà ba tuổi. Ông Nhiêu Thục cưới bà Lý Thị Gòn làm kế thất. Suốt quãng đời thơ ấu, bà Hai Cúc bị mẹ ghẻ hà khắc. Khi ông Nhiêu Thục chết đi, bà kế mẫu ác nghiệt chiếm đoạt gia tài chồng, đẩy cô con ghẻ vào làm tớ gái cho ông Cai Hinh, tía của cậu Hai Thảo. Cậu Thảo dụ dỗ Hai Cúc cho tới mang bầu, đẻ ra Hai Dần. Về sau cậu Hai Thảo học hành đỗ đạt làm tới tri huyện, cưới con gái ông Cai tổng Nhiễu đẻ ra ba người con, hai trai một gái. Cô con gái tên Tư Thảnh, tức là bà Quản hạt Thất sau này.

Từ khi khôn lớn, hiểu biết nhơn tình thế sự, cô Hai Kim Ðiệp rất cảm thương bà nội. Nhưng bà chết lúc cô mười ba tuổi. Bà dạy cô cái gương kiên nhẫn và sự tháo vát đảm đương, nhưng cô không thọ hưởng tánh ôn nhu của bà. Tuy biết điều nhơn nghĩa, nhưng cô cứng cỏi, bướng bỉnh và ương ngạnh. Vậy mà cô vẫn bị bà Quản hạt Thất dùng bùa ngải lung lạc, dụ cô ếm hại gia đình bà Ba Các. Giờ đây, với lá bùa Lỗ Ban trong túi, cô Hai Kim Ðiệp có cảm tưởng thời gian giao du với bà Quản hạt Thất như một cơn ác mộng.

Cô Hai bước lên gò. Mộ của bà nội cô có tấn đá ong bốn bên, trước là tấm bia bằng lam thạch khắc chữ nho. Cứ mỗi tiết thanh minh, ông Hai Dần cho làm cỏ và săn sóc đám bông ngải mọc sởn sơ rườm rà bên hông mộ. Chèn ơi, chỉ mới nửa mùa mưa, ngải đã trổ bông màu cam, màu vàng điểm chấm đỏ, màu huyết dụ đẹp dễ sợ!

Cô Hai Kim Ðiệp tìm ba cục đất thay thế bó nhang sắp trước mộ bà nội mình, lẩm bẩm cầu hương hồn bà phù hộ cho con cháu. Nắng dần dà nóng rát. Ngặt nỗi trên đỉnh gò không có bóng cây rậm nên cô chậm rãi leo xuống bên kia triền dốc. Nơi đây có hai nấm mộ nằm song song nhau. Mộ bằng vôi trộn đường hũ và nhựa cây ô đước, cứng chắn còn hơn đá hoa cương. Trước mỗi mộ cũng có bia lam thạch khắc chữ nho. Theo lời ông già bà cả kể lại thì đây là ngôi mộ của đôi lứa yêu nhau. Chàng là Trần văn Bôn, chú ruột Trần văn Ðường tức Hương cả Ðường. Ông Bôn theo nhóm nghĩa binh của Trương Công Ðịnh chống giặc Pháp ở Ðám Lá Tối Trời. Khi nhóm nghĩa binh bị Lãnh binh Huỳnh Công Tấn quét sạch thì ông Bôn tìm cách trốn về quê. Chẳng may có tên chó săn biết được, bắt ông giải giao cho Chánh tham biện Mỹ Tho. Trên đường giải giao, ông Bôn cắn lưỡi tự tử.

Kính phục người có nghĩa khí, Chánh tham biện Pháp cho phép thân nhơn ông Bôn đem xác về chôn cất tại quê nhà. Vị hôn thê của ông là cô Ðặng thị Tố từ Xóm Tre qua thọ tang. Hôm đưa linh cữu ông Bôn ra huyệt, người thiếu nữ đó đã dùng dao lá liễu đâm vào ngực quyên sinh. Cha mẹ cô bèn chôn cô bên cạnh mộ ông Bôn.

Hai ngôi mộ trải bao phong sương tuế nguyệt, được cánh họ Trần săn sóc tử tế. Bông kiểng chung quanh được chăm bón nên thạnh mậu lắm. Ngoài trắc bách diệp, bằng lăng, phi lao, tre ngà; còn có lẻ bạn, mít kiểng, môn kiểng, tóc tiên, chuối nước, ngọc trâm… Cứ mỗi tiết thanh minh, đôi lứa tình nhơn trong vùng lại đem nhang ra thắp, đem giấy tiền vàng bạc ra đốt cho đôi trai trung gái tiết ấy.

Ông Bôn chết đi, để lại cây đờn kìm cẩn xa cừ cho ông Ba Các. Cây đờn đó là do cô Ðặng thị Tố tặng. Vì không biết đờn nên ông Ba chỉ treo ở trung đường, lâu lâu lấy xuống lau chùi. Phím trục còn nguyên, nhưng dây đờn dần dà mục rã. Ngược lại, khi cô Tố chết đi thì cô để lại cái quạt lụa bạch vẽ bướm cho anh cô là ông tú tài Ðặng văn Chiêu. Ông Chiêu để lại cho con trai là Ðặng văn Bình, rồi ông Bình truyền lại cho ông đốc học Ðặng văn Thông, anh trưởng của cậu Bảy Ðặng Trinh Tường.

Ông Ðốc Thông dạy trường Trung Lương. Mới tuổi bốn mươi ông đã lên chức đốc học. Giữa ông và cậu Bảy Trinh Tường có bốn cô em gái đã lấy chồng cho nên ông rất yêu thương thằng em út của mình. Ông có một cô con gái mười sáu tuổi tên Ðặng Tố Trinh, hiện học trường Áo Tím Sài gòn. Sau cô Tố Trinh là hai đứa con trai tên Thanh Tòng và Thanh Trước.

Cô Hai Kim Ðiệp nghe tiếng cô Hai Tố Trinh vừa đẹp thùy mị đoan trang vừa học giỏi, nhưng cô chưa bao giờ gặp vì cô Tố Trinh theo người cô thứ ba lên học tận Sài gòn.

Hôm nay, đứng trước mộ cặp thiên cổ tình nhơn, cô Hai Kim Ðiệp chợt nghĩ tới cậu Bảy Trinh Tường. Lòng cô rung động một cách lạ lẫm, bồi hồi một cách nên thơ. Cô cũng sắp trước mỗi ngôi mộ ba cục đất, khấn khứa ông Bôn bà Tố phù hộ cho đường tình duyên cô được suôn sẻ, cuộc hôn nhơn cô được mát mái xuôi chèo.

Thấy mặt trời tròn bóng trên đỉnh đồi, cô Hai Kim Ðiệp thơ thẩn ra về. Mẹt mẻ ông bà ông vải ơi, vừa bước vào sân, cô thoáng nghe có tiếng trong ấm và liến thoắng quen thuộc. Ngó vào trung đường, thì ra cậu Bảy Tường đang trò chuyện với tía và hai em cô. Hôm nay cậu mặc sơ-mi cụt tay màu vàng tái, quần sọt trắng, chơn đi giày bata trắng. Ủa lạ, cậy Bảy tới đây làm gì? Mình vừa nghĩ tới cẩu thì cẩu xách đít tới nhà mình. Không lẽ đôi bên có thần giao cách cảm thiệt hay sao?

Cô Hai đi vòng sân sau, chui vô bếp. Tại đây ngoài bà Hai Dần đang nấu cơm với con Tý, có một cô gái trạc tuổi mười lăm mười sáu, mặc áo nhiễu trắng, quần cẩm quít đen, tóc kẹp sau ót, chơn đi guốc sơn đen quai da vàng vẽ bông xanh đỏ. Cô đeo bông tai lủng lẳng hình trái châu, cổ đeo xâu chuỗi ngọc trai, cườm tay mặt đeo chiếc vòng vàng chạm phụng giao đầu, tay trái đeo chiếc cẩm thạch huyết. Cô ta không có cái nhan sắc rực rỡ như Tư Ngọc Nhan hay út Ngọc Nga, cũng không có vẻ tươi vui khoẻ mạnh như Hai Ngọc Dung. Nhưng cô đẹp trong sáng hiền dịu, dáng dấp cao sang thanh thoát, càng nhìn càng mến.

Vừa thấy cô Hai Kim Ðiệp, bà Hai Dần bảo cô gái:

– Nè cháu, đây là con gái lớn của bác đó.

Cô gái cúi đầu chào cô Hai Kim Ðiệp:

– Em có nghe chú Bảy em nhắc tới chị.

Cô Hai vui vẻ:

– À! Em là Tố Trinh phải không? Chị có nghe dân Xóm Tre, Vòng Nhỏ nhắc tới em, mãi tới giờ mới gặp.

Cô Hai Tố Trinh cười:

– Thỉnh thoảng vào kỳ hè, em có về Xóm Tre chơi vài ngày nhưng cứ lúc thúc trong nhà nên ít gặp dân trong xóm.

Bà Hai Dần bảo con gái:

– Bữa nay cậu Bảy qua đây đặt bánh nghệ, bánh hỏi và bún lá hẹ để mốt đem về làm đám giỗ cụ Tú, ông nội cẩu. Sẵn dịp, cháu Hai đây tháp tùng theo. Má có mời chú cháu cẩu ăn cơm trưa đó.

Cô Hai Kim Ðiệp gật đầu:

– Ðược vậy thì vui lắm.

Cô xẹt về buồng cất đạo bùa trong hộp gỗ trầm. Xong xả, cô đi rửa mặt chải đầu, trút bỏ bộ đồ vải xiêm đen để diện chiếc áo túi lụa tím, quần lãnh đen cạp lưng nhiễu màu cánh sen. Áo cụt tay phơi đôi cánh tay trắng phau, khoe chiếc vòng mã não đỏ và chiếc vòng đồng chạm mắt tre. Cô bước ra trung đường chào khách.

– Cậu Bảy qua chơi! Chẳng biết hôm nay gió nào đưa cậu lại vậy?

Cậu Bảy Tường cười lỏn lẻn:

– Có chút việc nên tui mới qua đây.

Ông Hai Dần hỏi con gái:

– Bộ con có quen biết cậu Bảy rồi hay sao?

Cô Hai nhìn cậu Bảy, trả lời cha:

– Thưa, con mới quen cậu hôm qua tại quán bà Sáu Nhành.

Rồi cô niềm nở:

– Xin cậu ngồi uống trà với ba em, để em xuống bếp phụ má em nấu nướng.

Cô lui ra sau bếp. Hôm nay bà Hai Dần làm gà và có mua thêm hai bộ lòng gà để xào với bầu non. Còn thịt gà phân nửa bà xào sả ớt, phân nửa nấu cà-ri. Tuy mâm cơm đã tươm tất lắm rồi, bà vẫn thêm món cá chạch kho nghệ rắc lá gừng non xắt nhuyễn.

Bà Hai Dần ngắm cô Hai Tố Trinh rồi bảo:

– Lạ dữ nầy, cháu đây rất giống bà Năm Tố thuở xưa.

Cô Hai Tố Trinh bỡ ngỡ:

– Bà Năm Tố nào vậy, thưa bác?

Bà Hai Dần có vẻ nghĩ ngợi:

– Bà Năm Tố là em gái của ông cố cháu. Hồi đó bác đã mười hai tuổi thì xảy ra vụ bả tuẫn tiết theo chồng.

– Cháu nhớ hồi ông nội cháu còn sanh tiền, có bảo rằng cháu giống bà cô của cháu. Tiếc là hồi đó ở thôn quê không có vụ chụp hình hoặc họa truyền thần nên ba má cháu không biết mặt mũi bả ra sao.

Cô Hai Kim Ðiệp sắp mâm bày bàn, bảo mẹ:

– Chuyện bà Năm tuẫn tiết theo chồng, vùng nầy ai mà không biết. Ðáng lẽ ban hương chức hội tề nên lập miễu thờ ổng bả mới là phải.

Cô Hai Tố Trinh đỡ lời:

– Chị nghĩ vậy cũng phải. Song em có nghe các bực lão nhiêu trong dòng họ kể rằng trước khi tự tử, bà cố cô em có viết thơ để lại dặn người trong họ không nên lập miễu thờ ổng bả. Ổng bả hẹn nhau tái sanh để nối lại tơ duyên. Hổng chừng ổng bả cũng đã đầu thai rồi.

Cô Hai Kim Ðiệp khẳng khái bảo:

– Trai anh hùng, gái tiết liệt như họ phải được trở lại dương trần, nhứt là phải trở lại cuộc đất nầy để kết duyên với nhau thì mới gọi là trời cao có mắt.

Cơm canh dọn lên, ông Hai Dần gọi vợ và hai cô gái cùng ăn. Cậu Bảy Tường bảo vợ chồng gia chủ:

– Hôm nay cháu tới đặt mua bún mà lại được mời ăn, quả là hân hạnh hiếm có vậy. Thiệt cháu làm phiền hai bác quá!

Cô Hai Kim Ðiệp cắc cớ hỏi:

– Vậy sao cậu không từ chối?

Cậu Bảy ngó lom lom vào mặt cô gái, cười:

– Ai được mời ăn mà từ chối cho đành!

Mọi người cùng cười rộ. Tuy nói nhiều câu dạn dĩ, nhưng vừa nói xong, mặt mũi và vành tai cậu đỏ ửng. Cô Hai Kim Ðiệp ngó cậu, thầm nghĩ, anh chàng nầy vốn nhút nhát mà cố tỏ ra bạo dạn. Nhưng mặt mũi anh ta có vẻ rạng rỡ hạnh phúc lắm. Anh ta vui thiệt tình chớ đâu có chút nào gượng gạo. Có lẽ anh ta đã quên được mối hận tình rồi…

Bà Hai Dần vốn người chơn chất thiệt thà. Bà thừa rõ chuyện cậu Bảy Trinh Tường bị cô út Thiên Kim hồi hôn cho nên bà muốn biết dự định hôn nhơn của cậu mà chẳng cần nghĩ sự tò mò của mình có chạm tới vết thương lòng của cậu không. Bà hỏi:

– Nè cậu Bảy, sau vụ rắc rối bên nhà ông bà Quản hạt Thất, chẳng hay cậu đã tìm được chỗ nào để gá nghĩa chưa?

Cậu Bảy không tỏ vẻ gì giận dữ hay bất bình, thành thật trả lời:

– Thưa bác, bấy lâu nay cháu còn thương, còn hận cô út nên cháu chưa nghĩ tới chuyện kiếm người thục nữ để xây dựng gia đình. Nhưng giờ đây cháu đã nghĩ rồi.

Cậu lén nhìn cô Hai Kim Ðiệp. Cô tránh né cái nhìn ấy, tim xao xuyến, dạ bàng hoàng. Ông Hai Dần hỏi tới:

– Ai vậy cậu? Chắc nếu không phải lá ngọc cành vàng thì cũng thuộc hạng hương trời sắc nước chớ gì?

Cậu Bảy Trinh Tường:

– Cháu nào có phước phận gì mà gặp hai hạng phụ nữ đó! Nếu lấy vợ, cháu lựa chỗ đức hạnh, chẳng thèm chỗ quyền quí cao sang làm chi để khỏi mất công chiều lụy.

Rồi cậu nhìn qua Ba Kim Lân và Tư Kim Luông, bảo:

– Trong kỳ bãi trường nầy, nếu hai em cần tui chỉ dạy thêm môn học gì, cứ nói cho tui biết.

Bà Hai Dần mãn nguyện lắm, bảo:

– Ðược vậy thì còn gì bằng.

Cô Hai Kim Ðiệp rắn mắt bảo hai em:

– Hai thằng cốt đột nầy muốn học toán, Pháp văn gì đó thì mỗi ngày nên qua Xóm Tre mà học. Ðừng để cậu Bảy cất công qua đây mà tội nghiệp cẩu.

Cậu Bảy cười:

– Tui ưa đi ta bà, ít khi bó gối ở nhà. Nếu hai em muốn học thêm thì để tui qua đây cũng được.

Cậu Tư Kim Luông nhìn cậu Bảy, nói chận họng:

– Hè nầy, tụi em chỉ muốn nghỉ ngơi và vui chơi mà thôi. Nhưng nếu anh có rảnh, xin mời anh cứ qua bên nầy chơi để tụi em học hỏi anh cách xử thế ở đời, gẫm cũng bổ ích lắm chớ.

Riêng cậu Ba Kim Lân thì nhìn cậu Bảy một cách giễu cợt. Chém chết anh tú tài mắc dịch nầy cũng lợi dụng chuyện kèm học để trổ mòi ve vãn bà chị tui. Nhưng hè mà tui bó gối còng lưng ngồi học thì học sao vô, hử trời!

Thấy bữa ăn gần tàn, cô Hai Kim Ðiệp và miếng cơm chót rồi buông đũa. Cô vào buồng giở nắp thạp gạo, lấy hai trái đu đủ xiêm vừa chín đỏ đem ra bổ dọc làm món tráng miệng. Chèn ơi, thứ đu đủ có màu gạch pha màu tim tím nầy ngọt gấp ba thứ đu đủ màu vàng cam.

Khi mọi người dùng trà bánh và trái cây thì có cậu Ba Ngọc Toản đến chơi. Cậu mặc bộ đồ vải xiêm đen như trai miệt vườn, nhưng da cậu trắng hồng, gương mặt khôi vũ, cử chỉ phong lưu khiến bộ quần áo quê mùa càng làm cho cậu có cái phong tao đặc biệt. Cậu thưa với ông bà Hai Dần:

– Thưa hai bác, mốt đây hai má con có làm đám giỗ cho chú Ba con. Má con mời hai bác và cả nhà qua ăn bữa giỗ tiên lẫn bữa giỗ chánh. Luôn tiện má Ba con đặt bác gái ba kí bún lá hẹ, hai kí bánh hỏi, hai kí bánh nghệ.

Cậu Ba Ngọc Toản quét mắt qua cô Hai Tố Trinh, bàng hoàng sửng sốt. Ủa lạ, tui đã gặp cô gái nầy ở đâu mà tui nhớ không ra nhưng sao coi thân thiết quá! Lòng tui bỗng dưng xúc động quá chừng chừng! Sao mùa hè nầy lại đưa tui về những cảm xúc ủy mị mà trước kia tui chưa từng có. Mỗi lần lôi cây đờn kìm do ông cố chú của tui để lại, tui thấy nghẹn ngào muốn khóc. Người xưa đã đi vào dĩ vãng. Thiên diễm tình lệ sử của họ tui đã nghe nhiều lần tới phát nhàm, vậy mà ngắm kỹ cây đờn, tui vẫn thổn thức bồi hồi. Giây đờn dù có hư hoại, nhưng phím và trục vẫn như xưa. Khi chú Sáu Lâm căng dây mới, tiếng đàn lại thanh tao vang lộng. Hôm nay gặp cô gái nầy, tui cũng có cảm xúc y chang như lúc tui nâng niu cây đờn và lúc nghe tiếng đờn. Ôi, thứ tình cảm mà từ lúc lớn khôn tới giờ tui chưa hề có với bất cứ người con gái nào.

Riêng cô Hai Tố Trinh cũng sững sờ nhìn cậu Ba Ngọc Toản, lòng xôn xao một thứ tình cảm khó hiểu. Kỳ hén, mỗi khi nhìn cái quạt bướm của bà cố tui, lòng tui cũng rung động cùng một cảm giác như vậy. Chiếc quạt ba tiêu với lớp lụa tố bạch căng trên cái khung hình lá chuối, được ông Bôn điểm xuyết vài nét hồ điệp xuyên vân, tuy trải qua bao nhiêu năm tháng mà vóc lụa vẫn mới, nan quạt bóng ngời, màu vẽ vẫn thắm đượm như xưa.

Cô Hai Kim Ðiệp niềm nở mời:

– Ở đây ăn bánh, trái cây đi Ngọc Toản, lát nữa hẵng về. Ðể chị châm thêm trà. Nè Tố Trinh, đây là Ba Ngọc Toản, cháu ông bà Ba Các đó.

Cô Hai Tố Trinh e lệ gật đầu. Cô Hai Kim Ðiệp chỉ hai chú cháu cậu Bảy, hỏi Ngọc Toản:

– Chắc em biết cậu Bảy đây nhưng chưa biết em Tố Trinh, cháu gái của cẩu ở Xóm Tre?

Ba Ngọc Toản cười vui vẻ:

– Dĩ nhiên là em biết anh Bảy, nhưng vì ít qua chơi bên Xóm Tre nên em không gặp cô đây.

Cô Hai Tố Trinh dịu dàng:

– Tuy sanh đẻ ở Xóm Tre nhưng em học ở Sài gòn, năm khi mười họa mới về thăm nhà.

Ba Ngọc Toản kéo ghế ngồi đối diện Hai Tố Trinh. Hai luồng nhỡn tuyến chạm nhau. Cặp mắt của cậu bình thường rất sáng, hơi dữ một chút, nhưng trước vẻ ôn nhu của cô gái, ánh mắt của cậu trở nên âu yếm và dịu dàng lạ thường.

Cô Hai Kim Ðiệp châm thêm trà, bày thêm bánh. Cô cứ để cậu Bảy Trinh Tường liếc trộm ngó lén cô, lòng lâng lâng rạo rực.

*

*  *

Bên nhà ông bà Quản hạt Thất, bữa giỗ tiên và giỗ chánh linh đình trôi qua. Thầy kiện Hữu Vượng vừa xong bữa tiệc đám giỗ, bương bả trở về chợ Mỹ Tho. Bà Quản liếc xéo thằng thứ nam. Thằng nầy râu rìa lông ngực, rõ ràng là tướng đa dục đa dâm, chẳng những tò tí với vợ goá của ông Ðốc học Bào mà còn xên luôn con gái cô ta là Hai Thoại Hảo nữa. Bà chẳng hiểu con trai bà có bùa phép gì mà cả mẹ lẫn con cô Sáu xúm lại chiều chuộng hắn, công khai ăn ở với hắn, mặc lời dèm siểm chê bai, thây kệ miệng lằn lưỡi mối của dân trong vùng. Duy có điều bà thấy rõ là thằng con bà đang thực hành câu “nóc nhà xa hơn chợ, đít vợ gần hơn mả cha”, dù má con cô Sáu chưa phải vợ hắn, và ông Quản vẫn còn sống sờ sờ ra đó. Thứ bảy chúa nhật, năm khi mười hoạ hắn mới xách đít về Bến Chùa thăm nhà, còn thì cứ ở miết tại nhà cô Sáu để hú hí với mẹ con cô!

Sau hai ngày mâm cao cỗ đầy, cả nhà đều rêm bụng. Bác sĩ Hữu Thạnh và vợ đợi 5 giờ sáng hôm sau ra ga Trung Lương đón xe lửa về Sài gòn. Còn kỹ sư Oánh cũng định sáng mai cỡi mô tô về Mỹ Tho cũng không muộn. Bà Quản hạt Thất bảo con gái:

– Con coi trẻ nó dọn cho má căn buồng dành cho thầy bùa Kim Sang. Mai, thẩy tới chơi đó.

Cô út Thiên Kim:

– Tụi nó quét dọn đâu đó sạch sẽ ngăn nắp rồi, má yên tâm.

– Ờ, vậy con nấu nồi cháo bồi để cả nhà ăn giải lao. Nhớ mua bún tươi đệm với rau xắt ghém nghen.

Cả nhà gồm ông bà Quản, vợ chồng thầy thuốc Hữu Thạnh, kỹ sư Oánh và cô út. Tất cả ngồi quanh chiếc bàn tròn đặt dưới mái hiên. Ở đây gió mát từ sông đưa vào, lại thêm tàn cây sa bô chê che phủ nên đã mát càng mát thêm. Bác sĩ Hữu Thạnh cao lớn, phì mỹ. Tóc ông có một thẻo hơi quăn gờn gợn xõa trước đài trán cao. Kỹ sư Oánh cũng mập nhưng hơn lùn, da ngăm, mặt xấc xược, nụ cười ngạo nghễ. Cô Tư Minh Nguyệt thì quả là đẹp kiều nhược với vóc dáng thướt tha, hình dung yểu điệu. Cô mặc chiếc áo cụt tay và quần sa-teng tuyết nhung trắng viền ren. Tóc cô cuốn rế, giắt lược đồi mồi, mày tỉa mỏng, móng tay móng chân chuốt khéo và bôi lớp sơn đỏ thắm như huyết bồ câu. Cô có vẻ hiền, đa cảm và hơi nhút nhát. Giọng cô mỏng và thanh, mỗi khi cười, mũi cô thun lại trông thiệt mặn mòi.

Bà Quản Thất bảo nàng dâu:

– Má coi kỹ bụng, mông và điệu đi tướng đứng của con thì thấy con đâu phải thứ đờn bà sượng ngắt, bặt đường chửa đẻ. Con nên thu xếp ở đây một tháng để má làm thuốc cho con, biết đâu phước chủ may thầy, con sẽ sanh cho chồng con vài đứa..

Bác sĩ Hữu Thạnh ngó vợ:

– Mình nghĩ sao, hả mình cưng?

Cô Tư thẹn thùng, nhỏ nhẹ nói với tía má chồng:

– Từ khi ăn ở với chồng trước, con đã không chửa nghén; nay làm vợ anh Hữu Thạnh hơn hai năm rồi, con cũng chưa thấy tin mừng nên lòng con áy náy lắm. Nay má cám cảnh con, giúp con sanh sản, lẽ nào con không vưng lời. Sáng mai con theo chồng con về Sài gòn, sắp đặt việc nhà đâu đó rồi, tuần sau con sẽ xuống nhờ má.

Cô út Thiên Kim từ trong bưng ra một mâm giải khát gồm cái thố thủy tinh đựng đầy nước đá chanh, sáu ly cối sương sa hột lựu trộn nước đá lụn vụn. Con Thiệp nối gót theo sau với một mâm bánh trái gồm bánh phục linh, bánh bò, bánh da lợn và hai dĩa đu đủ, khóm bổ dọc.

Bác sĩ Hữu Thảnh bảo em gái:

– Trưa anh phải có một cữ cà phê. Em pha cà phê cho anh nghen.

Kỹ sư Oánh tán thành:

– Trưa nào mà không có cà phê là tui sật sưỡng sật sừ, lờ đờ như con cá nước ngọt bơi lạc ra biển.

Cô Tư nói với mẹ chồng:

– Ðể con pha cà phê cho.

Bà Quản hạt can:

– Cứ để con út làm. Con ngồi đây chơi cho chồng con vui. Ðể má kiếm gói cà phê cứt chồn, ngon hơn.

Thiệt ra bà Quản Thất có chủ ý. Bà phải nhắc cô út Thiên Kim trộn ngải vô ly cà phê của kỹ sư Oánh. Bùa ngải nầy gồm có tóc, âm mao, móng tay móng chơn cô út đốt thành tro hoà với tro đạo bùa do thầy ngải Chà và Châu Giang ban mà từ đầu hôm giỗ tới nay, bà chưa có dịp bỏ vào thức uống của hắn. Trưa nay bà cho hắn uống một lần, sáng mai sớm thêm một lần nữa là đủ làm kỹ sư Oánh mê man đắm đuối con gái cưng của bà rồi. Chèn ơi, cái tuồng mặt cứng đầu phách lối của tên tân học này mà bà không biết dùng ngải nghệ, thì chẳng những nó không lú lậm, không mê đậm yêu nồng con gái bà mà nó còn dám cỡi đầu cỡi cổ cô ta nữa.

Hai mẹ con bà Quản hạt Thất lúi húi pha cà phê trong bếp vừa thì thào bàn dọc tán ngang.

Bùa ngải! Có nhiều người lầm tưởng bùa ngải là một thứ bùa mê làm bằng củ ngải (tức là củ chuối nước) hay bằng củ nghệ, hoặc bằng lá ngải cứu. Thiệt ra ngải là thứ dầu, thứ sáp thoa môi, hoặc thứ rượu mà bọn phù thủy dùng mật chú luyện thành một thứ ma lực để quyến rũ hoặc trù ẻo người. Thầy Ba Chà và Châu Giang có dạy bà Quản Thất cách nắm bắt tinh linh các loài dược thảo, nuôi chúng bằng mật chú để chúng lớn mạnh, thành yêu thành tinh hầu sai khiến chúng giúp ma lực quyến rũ những kẻ bỏ tiền ra mua các loại dầu sáp, loại rượu do bà và con Phước Vân bào chế.

 

Trời về chiều, nước ngoài sông đã ròng, phơi bãi bùn mịn mát. Loại chằng bè, chằng nghịch, le le về đậu đầy bãi, tiếng kêu oang oác. Trước nhà là xẻo lá dừa nước, những khóm dừa nước dựng tua tủa, che mất tầm nhìn hướng ra quốc lộ và đường xe lửa chạy song song.

Trong bếp, hai má con bà Quản hạt bắt đầu nấu cháo bồi. Bà nấu cháo với tôm bao quản, cá lóc, giò heo. Nhưng bà không dùng gạo thơm như nanh chồn hay ba thắt để nấu đâu. Bà dùng bột bán vì bột nầy khi chín sẽ không bã, không đổ nhựa. Ngoài ra bà còn thêm vào cháo môn ngọt cắt khúc. Cô út Thiên Kim lãnh phần sắp bún tươi ra dĩa và làm tương ngọt.

Bà Quản Thất hỏi con:

– Nè út, mầy thấy sau khi thằng kỹ sư uống cạn ly cà phê, đôi mắt nó có đỏ không?

– Ðỏ như tôm luộc vậy.

Bà Quản cười hớn hở:

– Vậy là ứng nghiệm rồi đó.

Rồi bà đắc chí tiếp:

– Bóng sắc của con, tài ăn nói của con chưa đủ sức nịch ái cái thằng ương ngạnh đó đâu! Phải dùng bùa ngải thì hoạ may.

Chiều hôm đó, món cháo bồi thiệt ngon miệng. Trong mỗi tô, bà Quản hạt sắp rau ghém, bún tươi rồi múc cháo đổ lên. Sau hết bà rưới tương ngọt, rải ớt xắt khoanh, hành lá xắt nhuyễn, gừng xắt chỉ, tiêu sọ cà nhuyễn…

Bữa ăn vừa tàn thì bên ngoài đã tối mịt. Trong lúc ông Quản Thất đánh cờ tướng với kỹ sư Oánh, cô út Thiên Kim thêu thùa và cô Tư Minh Nguyệt đọc báo thì bà Quản Thất ghé tai bảo nhỏ con trai:

– Con lên gác với má.

Bà đưa bác sĩ Hữu Thạnh vào căn gác chánh. Nơi đây đèn khí đá thắp sáng trưng, soi chiếc kệ gỗ cao chia làm mười ngăn sắp đầy những hũ sành da rạn lớn nhỏ khác nhau. Cái lớn nhứt cỡ trái cam, nhỏ nhứt cỡ trái chanh, lớn vừa cỡ trái quít, trái măng cụt. Chúng có nhiều màu: màu gan gà, màu cật heo, màu lục đậu, màu xác trà… Vì lâu đời nên chúng trổ da rạn, thứ rạn ổ nhện, thứ dạn vảy rắn, có thứ rạn trứng cá… Mỗi hũ có một dĩ vãng ghê rợn, lảng vảng bóng âm hồn. Hũ từng đựng máu trinh nữ mà bọn phù thủy giết để luyện thiên linh cái. Hũ đựng máu đờn bà có chửa con so mà bọn phù thủy mổ bụng, nạo thai làm thuốc đậu thai hay thuốc tráng dương. Hũ đựng tóc đờn bà chết trôi sông. Hũ đựng tóc đờn bà chết treo cổ. Hũ đựng máu băng huyết của gái làng chơi dùng để nịch ái bọn đờn ông hiếu sắc tham dâm… Bà Quản Thất và con Phước Vân sưu tầm những hũ đó, đem về luộc sơ với bồ-tạt (potassium) để tẩy chất nhơ nhớp rồi dùng đựng ngải nghệ. Phải có âm hồn trợ lực, ngải nghệ mới tăng sức mạnh.

Bà Quản hạt mở cửa sổ, ngó xuống vạt đất trồng ngải nghệ, gọi con trai:

– Con lại đây coi cho rõ.

Bác sĩ Hữu Thạnh bước tới ngó xuống phía dưới. Tại chính giữa vạt đất trồng rau có những vòng tròn bảy sắc cầu vồng sáng ngời bay lập lờ. Nơi đây, bà Quản Thất đã chôn cái tĩn giam giữ vong hồn quan kinh lý Thận, bạn của con mình. Sáu năm trước, bác sĩ Hữu Thạnh đã cho bạn uống Barbiturique mà ông bảo là thuốc an thần để làm dịu cơn đau trong lúc suyễn. Quan kinh lý Thận chết vì liều thuốc ngủ quá mạnh kia, để lại bà vợ xinh đẹp của mình là cô Tư Minh Nguyệt bơ vơ suốt một năm dài goá bụa. Thời gian đó bác sĩ Hữu Thạnh giả nhơn giả nghĩa lui tới chăm sóc người quả phụ, nhắc nhở kỷ niệm với bạn rồi tìm cách ve vãn vợ bạn, gấp rút tính chuyện chung thân. Trước đó, để cuộc mưu sát bạn khỏi bại lộ, Hữu Thạnh nhờ mẹ dùng bùa ngải bắt hồn quan kinh lý Thận nhốt vào tĩn và chôn dưới đám ngải nghệ kia. Có vậy quan kinh lý Thận mới không hiện hồn tố cáo hành động sát nhơn của ông.

Bà Quản hạt bảo trưởng nam:

– Tuy trong tĩn có nhiều đạo bùa và lâu lâu má vẫn tưới máu chó và nước giặt đồ hành kinh của đờn bà lên chỗ đó, nhưng vong hồn quan kinh lý cứ cục cựa luôn. Má sợ có ngày vong hồn ổng sẽ đập bể tĩn thoát ra ngoài, bởi vậy tháng tới má sai con Phước Vân đi Sóc Trăng tìm mấy ông tà, ông lục cụ người Miên làm cọc bùa đóng thêm chung quanh tĩn. Có vậy má mới an lòng được.

Bác sĩ Hữu Thạnh nói xuôi:

– Má cứ làm tới đi. Ðể rồi con sẽ thưởng tiền cho mấy ổng và luôn cả con Phước Vân.

Ông trở về buồng cầm tấm giấy một trăm in hình bộ lư đưa cho mẹ để chi phí các cuộc ếm đối mới. Ông than thở:

– Thằng Thận làm hại em Minh Nguyệt đủ điều. Nó đau ốm, lại bất lực về đường sanh dục, vậy mà vẫn không chịu ly dị vợ để vợ làm lại cuộc đời. Vì cám cảnh hẩm hiu của em Minh Nguyệt nên con mới ra tay hơi quá lố một chút.

Câu giải thích chạy tội đó bà Quản hạt đã nghe nhiều lần. Dù cảm thấy không ổn nhưng nghĩ mình là mẹ, phải bảo vệ cho con nên bà không thể từ nan.

Sáng hôm sau, trống bên nhà việc làng vừa điểm canh năm thì hai mẹ con bà Quản hạt cùng lũ tôi trai tớ gái trong nhà đã thức dậy. Con Phước Vân sắc thuốc cho riêng nó. Còn mẹ con bà nấu cháo trắng, trộn dưa mắm, kho cá lòng tong, chấy tôm trứng.

Mọi người lục tục thức dậy. Ăn sáng xong, vợ chồng bác sĩ Hữu Thạnh, kỹ sư Oánh sửa soạn ra về. Cô út Thiên Kim cắc cớ hỏi hôn phu của mình:

– Chèn ơi, sao mắt anh đỏ vậy?

Kỹ sư Oánh nhìn cô út thiệt sâu:

– Anh cũng không biết nữa. Chu choa ơi, nghĩ tới về văn phòng làm việc, anh phát ngán ngược rồi đây. Ở đây mới có vài ngày mà anh hết muốn về nhà.

Bà Quản hạt đắc chí liếc con gái. Mới nãy, tách cà phê dành cho Oánh, cô út có trộn bùa ngải do bà bào chế. Bà khuyên rể:

– Ra giêng là đám cưới của con rồi. Chừng đó, con với con út sum hiệp một nhà, chỉ sợ con không thèm về đây thăm ba má.

Kỹ sư Oánh đắm đuối nhìn cô út:

– Má nói vậy chớ con đâu tệ như vậy! Hễ chỗ nào vợ con vui là con vui.

Trưa hôm đó thầy bùa Kim Sang tới. Bà Quản hạt Thất dọn cho thầy một bữa ăn tươm tất với món bún nước lèo. Sau đó bà lấy trong tủ cẩm lai hai bộ đồ mát may bằng lụa lèo tặng thầy và sai thằng Kiếp ra Ngã Ba Trung Lương mua la-de, nước ngọt và nước đá chặt cục bỏ vào bình thủy. Ðây là các món giải khát dành cho khách quí.

Xế hôm đó, bà Quản Thất dắt con Phước Vân và thầy Kim Sang đi sâu vào khu vườn trồng ngải nghệ. Bà mở cổng sau, chỉ khoảnh vườn giáp ranh với vườn của bà:

– Ðây là vườn thuộc nhà việc làng, do ban hương chức hội tề quản trị. Thầy địa lý Lưu Yểm có nói với tui rằng cuộc đất này có thế Phi Giao Triều Dương tức thế con sấu bay chầu mặt trời. Ổng nói trong vòng mươi ngày nữa, con sấu nằm trong đất sau thời gian tu luyện năm trăm năm sẽ bay lên về miền đông hải. Dĩ nhiên lúc đó thiên hôn địa ám, mưa gió ào ào, sấm sét ầm ầm. Vậy thầy làm bùa ếm cách nào cho con sấu trước khi về biển sẽ nổi cơn trốt xoáy xuống nhà mụ Ba Các, giết hết kẻ địch của tui thì tui không dám quên ơn thầy.

Thầy bùa Kim Sang nhắm nhía thế đất, hỏi:

– Hình như vườn nầy bỏ hoang?

Bà Quản hạt Thất ngó tận về phía xa:

– Cũng có trồng trọt chút ít ở đầu mút kia. Vườn nầy trước đây giao cho xã Tước coi sóc, nhưng sau ảnh bận bịu việc mua bán đồ gốm nên bỏ bê.

Thầy bùa chau mày:

– Việc lén cắm cọc bùa ở vườn nầy như vậy không khó. Khó là làm cách nào đặt được lá bùa ở nhà bà Ba Các để một khi con sấu bay lên trời, biết chỗ nào đến mà nổi trốt.

Bà Quản hạt ngẫm nghĩ:

– Khó đa! Vợ thằng Hai Lầu cũng có tà thuật cao. Nó đã kịp thời nhổ cọc ếm chung quanh hai cái ao sau nhà mụ Ba Các, cứu vãn cặp mắt lý ngư; bây giờ mình đặt bùa ở bất cứ nơi nào trong nhà tụi nó, con mủ cũng khám phá ra.

Thầy bùa Kim Sang quả quyết:

– Nếu bà cho người đặt bùa dưới đít bàn thờ Thần tài hay đít cà ràng, hỏa lò trong nhà thì mụ Hai Lầu không phát giác được đâu. Tui sẽ điều khiển Thần tài và ông Táo che chở lá bùa.

Bà Quản Thất vui mừng:

– Vậy thì được. Thầy cứ làm phù làm phép, vẽ bùa vẽ niệc đi; tui sẽ sai người tin cậy tới nhà nó đặt bùa.

Chiều đó, thầy bùa Kim Sang bày bàn thờ, căng hình vẽ Thiên Ma Ba Tuần, rồi vẽ bùa trên cọc sắt, trên giấy tiền vàng bạc. Ðêm đêm thấy đốt nhang, gõ khánh triệu thỉnh âm binh. Sau đó thầy đem cọc sắt cắm vào bảy bí huyệt trong vườn.

Ngày thứ tư, thầy từ giã gia chủ ra về. Bà Quản Thất tặng thầy bốn thước tố trắng, một mâm trà bánh và một lượng vàng. Sau đó bà sai con Hiếu mời chị nó là thím Bảy Giảng tới cho bà dạy việc. Bà ngọt ngào bảo thím:

– Nè Bảy, bà có chút việc nhờ mầy. Nghe nói mốt đây bên nhà mụ Ba Các làm đám giỗ cho chồng nó. Mầy ghé lại đây lấy mâm trà bánh đem tới nhà mủ, nói là phẩm vật của mầy đem cúng. Rồi mầy xin phép gia chủ xuống bếp phụ nấu nướng. Thừa lúc không ai để ý, mầy nhét đạo bùa nầy dưới đít cà ràng hay đít hỏa lò cho tao.

Bà móc túi lấy bốn tờ giấy năm đồng, ôn tồn:

– Cầm lấy tiền nầy mua bánh cho lũ con mầy ăn.

Thím Bảy cười rất tươi:

– Ối, tưởng bà biểu con dời non tát biển, chớ bà nhờ chuyện dễ ợt như vầy lẽ nào con phụ lòng mong mỏi của bà cho đành!

Miệng nói, tay thím thò lấy bốn tấm giấy bạc bỏ túi, miệng cười ngỏn ngoẻn.

Thế là kỳ đám giỗ ông Ba Các, cả nhà ông Hương bộ Khâm, ông Hai Dần và mẹ con bà Giáo Toàn thay phiên đến dự từ bữa giỗ tiên qua bữa giỗ chánh. Trong dịp nầy bà Giáo Toàn ngỏ lời cầu hôn cô Hai Ngọc Dung cho con trai mình.

Bà Hai Lầu vui lắm, bảo:

– Ðược vậy thì đôi bên càng thắt chặt tình thân ái chớ sao.

Ba Hưởng, em trai Xã Huề, cười ngó qua anh:

– Hôm đám cưới cô Hai Ngọc Dung, anh em tui tình nguyện cất rạp, làm cổng và chưng dọn trong ngoài.

Hôm bữa giỗ chánh, thím Bảy Giảng đem mâm trà bánh tới và tình nguyện xuống bếp phụ các bà các cô. Không ai bắt gặp thím đút đạo bùa dưới đít cà ràng cả.

Cô Tư Minh Nguyệt thu xếp việc nhà xong, ôm rương trấp xuống nhà tía má chồng. Bà Quản Thất đã có sẵn chiếc nhau con so phơi khô đốt thành tro, hoà với bảy đạo bùa để làm thuốc đậu thai cho nàng dâu.

Thứ ngải dùng quyến rũ kỹ sư Oánh coi vậy mà linh ứng lạ thường. Ðâu chừng tuần lễ sau, ông ta mua tặng cô út một chiếc nhẫn hột xoàn năm ly rưỡi, nước hột thiệt sạch, các cạnh và đít viên ngọc không chút khờn, mẻ. Ðã vậy nước trắng tím loá ra, coi mê quá. Cặp mắt ông vẫn hoe hoe đỏ dù bác sĩ nhãn khoa có chăm sóc thế mấy đi nữa. Thấy ông có vẻ lo, cô út Thiên Kim an ủi:

– Không sao đâu, anh cứ nhỏ thuốc cho thường. Mắt tuy đỏ, nhưng anh không đau, không xốn là được rồi.

Kỹ sư Oánh ôm chặt người yêu:

– Anh chỉ sợ mình đui rồi không thưởng thức được cái bóng sắc chói chan của em. Trong đời anh, anh chưa gặp ai đẹp lộng lẫy, ý nhị hơn em, út ơi!

Trong lúc nói, kỹ sư Oánh nhìn cô út, mắt si dại hẳn đi. Cô út nhìn về dãy đông lang của mẹ, cười mãn nguyện, sắc diện hân hoan phơi phới.

 

Chương 4

 

 

Vừa khi mặt trời lên ba sào thì bà Ba Các đã tưới xong mấy nọc trầu và vạt đất trồng rau. Cô Hai Ngọc Dung và cậu Ba Ngọc Toản gánh các tĩn nước mắm từ ghe đậu ở bến sông vào vựa, xếp từng hàng, từng chồng thiệt ngăn nắp. Còn hai cô Tư Ngọc Nhan và út Ngọc Nga thì cùng thím Chín Hiệp sửa soạn bữa điểm tâm trong bếp.

Cô Tư Ngọc Nhan ngó về phía ao, bảo em:

– Hổm rày má Hai với má mình có hai chuyện để bàn: một là chuyện cất am, hai là chuyện dựng vợ gả chồng cho mấy anh chị em mình.

Cô út Ngọc Nga cười:

– Má Hai tính sao mà gọn bâng. Chị Hai sẽ kết duyên với thầy giáo Hớn, anh Ba với cô nào đó ở Xóm Tre, chị thì làm vợ anh Kim Lân, còn em thì sẽ trao thân gởi phận cho tên cốt đột Kim Luông.

Cô Tư cầm thanh củi đang cháy dụi cho tắt để bớt lửa lò. Nồi cháo trắng đã bắt đầu nhừ. Cô nhìn ra cây điệp tây và cây lựu đơm bông đỏ chói ngoài bờ rào, lòng rạo rực vui. Cô đã “cảm” cậu Ba Kim Lân. Cậu và em cậu học trên hai chị em cô một lớp, nhưng dưới cậu Ba Ngọc Toản một lớp. Cậu có phần thanh tú hơn người anh con nhà bác của cô. Mắt cậu mơ mộng, tóc cậu hơi dợn quăn trên đài trán cao. Nghe nói cậu biết làm thơ, viết lưu bút rất văn chương. Còn cậu Tư Kim Luông thì xinh tươi, khôi vĩ. Cậu trào lộng thiệt đậm, nói pha lửng duyên dáng, vậy mà con út nhà nầy ủng oẳng chê dị chê nừng. Xời ơi, nó càng chìa môi nhọn mỏ, tên kia càng chọc tới, càng giỡn mặt làm hề.

Cũng như mọi ngày, kể từ khi bà Hai Lầu và thím Chín Hiệp về đây, mỗi bữa ăn đều có hai mâm: mâm chay dành cho bà Hai Lầu, bà Ba Các và thím Chín Hiệp; mâm mặn dành cho bốn người trẻ tuổi trong nhà. Mâm chay có dĩa nấm tràm kho tiêu, chén chao đỏ rắc tỏi ớt, dĩa củ cải dầm nước tương. Mâm mặn gồm dĩa cá cơm phơi khô kho tiêu chan mỡ xắt hột lựu, dĩa cá lóc muối mặn chiên dòn và dĩa dưa mắm trộn tỏi ớt.

Cô út Ngọc Nga hỏi chị:

– Chị thấy anh Ba Kim Lân ra sao?

– Ảnh trầm tĩnh, dịu dàng, đa cảm.

Cô út liếc xéo chị:

– Chị nghĩ sao chớ em thấy anh em họ chẳng có mống nào coi được. Lân anh thì lãng mạn rởm, hiền hậu quá thành nhu nhược, lại còn đa cảm đa sầu. Còn Luông em thì con nít quá, ngàn năm sau chưa chắc đã trưởng thành.

Cô Tư Ngọc Nhan nguýt:

– Vô duyên! Bác Hai Dần đẻ con ra để cho mầy công kích phải không? Mầy thử soi kiếng coi mầy có là tiên sa phụng lộn không mà bày đặt chê bai như mấy bà già ó đâm!

Cô út hỏi gặng:

– Coi bộ chị “chíp” anh Ba Kim Lân rồi hả?

– Ừ, rồi sao?

– Vậy thì em mừng cho chị. Riêng em      còn lâu mới cảm nổi tên dúc dắc Kim Luông kia.

– Ai có phần nấy. Ai mà động tới anh Ba Kim Lân thì có khác nào mắng xéo tao.

Cô út Ngọc Nga cười xòa. Ngoài vườn, chim sẻ, chim manh manh véo von không ngớt. Mấy hôm rày sáng nào nắng cũng tốt, trời sáng sủa tạnh ráo, thời tiết ấm áp dễ chịu. Mấy trận mưa liên tiếp khiến đám lá môn ngọt mọc trên bãi bùn mượt vóc nhung xanh, những dây rau nhút trong mương thêm dài và xanh nõn nà nõn nuột.

Cô Hai Ngọc Dung bước vào, quở:

– Hai đứa bây cãi lộn phải không?

Cô Tư Ngọc Nhan cười:

– Tụi em bàn luận về hôn nhơn.

Cô Hai giục:

– Lo sắp mâm, dọn bữa điểm tâm rồi lo trà bánh. Lát nữa họ lại đây bàn việc cất am đó.

“Họ” đây tức là ông bà Hương bộ Khâm, ông Hai Dần, bà Giáo Toàn, thầy Hớn, xã Huề, anh Bảy Lượt, anh Tám Kiếng. Chưa đầy nửa tháng, bà Hai Lầu đã trị dứt bịnh suyễn cho vợ xã Huề, giúp chị Bảy Lượt qua cơn đẻ ngược, cứu anh Tám Kiếng thoát chết vì trúng gió độc…

Mọi người trong nhà xúm quanh hai chiếc bàn tròn để dùng điểm tâm. Từ hôm bà Hai Lầu về đây, bà Ba Các đã khấn nguyện trường trai theo chị dâu. Thím Chín biết nấu nhiều món chay nên bà ăn khá ngon miệng. Chỉ phiền mấy hôm đầu, vừa dứt ngang cá thịt để ních cơm chay, ruột gan bao tử bà cứ bào xào khó chịu, song bà nghĩ rằng mình đã lớn tuổi, nên chay tịnh tu hành, trước là gieo nhơn lành vào ruộng phước của mình và của các con, sau là tránh cho bộ tiêu hoá khỏi nhọc mệt vì những thịt cá khó tiêu.

Bà Ba Các bảo ba cô Ngọc:

– Chốc nữa có bực trưởng thượng tới, tụi bây phải ăn bận cho tử tế. Hôm nay có thầy giáo Hớn tháp tùng mẹ cẩu tới chơi, con Hai lấy đôi guốc sơn đen mới ra mang. Còn bánh trái thì phải đựng bằng dĩa xanh da diệc, dĩa sứ men trắng vẽ bông chàm đậm. Nhớ lấy chiếc bình vẽ con đại cẩm kê pha trà.

Thím Chín Hiệp bảo:

– Bánh trái chòm xóm tặng còn nhiều quá nên tui không mua thêm làm gì.

Bà Hai Lầu không nói không rằng vì đang lúc ngồi ăn, bà chợt thấy một cụm mây đen từ phía đông bắc kéo qua, giăng lơ lửng trên nền trời trong xanh. Một cụm mây đen dị kỳ giữa ngày viêm nhiệt rạng rỡ nắng vàng nầy coi khả nghi quá! Cảm giác rờn rợn thấm suốt vào cái linh tánh bén nhạy của bà. Ðám mây nầy sẽ gây cơn trốt chớ không chơi, và có thể nó sẽ nổi dậy trong ngày hôm nay. Phía đông bắc! Nhà ông bà Quản hạt Thất cũng ở hướng đó. Biết đâu con mụ phù thủy Tư Hinh đã sai khiến con thần giao nào đó tới nổi cơn trốt mà dân miền Nam thường gọi là cù dậy? Cù là tên gọi loài sấu thần nằm trong các thế đất, cứ khoảng năm trăm năm lại cựa mình vùng dậy bay lên trời về biển cả để biến thành rồng. Mỗi khi nó bay lên là gây thành cơn lốc xoáy cuốn sập nhà cửa, cây cối. Kẻ nào biết lợi dụng lúc cù dậy, sẽ đưa cơn lốc xoáy tới nhà kẻ thù để phá sập nhà người mình ghét. Chèn ơi, chỉ một cụm mây đen nhỏ mà đã thoảng hơi gió lạnh hiu hắt và làm màu nắng vàng tái ngắt đi.

Bà Hai Lầu hỏi thằng con trai:

– Ở đây có đứa trẻ nào ưa bắn chim không?

Cậu Ba Ngọc Toản:

– Hồi nhỏ con rất ưa bắn chim và bắn bi, giờ thì con bỏ hẳn rồi.

– Con còn giữ nạng thun và bi không?

– Còn chớ má! Bỏ chơi thì bỏ chớ đồ chơi con vẫn giữ.

Bà Hai Lầu hớn hở:

– Con đem mấy món đó ra đây cho má coi thử.

Cậu Ba vào buồng kéo nguyên một hộc tủ đựng đồ chơi, lấy ra ba nạng giàn thun bằng cây quang dầu bóng lộn. Những viên bi thủy tinh tròn màu xanh da trời, màu lục và đỏ tươi trong vắt; những viên màu trắng sữa nổi vân ngọc thạch…

Bà Hai Lầu giục con trai:

– Con ra chợ mua thun về bện vô nạng cho mau. Dây thun nầy đã quá cũ, nếu không hư mục thì cũng nhão hết rồi. Ði mau để đem thun về đây cho sớm.

Cậu Ba Ngọc Toản lấy nón cối đội lên đầu rồi bương bả đi ra chợ. Bà Hai Lầu sai cô Tư và cô út:

– Hai đứa bây chùi rửa nạng và mấy viên bi nầy cho sạch. Lát nữa đây má Hai có chuyện dùng tới.

Hai cô tuân lệnh làm ngay. Những viên bi được rửa sạch bụi, sáng bóng, phô màu tươi thắm. Bà Hai Lầu đặt những viên bi vào chiếc dĩa nhỏ để lên bàn Phật, bắt đầu niệm chú trước tấm kính Mật Tông.

Thím Chín Hiệp và cô Hai Ngọc Dung vừa bày bánh ra bàn thì khách lần lượt kéo tới. Bà Ba Các hớn hở mời mọi người ngồi trên hai chiếc trường kỷ đặt hai bên chiếc bàn dài. Bà Hai Lầu liền thay áo nhựt bình và quần dài màu dà, cổ đeo xâu chuỗi hổ phách buông dài khỏi ngực bước ra đón khách.

Bà Hai Lầu mở lời:

– Xin cám ơn các anh chị cùng bà con không quản nắng nôi gió máy tới đây để bàn tính việc cất am. Cách đây vài ngày tui đã bàn qua với cháu Xã đây (chỉ xã Huề). Cháu đồng ý là sẽ cất ba gian hai chái cho rộng. Vách bổ kho và mặt tiền bằng ván thao lao.

Ông Hương bộ Khâm nói:

– Thưa chị, tui đã bàn với thằng con trai tui, tạm thời mình nên cất am như vậy. Sau đó sẽ đi quyên góp để làm mặt tiền chạm trổ, làm điện thờ hực hỡ.

Bà Giáo Toàn đồng ý:

– Anh Hương bộ nói rất phải. Chị Hai đây chữa bịnh giỏi, mai mốt khách viếng am sẽ đông, tiền cúng dường sẽ nhiều. Chừng đó bà con xóm mình mặc sức mà tu bổ am thành một ngôi phạm vũ lộng lạc. Nhưng tui không đồng ý vụ xây nền gạch. Tui sẽ góp một trăm đồng trước và hô hào mấy bực điền chủ quanh vùng, mấy chỗ quen biết ở Mỹ Tho xây nền đá da qui, sắm cột gỗ căm xe. Công việc xây cất ít nhứt hai năm mới xong. Tạm thời, để có cái am thanh tịnh, xin chị Ba đây (chỉ bà Ba Các) cất đỡ am lợp lá cho chị Hai bày chỗ thờ Phật và xây tạm cái kinh đàn cũng được.

Ông Hai Dần:

– Cứ từ từ mà làm. Một cảnh già lam của bực tu hành vừa cứu nhơn độ thế vừa hoằng pháp thì phải hực hỡ nguy nga mới xứng đáng với công đức của am chủ chớ.

Xã Huề chuyền tay tờ giấy ghi chép vật liệu phải mua cho mọi người. Ðang lúc mọi người bàn tán thì bà Ba Các ân cần:

– Mời bà con ở lại dùng bữa cơm chay với chị em tui. Thím Chín Hiệp đã nấu sẵn mọi món rồi.

Thím Chín bắt đầu sắp mâm, bày chén đũa. Các món ăn thiệt thịnh soạn, xào nấu công phu.

Sau khi khách dùng cơm xong, cô Hai Ngọc Dung bưng dĩa đu đủ chín xẻ từng miếng và dĩa khóm gọt vỏ cũng bổ từng miếng dọc.

Bà Hương bộ Khâm bảo bà Hai Lầu:

– Ðể tui đi quyên góp tiền mấy tay buôn bán ở chợ Bến Chùa và chợ Trung Lương. Sáng qua tui đi chợ Trung Lương, thiên hạ cứ bu theo tui để hỏi thăm về chị cả trăm điều làm tui thuật chuyện nầy, kể chuyện nọ thiếu điều khô nước miếng.

Bà cầm sáu chục đồng đưa bà Hai Lầu. Món tiền nầy tương đương với lương thầy giáo dạy lớp ba. Bà giáo Toàn cúng bốn chục đồng. Mấy người kia cũng cúng như bà Giáo. Tiền thu được bỏ trong thùng phước sương đặt trên bàn Phật, coi như tiền cúng dường xây am.

Ông Hai Dần cứ mảng suy nghĩ việc cất am nên để tách trà nguội ngắt. Bà Hai Lầu biết ý, nói:

– Chỗ thờ phụng cần thanh tĩnh rộng rãi, đâu cần vẻ lịch màu xinh, đâu cần rường chạm cột vẽ làm chi!

Ông Hai Dần chau mày:

– Chị nói vậy sao được! Am mà cất đơn sơ, thiên hạ tưởng đó là nhà ở, đâu thèm tới dưng hương! Chị để đó cho tụi tui. Cửa cột, rui kèo nên mướn thợ chạm bông nổi thì cái am sẽ không thua một kiểng chùa. Cổng trước phải cẩn miểng sành miểng sứ thì mới giống cổng chùa Vĩnh Tràng.

Bỗng mây đen lan rộng che kín bầu trời. Gió bắt đầu thổi mạnh. Trong tiếng gió nghe như có tiếng roi quất vi vút, tiếng rên than. Giữa ngọ, thời khắc cực dương hoá âm. Ngọn âm phong rợn người như tiếng hàng trăm ngọn thác ầm ầm từ xa đổ dồn lại. Bà Hai Lầu điềm tĩnh bắt ấn niệm chú, rồi gọi thằng con trai:

– Thằng Ba đâu? Mau lấy nạng giàn thun và mấy viên bi theo má ra sân.

Bà điềm tĩnh lấy bốn cây nhang Mộng Cam Hương dễ bắt lửa và mau cháy hết, đốt đỏ phừng ở đầu, rồi cùng con bước ra sân.

Cơn trốt ầm ầm kéo tới, giựt sập cái cầu tiêu cất bên kia mé sông rồi hăm hở tiến về phía nhà bà Ba Các. Ầm! Cây mù u ở bến bị trốc gốc ngã rạp. Bà Hai Lầu chỉ tay về hướng cơn trốt đen, bảo con:

– Con bắn bảy viên bi theo hướng tay của má. Mau lên!

Cậu Ba vưng lời mẹ, bắn bảy viên bi nổi vân cẩm thạch. Bà Hai Lần bắt ấn niệm chú rồi hét lớn:

– Ðồ cù quỉ sấu ma! Ðã tu trót trăm năm sắp thành thần long, sao không bay về biển Ðông? Nếu mầy nghe bọn bàng môn tả đạo sát sanh thì công tu của mầy sẽ đổ sông đổ biển. Tao lấy đức hiếu sanh tha cho mầy khỏi chết. Khôn hồn mau hoá thành gió mát lành bay về chốn trời cao biển thẳm mà chầu Phật nghe kinh!

Cơn trốt do đó cứ xoáy ngoài bờ rào. Cột gió xoáy xuống đất cứng làm bụi đất văng lên mù mịt. Bà Hai Lầu vừa chỉ tay vừa truyền:

– Con bắn theo hướng tay má thêm bảy bi nữa.

Bảy viên trong vắt đủ màu xanh đỏ được bắn về phía cơn trốt, tiếng đạn bay xé gió kêu véo véo rợn người. Bà Hai Lầu lầm thầm niệm thần chú rồi chỉ thẳng lên trời:

– Hãy hoá gió lành và yếng sáng mà bay về biển Ðông cho mau, bớ con nghiệt súc!

Cơn trốt bốc lên cao, tiếng rống như tiếng trâu bò. Khi cơn gió dịu lần thì mây cũng tan, ánh sáng trở về cảnh tàn phá bên bờ rào. Mọi người trong nhà túa ra coi chỗ trốt cuốn. Một cái trũng lớn bằng cái nia và sâu cỡ hai gang tay. Trên lớp đất và cỏ nát vụn có những vệt máu tươi bốc mùi tanh tưởi.

Bà Hai Lầu giải thích:

– Tui chỉ khiến thằng con tui làm cho con thần giao kia bị thương chút ít chớ không nỡ hại sanh mạng nó. Nó dù sao cũng là một chúng sanh đáng thương bị quân độc ác xúc xiểm. Tự hậu lai, nó sẽ thành rồng, đứng vào hàng thiên long bát bộ, ủng hộ người hành trì kinh Phương Ðẳng và kinh Ðại Thừa như lời tui chú nguyện.

*

*  *

Nhưng cơn trốt đâu vì lẽ mà dịu lần rồi biến mất. Nó đã phát tác rồi thì con thần giao dù muốn hãm chế cũng không được. Nó kéo dài trên không trung, đảo qua đảo lại rồi phóng tới gần nhà việc làng, gần chợ Bến Chùa và hạ xuống khu đất trồng ngải nghệ của bà Quản hạt Thất. Chính tại đây, cơn xoáy sau năm phút lộng hành dữ dội, dịu lần và tan biến trong hư vô.

Ngay từ lúc cơn trốt thổi tới, bà Quản hạt Thất và con Phước Vân đã bắt ấn niệm chú, nhưng mãnh lực của nó mạnh quá khiến những ngón tay họ bị tê bại. Một luồng điện tê rần chạy từ những ngón tay bắt ấn của họ lan truyền lên toàn thân khiến thất khiếu họ xuất huyết. Cả hai thầy trò bà Quản hạt ngã lăn ra chết giấc.

Cô út Thiên Kim và cô Tư Minh Nguyệt cùng tôi tớ trong nhà vừa khi cơn trốt tan, chạy lại chỗ trồng ngải nghệ, thấy bà Quản Thất và con Phước Vân nằm sóng sượt trên lối đi len giữa vạt đất. Họ khiêng cả hai vào nhà, cạo gió xức dầu, giựt tóc mai lay gọi. Bà Quản Thất tỉnh dậy trước, hoảng hốt hỏi con gái và nàng dâu:

– Mấy cây má trồng có sao không?

Cô út Thiên Kim cau mày:

– Cơn trốt cuốn cách nào không biết mà từng bựng đất bật tung lên; ngải cứu, bông ngải, nghệ đều tróc gốc phơi ngổn ngang rễ cái rễ con.

Bà Quản Thất vội réo con Hiếu và con Thiệp:

– Mau đỡ tao ra ngoải coi tự sự ra sao.

Cô Tư Minh Nguyệt can gián:

– Má vừa mới bị xuất huyết, còn yếu lắm, phải tịnh dưỡng mới được. Chừng nào má mạnh rồi hẵng gầy lứa ngải nghệ khác có hơn không.

Bà Quản liếc xéo:

– Con nói niếc! Muốn gầy một lứa ngải nghệ đâu phải dễ. Phải làm đủ cách, trần ai lai khổ, tróc vẩy trầy vi thì mấy thứ cây đó mới linh.

Giữa lúc đó con Phước Vân rên ư ử. Bà Quản bảo cô út:

– Con Phước Vân hồi tỉnh rồi đó, con hãy pha trà sâm cho thầy trò má giải lao. Nhớ chưng món ếch bắc thảo với đường phèn để tao với nó ăn cho mau lợi sức.

Hai con tớ gái đỡ bà Quản Thất tới chỗ trồng ngải nghệ. Cô Tư Minh Nguyệt cũng lẽo đẽo theo mẹ chồng. Ra tới nơi, trước cảnh cỏ thuốc tan hoang, bà Quản Thất xanh mặt, lao đao muốn xỉu. Thành hoàng thổ địa ơi, cái hũ nhốt hồn quan Kinh lý Thận chôn sâu giữa khu đất bị cơn xoáy giựt lên cùng bựng đất sét lớn cỡ cái chình tương. Hũ đã bể làm sáu làm tám, bùa vàng vẽ chữ đỏ nằm ngổn ngang. Còn mấy gốc ngải nghệ thì phơi thân trên mặt đất thở phập phều, máu đỏ tuôn rỉ rả. Bà liền truyền lịnh con Hiếu mau chôn từng khóm ngải cứu, khóm bông ngải, nghệ xuống đất, san cho bằng mỗi gốc. Còn con Thiệp lãnh phần lượm các mảnh hũ bể đem đặt ở gốc cây da cuối vườn. Bà cắn răng làm ra vẻ tỉnh tuồng nhưng bụng lo sợ không an. Chèn ơi, vậy là oan hồn ông Kinh lý Thận đã thoát, rồi đây đương sự sẽ quấy nhiễu báo oán thằng trưởng tử của bà. Ngày mai bà phải cho người đi Sóc Trăng rước ông Tà Nặc về đây bắt hồn ông Kinh lý Thận bỏ vào hũ lại, nhưng bà vẫn phân vân không biết ông Tà Nặc có đủ tài bắt hồn, trấn ếm ông Kinh lý lần thứ hai không! Rồi đó bà nhìn đám ngải nghệ, nước mắt rưng rưng. Chốc nữa đây, bà phải hiệp cùng con Phước Vân đọc mật chú, đốt bùa để cứu sống đám cây nầy. Hễ cây chết thì tinh linh của cây cũng rời khỏi bà, phách hồn chúng sẽ xiêu lạc trong cõi âm mù mịt.

Khi bước vào nhà, bà Quản Thất bảo con Phước Vân:

– Mầy tưới mấy cây cỏ thuốc cho tao. Xong đốt giùm tao đạo bùa đỏ vẽ chữ kim nhũ.

Cô út Thiên Kim thấy mẹ không tỏ vẻ rối trí, liền đi bắt con vịt nấu cháo. Cô Tư Minh Nguyệt nhìn cái hũ bể không nói không rằng, bước vô nhà. Cô biết mẹ chồng đang có việc nan giải. Chém chết sự nan giải đó có liên quan tới cả nhà và cái hũ bể chớ chẳng không, nhưng cô không thể thổ lộ với cô út Thiên Kim. Nhà nầy, trừ con Phước Vân, chẳng ai dám xen vào việc phù chú ngải nghệ của bà Quản. Tuy nhiên đêm qua, khi cô vừa chập chờn sắp chìm vào giấc ngủ thì chợt có tiếng âm u vẳng lại:

– Trời ôi, họ nhốt vong hồn tui trong hũ thì làm sao tui báo oán, nói chi đến việc đi đầu thai!

Tiếng nói quá nhỏ nên cô không rõ là tiếng của ai, nhưng nhứt định nó phải có liên quan tới cái hũ bể. Từ lâu cô đã nghe đầy tai những lời thị phi về thủ đoạn đen tối của bà Quản Thất nên cô luôn luôn đề phòng.

Chiều hôm đó, ông Quản hạt Thất vắng mặt. Sáng nay ông đi Bến Tranh thăm ông Hội đồng Giai và ở chơi luôn tại nhà anh rể, sáng mai mới về. Mâm cơm chỉ có hai má con bà Quản hạt và cô Tư Minh Nguyệt. Bà Quản hỏi gặng nàng dâu:

– Thứ bảy tới, chồng con có về đây thăm nhà không?

Cô Tư:

– Thưa má, ảnh có nói với con mỗi chiều thứ bảy ảnh sẽ về đây thăm tía má.

Bà Quản Thất không nói gì thêm, lếu láo ăn cho xong bữa. Bà lo lắng lung lắm. Thằng con trưởng của bà tuy có qua mặt được luật pháp nhưng làm sao lọt khỏi luật nhơn quả trả vay! Cơn trốt kia biết đâu sẽ là cú mở màn để trừng phạt con bà! Í hị, công trình bà hoạn dưỡng lũ cây ma quỉ kia, chỉ một cơn trốt đã bị bứng gốc. Không biết bùa chú của bà cứu sống được bao nhiêu phần đây! Chỉ nghĩ quẩn nghĩ quanh hũ bùa ếm và lũ cỏ cây kia mà bà húp cháo như húp nước cơm lạt, ăn thịt vịt như ăn giấy xúc.

Bữa ăn tối vừa tàn thì trăng đã lên rọi sáng sân trước và hàng ba. Bà Quản Thất bước qua căn phòng luyện bùa ngải. Con Phước Vân cũng vừa ăn cơm xong. Bà hỏi:

– Mầy nhắm coi có cứu sống được lũ ngải nghệ kia không? Tao chỉ mong rễ con tuy đứt nhưng rễ cái và gốc vẫn còn nguyên.

Con Phước Vân bùng thụng bùng thịu:

– Bẩm bà lớn, làm sao tui biết được! Loại cây cỏ nầy đâu có phải thứ tầm thường. Tụi nó sống như loài động vật chớ có sống như thực vật đâu! Tui đã tưới gốc bằng nước linh, đã đốt đạo bùa gọi tinh linh tụi nó đừng bỏ gốc bỏ cây, tuy nhiên cỏ cây, trùng thú, con người đều có số mạng, tui cứu được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Bà Quản dặn:

– Sáng mai, mầy ra Ngã Ba Trung Lương đón xe đò đi Sóc Trăng thỉnh Tà Nặc về đây cho tao. Tối nay tao viết thơ gởi cho ổng.

Rồi bà thân mật hỏi:

– Mầy sắc thuốc uống chưa?

– Tui vừa uống thuốc hồi chiều. Chắc bà phải đổi thầy cho tui quá. Mấy thang thuốc thầy Tám Kỉnh hốt, tui sắc uống như uống nước lã, như uống nước củ hoài sơn, chẳng hiệu nghiệm gì hết!

Bà Quản Thất quở:

– Thầy Tám Kỉnh là danh y vùng nầy. Mầy uống thuốc của thẩy cũng cần phải tin tưởng mới được. Mới uống có hai thang mà mầy đã chê rồi!

Hai thầy trò dắt nhau ra chỗ trồng ngải nghệ. Ánh trăng mười bốn bây giờ đã soi rõ mọi nơi. Và cũng nhờ ánh trăng trong vắt tỏ ngời đó, cả hai mới thấy hoạt cảnh đang diễn ra. Những sinh vật người không phải người, thú không phải thú, nhảy múa chập chờn trên các ngọn ngải nghệ. Thân thể chúng như kết hợp bằng giải lụa, giải the có thắt nơ thắt múi, trổ ánh dạ quang như loài nấm sáng. Con Phước Vân mừng rỡ:

– Vậy là thầy trò mình đã cứu sống được tất cả rồi.

Bà Quản hạt chỉ nói hai tiếng “May thiệt!” rồi bỏ vô nhà. Cô Tư Minh Nguyệt đang ngồi đan áo bên thếp đèn Huê kỳ. Còn cô út Thiên Kim ngồi thêu áo gối. Bà Quản hạt bảo nàng dâu:

– Thằng chồng con mắc nhiều chuyện lu bù, tao chỉ sợ nó quên chiều thứ bảy nầy không thèm về đây. Tao nóng ruột quá, mai tao sẽ đánh dây thép nhắc nó cho chắc.

Bà Quản hạt Thất nôn nóng muốn bàn với thằng con trưởng về vụ cái hũ bùa ếm bị bể. Nhưng cô Tư Minh Nguyệt thì không nghĩ vậy. Cô tưởng bà muốn chồng cô về đây phối hiệp với cô, để cái thai được tượng hình. Cô đã uống thuốc do bà chế tạo, đã uống nước bùa, đã được bà làm phép để biến cái dạ con sượng ngắt của cô thành cái dạ con lành mạnh. Ðất đã dọn sẵn, đã bón phân, chỉ cần đợi hột tgiống gieo lên mà thôi. Nghĩ tới đây, cô nghe hây hây sung sướng. Và cô tưởng tượng tới những ngày sắp làm mẹ, tới đứa con trai kháu khỉnh, thắt chặt tình chồng vợ giữa cô và bác sĩ Hữu Thạnh ngày thêm thắm thiết vững bền.

Cô út Thiên Kim vừa thêu mặt gối vừa nghĩ về đám cưới sắp tới. Cô thấy lòng mình lơ lửng bàng hoàng chớ không hăm hở hăng hái như trước, bởi cô vừa nghe hàng xóm láng giềng đồn rằng độ tuần lễ nay, cậu Bảy Trinh Tường mon men chà lết ở xóm ống Cống, quết xảm trên ghế nhà ông Hai Dần không biết bao nhiêu lần rồi. Chém chết cậu không tò vè ve vãn cô Hai Kim Ðiệp thì cô cùi sứt móng đi! Cắt đứt việc đính hôn là do cô đề xướng. Xua cậu Bảy ra khỏi nhà cũng do cô chủ trương. Nhưng cô vẫn còn yêu cậu Bảy, dù tiếng gọi của địa vị, của danh vọng có mãnh liệt thế mấy. Ngọn lửa tình trong lòng cô tuy đã dập ngọn nhưng vẫn ngún âm ỉ. Lại nữa cái con Hai Kim Ðiệp kia, một khi lọt vào mắt xanh cậu Bảy rồi thì hình bóng nó choán hết trái tim cậu, xua đuổi hình bóng cô ra ngoài. Chỉ nghĩ tới đó mà tim cô thắt, ruột cô quặn, lá lách lá mía cô teo tóp. Kỳ cục! Thà cậu Bảy Trinh Tường trôi nổi ở đâu rồi lấy vợ chốn khách địa tha hương khuất mắt cô, đằng nầy cậu lại lăm le lấy vợ vùng nầy, nhè “con quạ xóm ống Cống” mà cáp đôi thì cô chịu sao nổi, nhột nhạt sao thấu!

Cô út Thiên Kim có tánh đố kÿ. Cô không muốn cô gái nào ở vùng nầy qua mặt cô về tài sắc, địa vị người chồng. Cô có mặc cảm thua sút cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga. Cô sợ hai cô em nhà chú mình ăn học giỏi, mai sau lấy chồng có địa vị cao thì cô sẽ chìm lỉm trước mặt họ một cách thảm hại. Giờ cô lại bắt đầu ganh ghét cái hạnh phúc sắp lọt vào tay cô Hai Kim Ðiệp.

Bà Quản Thất nhắc nhở:

– Hai chị em bây liệu mà ngủ sớm. Sáng mai tía tụi bây rủ dượng Hội đồng bây về đây chơi. Bay phải nấu nướng cơm nước sao cho tươm tất mới được. Con út nhớ chọn hai con cá lóc lớn cỡ bắp tay nấu món cháo cá giò heo cho má.

Ðầu canh hai, cô Tư lẫn cô út thu xếp rổ may rồi ai trở về buồng nấy. Ðêm mùa hè trăng sáng vằng vặc, hèn chi con đỗ quyên trong đám lá dừa nước kêu ra rả. Giờ nầy hương dạ lý và hương cau bắt đầu thoảng nhẹ. Cô Tư Minh Nguyệt khi trở về buồng riêng, cởi chiếc áo bà ba bằng lụa mỏng in bông đỏ lá xanh, mặc chiếc áo túi bằng vải ba-tít mỏng màu hường. Cô đóng cửa sổ lá sách rồi vặn ngọn đèn chong trên bàn đêm, để ngọn lửa nhỏ cỡ hột đậu phọng. Khi thả dài trên giường, cô lăn trở một chập rồi ngủ hồi nào không hay. Bỗng cô thấy quan kinh lý Tống Hữu Thận, chồng trước của cô, đứng bên giường, mặt mày xanh lè xanh lét. Ông ta ú ớ không nói được, le lưỡi ra cả tấc, trên lưỡi có dán lá bùa. Rồi ông có vẻ cố gắng hết sức mới thốt ra được bốn tiếng:

– Thằng Thạnh hại tui!

Hồn ma ông tan biến ngay khi một bóng đen khác xuất hiện, xua đuổi. Cô Tư giựt mình thức giấc, mồ hôi tuôn ướt áo. Cô trằn trọc suốt phần đêm còn lại, lòng phân vân không ngớt. Chồng cũ của cô bị bác sĩ Hữu Thạnh hại? Chuyện đó có thể xảy ra. Nhưng sự giao hảo đôi bên nào có sứt mẻ gì để bác sĩ Thạnh thù oán kinh lý Thận? Khi chồng cũ của cô qua đời, mãi tới một năm rưỡi sau, bác sĩ Hữu Thạnh mới đến thăm cô, cám cảnh đơn chiếc của cô bèn ngỏ lời cầu hôn, săn sóc vợ goá của bạn mình. Ối mộng triệu bá láp, chiêm bao tầm phào làm sao đủ tin! Cô vẫn nghe lời đồn đãi về cái chết người chồng cũ, nhưng cô nghĩ vì mình không đợi ba năm tang chế mà đã tái hôn nên thiên hạ dèm pha, phao vu vậy thôi.

Giữa lúc cô Tư Minh Nguyệt thao thức thì bà Quản Thất đang đọc thần chú trước bài vị và hình nhân quan kinh lý Hữu Thận. Xong bà đốt một đạo bùa. Con Phước Vân rót trà sâm vào tách, bưng lại đặt trước mặt bà:

– Mời bà lớn uống cho lợi sức rồi về buồng nghỉ ngơi.

Bà Quản hạt buồn rầu:

– Tao dùng bùa chú để bịt miệng hồn ma, kẻo nó hiện hồn tố cáo chuyện án mạng với ba má nó và vợ cũ của nó. Song bùa chú nầy chỉ hiệu nghiệm bảy ngày mà thôi. Chỉ có ông Tà Nặc mới đủ phép thần thông bắt hồn ma bỏ vào tĩn như cũ. Khi tới Sóc Trăng, mầy phải đến Xoài Cà Ná mời Tà lên đây càng sớm càng tốt. Tốn hao bao nhiêu, quan thầy thuốc (chỉ bác sĩ Hữu Thạnh) và vợ chồng tao không dám tiếc đâu.

Bà móc túi đưa con Phước Vân tờ giấy 100 đồng in hình bộ lư và tờ 20 đồng in hình con công:

– Bởi gấp quá, tao không sắm sửa lễ vật để kỉnh Tà. Mầy đưa 100 đồng nầy thay thế lễ vật. Còn 20 đồng nầy mầy để dành làm lộ phí.

*

*  *

Cũng trong đêm đó, tại nhà bà Ba Các, bà Hai Lầu cùng cả nhà và bà Hương bộ Khâm vây quanh bàn trà bánh để hàn ôn đủ mọi chuyện xưa sau. Ðêm nay bà Hương bộ Khâm ngủ tại nhà bà em chồng mình, trước để hầu chuyện bà Hai Lầu, sau là trổ tài làm mai cho cậu Ba Kim Lân kết hôn với cô Tư Ngọc Nhan, và cho cậu Tư Kim Luông kết hôn với cô út Ngọc Nga.

Bà Hai Lầu đẹp dạ lắm khi ngắm hai cô cháu gái xinh tươi yểu điệu của mình. Bà bảo hai cô:

– Má khuyên hai đứa bây chớ có đèo bòng tới chỗ cao sang quờn tước làm chi. Lấy chồng nên lựa chỗ biết đạo lý, có âm đức là hơn. Má thấy thằng Lân, thằng Luông phải trang hiền nhơn quân tử, tướng tá phải thế trượng phu, lại có hậu vận tốt. Hai đứa tụi nói sánh với chị em bây thiệt tương đồng.

Cô Tư Ngọc Nhan nói theo người bác dâu:

– Con chẳng biết nhắm tướng gì ráo trọi. Con chỉ biết vưng lời người trưởng thượng mà thôi. Hễ má con và má đặt con ở đâu thì con xin ngồi đó.

Cô út Ngọc Nga háy chị mình một cái nháng lửa rồi “xí” dài. Má tui có tấm lòng chơn chất, nghĩ sao nói vậy. Ai dè bả đẻ ra một cô gái miệng lưỡi điêu xảo chẳng ai địch lại. Bởi chị ta phải lòng anh Ba Kim Lân rồi nên mới làm bộ đặt đâu ngồi đó. Thử hai má đòi gả chị ta cho đám khác coi, chỉ sẽ phản đối và xổ cái quan niệm tự do luyến ái, tự do hôn nhơn liền một khi!

Cô Tư Ngọc Nhan liếc qua bộ mặt chim bỉm của em, ỏn ẻn bảo bà Hai Lầu:

– Tư Kim Luông bảnh trai, ăn nói duyên dáng, tánh tình cởi mở vui vẻ. Vậy mà con út nhà nầy chê y ta con nít.

Cô Hai Ngọc Dung châm thêm bình trà mới, bày thêm bánh nướng, bánh hấp:

– Bác Hương bộ và hai má chưa biết gốc ngọn vụ con út và cậu Tư Kim Luông. Số là cậu Tư ưa chọc ghẹo con út. Hễ con út mặc áo lụa vàng, cẩu nói nó té vô nồi cà-ri; hễ nó mặc áo lụa xám, cẩu chọc nó giống con cá thác lác; hễ nó mặc áo sa-teng đen, cẩu so sánh nó với con cá trê. Con út rủa cẩu là đồ vô duyên, đồ miệng cá vồ… mỗi khi bị cẩu ghẹo.

Rồi cô ngó chăm bẳm vào cô út Ngọc Nga:

– Nè út, chị Hai thấy có điều lạ lắm: tuy em mắng cậu Tư mỗi khi cẩu ghẹo em, nhưng khi có áo mới, em cứ tìm cách bẹo hình bẹo dạng trước mặt cẩu luôn luôn. Sao lạ vậy út?

Mọi người cười rộ. Cô út Ngọc Nga đỏ mặt tía tai, nguýt cô Hai Ngọc Dung:

– Xời ơi, chị nói vậy mà nghe được! Ai bẹo hình bẹo dạng hồi nào?

Cô ngoe ngoảy bỏ vào buồng. Cậu Ba Ngọc Toản che miệng ngáp rồi than:

– Ðờn bà con gái thiệt rắc rối! Bác Hương bộ và hai má chưa biết cái màu mè của con Tư với con út đâu. Xuất sắc lắm đó!

Cô Tư Ngọc Nhan liếc xéo anh rồi rút vô buồng riêng. Bà Ba Các vui vẻ lắm. Bà rất mến gia đình ông Hai Dần và mong được làm sui với ông. Trai tráng làng nầy, theo bà thì đâu có ai xứng đáng làm rể bà hơn cậu Ba Kim Lân và cậu Tư Kim Luông.

Bà Ba Các rót trà cho chị dâu mình và chị dâu chồng, giọng náo nức:

– Con Tư coi bộ chịu màu cậu Ba Kim Lân rồi. Còn con út thì tuy ỏn ẻn chê đè nhưng trong bụng nó cũng ưng. Ai mà lạ gì con út! Cục điệu của nó bự cỡ cái thúng giạ. Chị em mình cứ tính tới đi. Nếu mình tính lui, con Tư thất vọng chỉ hai ba, chớ con út thất vọng tới chín mười.

Bà Hai Lầu cười:

– Con gái đứa nào mà chẳng điệu, không nhiều thời ít. Chị Hương bộ cứ trổ tài mai mối đi, chị em tui không quên cái đầu heo thiệt bự cho chị đâu.

Bà Hương bộ Khâm cũng cười:

– Thì tụi nó không phải là cháu tui hay sao? Chị là bác dâu tụi nó, thì tui cũng là mợ dâu tụi nó vậy. Hồi cô Ba đây (chỉ bà Ba Các) đẻ tụi nó, chính tui đây nấu nước lá thơm tắm cho tụi nó chớ ai!

Cô Hai Ngọc Dung nhìn ra sân. Bóng trăng đã nằm trên cây mận hồng đào. Có lẽ đã vào giữa canh ba rồi. Cô đi thắp một tuần nhang trên bàn Phật rồi thưa:

– Mời bác Hương bộ vô phòng má Ba cháu nghỉ ngơi. Cháu đã trải chiếu giăng mùng rồi.

Bà Ba Các dặn dò:

– Sáng mai con nhớ dậy sớm nấu cho má Ba nồi cơm nếp trộn dừa nạo.

Bà Hương bộ Khâm nhìn cô Hai Ngọc Dung lom lom:

– Còn cô Hai nhà nầy nữa. Cô không tỏ vẻ sốt sắng khi chị Giáo Toàn đem trầu cau tới hỏi cô cho con chỉ là thầy giáo Hớn. Cô phải lấy chồng trước hai đứa em cô mới là phải chớ.

Cô Hai Ngọc Dung:

– Thưa bác Hương bộ, cháu có nguyện hễ khi thằng em cháu thi đậu bằng thành chung rồi cháu mới chịu đi lấy chồng. Ðó là thuở cháu không rõ má cháu sống chết ra sao, trôi giạt nơi nào. Nay nhờ ơn đức tổ tiên, má cháu đã về đây sum hiệp, vậy thì quyền định đoạt chung thân của cháu là do hai má cháu, cháu đâu dám cãi lịnh trên.

Bà Hương bộ khen:

– Con nầy nói nghe được lắm. Tấm lòng hiếu thảo của nó sẽ thấu tới Trời Phật chớ chẳng không.

Bà Ba Các:

– Con Hai đây cư xử đây đó vuông tròn, tụi em nó kính nể nó lắm. Thiệt tình, nhà nầy nhờ có nó mà trong ngoài ngăn nắp, lũ em nó không khi nào dám bước ra ngoài khuôn phép.

Bà Hai Lầu đi rửa mặt rồi về phòng. Mãi tới cuối canh ba, bà mới ngủ được. Trong cơn chiêm bao, bà thấy một chàng tuổi trẻ mặc áo dài trắng có lốm đốm máu tươi, đầu bịt khăn be đen, đi theo là một người đàn ông mặc âu phục bằng tít-so màu ngà. Người nầy mặt xanh như mắm chưa chao, miệng hả toác hoác bày cái lưỡi đỏ thén có dán bùa. Chàng trẻ tuổi nói:

– Tui là thần sấu đen nằm trong cuộc đất giáp ranh với đất ông bà Quản hạt Thất. Tui tu luyện trót năm trăm năm, sắp biến thành rồng thì bị bà Quản hạt mượn tay thầy bùa Kim Sang sai khiến tui tới phá hoại chốn sanh cơ lập nghiệp của gia đình bà. Dè đâu bà có phép trừ tà tróc quỉ, đánh tui bị thương. Nhờ bà cảnh tỉnh nên tui hết u mê ám chướng, thoát khỏi lớp sấu để trở thành con rồng bạch. Tui đến tạ ơn bà trước khi bay về biển Nam Hải, chầu đức Quán Thế Âm để nghe kinh.

Chàng ta chỉ qua người đàn ông mặc âu phục:

– Ðây là quan kinh lý Tống Hữu Thận, chồng cũ của vợ ông thầy thuốc Hữu Thạnh. Số là ông Hữu Thạnh thấy bà kinh lý có bóng sắc, tiền của nên động lòng tham, nổi ý chiếm đoạt. Ổng cho quan kinh lý đây uống thuốc an thần quá liều để bị vong mạng. Sau đó ổng mới cầu hôn bà kinh lý. Ðể tránh bị báo oán, ổng nhờ mẹ ổng làm phép nhốt hồn quan kinh lý vô hũ bùa chôn trong khu vườn trồng ngải nghệ. Dè đâu chiều qua, khi bà đẩy lui cơn trốt do tui gây ra, nó không thể tan ngay nên tui phải đẩy nó vào khu vườn ngải nghệ của bà Quản Thất. Ngọn trốt giáng xuống làm ngải nghệ tróc gốc, hũ bùa cũng bị đánh bể nát. Do đó mà hồn quan kinh lý đây được phóng thích. Nhưng bà Quản Thất dùng bùa ếm không cho hồn quan kinh lý đi tố cáo hành vi tàn ác của bác sĩ Hữu Thạnh. Bả còn tính mời Tà Nặc ở Trà Vinh lên làm phép bắt nhốt hồn quan kinh lý vô hũ như trước. Thấy tình cảnh đó, tui không nỡ toạ thị điềm nhiên, nên dắt ổng tới đây gặp bà. Xin bà có kế chi giúp ổng để vong linh ổng được siêu thoát, để cái án mạng kia phơi ra ánh sáng công lý. Ðược vậy thì âm đức bà thêm lớn, tích lũy cho con cháu về sau. Bà coi đây, lưỡi ổng bị dán bùa thì làm sao ổng nói được?

 

Chương năm

 

 

Ðám giỗ trôi qua. Sau bữa giỗ chánh, cậu Ba Ngọc Toản cứ nhớ nhung cô Hai Tố Oanh nên có vẻ ngẩn ngơ tư lự. Suốt ngày cậu thơ thẩn ngoài vườn, lửng đửng lờ đờ như con ốc mượn hồn.

Mặt trời vừa khuất mái hiên, cô Hai Ngọc Dung xách nồi đồng đi nấu cơm. Thức ăn trong hai bữa giỗ còn dư chút ít. Cô sẽ làm thêm món cá duồng nấu ngót và món cá đối kho lạt.

Ba Ngọc Toản từ ngoài vườn bước vào, đứng bên khung cửa ngó ra chiếc xẻo lênh láng nước, lóng lánh ánh hoàng hôn. Ngoài xa là bãi dừa nước, tàn lá dựng tua tủa đuôi phụng. Cậu buồn hiu hắt, se thắt tim gan, bàng hoàng hồn phách. Tâm trí cậu hướng về Xóm Tre, vùng đất gò, không có ao bàu, lung vũng, rạch ngòi gì ráo. Mỗi nhà đều có giếng. Ruộng trũng vây quanh đất gò mới có vài bàu nước, vài dòng khe nhỏ. Vậy mà ông Ðốc học Thông đã nối chí ông cha lập nghiệp an cư ở đó, có toà cao lẫm lớn, vườn cây thạnh mậu, rẫy bái sum sê. Dòng họ ông đã sản sanh một bực liệt nữ để phối hợp nhơn duyên với trang nghĩa sĩ sản sanh trong dòng họ cậu.

Từ nhỏ, cậu Ba Ngọc Toản có nghe các ông già trong xóm trầm trồ rằng mặt mũi tay chơn cùng bộ đi tướng đứng cậu giống y chang ông cố chú của cậu là nghĩa sĩ Trần Văn Bôn. Lại nữa, khi ông Ba Các sắp từ trần, có cầm tay vợ dặn: “Ðêm qua, tui thấy má tui hiện hồn về nói rằng thằng Ba Ngọc Toản đây là hiện thân ông chú của tía tui, mai sau nó sẽ vang danh phận ở nghiệp võ. Bà dặn tui khuyên mình rán nuôi dạy đám nhỏ. Mai sau tụi nó sẽ làm nên sự nghiệp vẻ vang cho gia đình mình”.

Thiệt tình bà Ba Các và đám chị em cậu Ba Ngọc Toản chẳng mảy may tin tưởng về lời trối trăn của ông Ba Các. Họ nghĩ ông muốn mượn lời dị đoan để cho vợ thêm can đảm và phấn chấn để gầy dựng cho bốn anh em cậu.

Từ tuần lễ nay, cậu Ba Ngọc Toản thích sống một thế giới riêng để tưởng nhớ cô Hai Tố Trinh. Mỗi lần cậu Ba Kim Lân và cậu Tư Kim Luông qua chơi, cậu để cho hai em gái mình tiếp đãi. Trong những ngày nhà có giỗ chạp, buộc lòng lắm cậu phải rời buồng để phụ mẹ và thím dâu tiếp đãi khách khứa. Bữa giỗ chánh trôi qua, cậu có cảm tưởng như vừa trút một gánh nặng.

Bà Hai Lầu ngỏ lời với em dâu, tối nay sẽ tổ chức tụng kinh Dược Sư. Bà Ba Các gọi cậu Ba:

– Con đi mời bà Hai Dần, bà giáo toàn, bác Hương bộ gái, thím Chín Ồn, dì Mười Ấn tối nay tới đây nghe tụng kinh.

Cô Hai Ngọc Dung bảo thím dâu:

– Bánh trái còn dư con đã biếu tặng hàng xóm hết rồi. Tối nay chắc con phải nấu nồi chè đậu xanh phổ tai.

Bà Ba Các lắc đầu:

– Còn một quả bánh gai, một quả bánh qui. Tối nay con nấu cho má Ba nồi cháo chay cho mấy bà giải lao.

Thím Chín Hiệp giành:

– Ðể tui nấu cho.

Ba Ngọc Toản đội nói cối đến nhà các bà bạn tâm giao của thím mình. Ở nhà ông bà Hai Dần đã có mặt cậu Bảy Trinh Tường và cô Hai Tố Trinh. Hôm nay cậu Bảy ăn mặc theo lối dân miệt vườn, quần dài và áo bà ba bằng vải xiêm đen chưa gột hết lớp hồ bóng loáng. Tóc cậu thấm nước, chải rẽ bảy ba làm khuôn mặt cậu sáng mát hơn. Cô Hai Tố Trinh mặc chiếc áo bà ba bằng hàng thượng hải màu khói nhang thêu bông tím tươi, quần cẩm trước đen viền ren. Vì trời nực, cô không kẹp tóc mà bới đầu lèo, phô cái ót trắng như ngó sen, ngó cần. Cậu Ba Ngọc Toản nhìn cạnh vành tai hữu của cô gái. Quỉ thần thiên địa ôi, quả thiệt cô Hai có nút ruồi son như cậu đã thấy trong chiêm bao. Cậu lặng người nhìn cô, vẻ bàng hoàng sửng sốt. Còn cô Hai Tố Trinh cũng lặng người nhìn cậu. Chèn ơi, cậu Ba mặc áo sơ-mi cụt tay, cái nút gần cổ không gài để phô một phần ức. Kìa kìa cái nút ruồi son tròn xinh như hạt đậu nằm ở sũng ngực cậu.

Cô Hai Tố Trinh lên tiếng, phá tan bầu không khí bứt rứt:

– Hôm nay chú Bảy rủ em qua lấy bún lá hẹ, bánh hỏi, bánh nghệ về Xóm Tre. Mai là đám giỗ ông cố em.

Bảy Trinh Tường vỗ trán:

– Chút nữa tui quên. Mai, nếu rảnh cậu tháp tùng ba chị em nhà nầy qua bên Xóm Tre ăn giỗ nghe?

Ba Ngọc Toản cười:

– Mai em rảnh.

Và cậu chỉ biết ngây người nhìn cô Hai Tố Trinh. Có cậu Bảy, cậu khó mà bắt chuyện với cô Hai nên đành từ giã ra về, lòng tiếc hùi hụi. Khi cậu ra tới cổng, cậu Tư Kim Luông bảo nhỏ:

– Ngày mai chỉ có chị Hai tui qua bên đó thôi. Bà Ðốc Thông cậy chỉ nấu cho bả món cháo lòng bò nên chỉ khó từ chối. Còn hai anh em tui qua bển làm chi!

Ba Kim Lân cười:

– Anh em tụi tui có hẹn với cô Nhan và cô Nga trưa mai tới ăn ốc luộc ở bên anh đó.

Ba Ngọc Toản trả lời tỉnh rụi:

– Không hề gì, ngày mai tui đi một mình qua Xóm Tre được mà.

Sắc mặt cậu vẫn nghiêm chỉnh. Cậu Ba Kim Lân liếc cậu Tư Kim Luông, cười chúm chím.

Trên đường về nhà, cậu Ba Ngọc Toản cảm thấy tâm hồn mình mở quạt, lòng dạ mình mở cờ. Niềm hạnh phúc phơi phới muốn biến cậu thành cánh én, cánh diều bay lên thinh không.

Khi cậu về tới nhà thì cơm chiều vừa dọn lên. Cả nhà ngồi quanh mâm, ăn uống cầm chừng, bụng hãy còn rêm vì hai bữa giỗ vừa qua. Tuy nhiên ai cũng cảm thấy khoẻ khoắn thảnh thơi vì cuộc sống êm đềm thường nhựt được trả lại. Cậu Ba buông đũa sớm nhứt. Khi cậu ra ngoài dãy lu chứa nước mưa, cầm gáo múc uống ừng ực thì cô út nhỏ nhỏ với mẹ và hai chị:

– Lạ hén, mọi bữa anh Ba ăn như cọp beo; giờ đây ảnh ăn uể oải cho xong bữa. Không lẽ ảnh nhuốm bịnh?

Cô Tư Ngọc Nhan cười:

– Lạ thiệt, bịnh gì mà biếng ăn biếng nói, biếng soi mói hai con em, chỉ ưa đi dạo ngoài vườn, bày đặt đánh đờn nữa chớ!

Cô út Ngọc Nga lém lỉnh:

– Ừøa, ảnh còn mần thơ nữa… chừng sáu bảy bài gì đó.

Cô Tư, cô út cứ tiếp tục lạ thiệt, lạ hén kể thêm các thay đổi của anh mình. Từ trong buồng cậu Ba, bỗng vẳng ra tiếng nguyệt cầm. Cô Hai Ngọc Dung dằn không nổi cơn cười. Bà Ba Các cùng hai cô con gái cũng cười rộ lên.

Cô Hai mắng hai em:

– Tụi bây cứ chòi mòi chọc mọc hoài. Anh bây vừa lớn lên, biết yêu biết nhớ nhung là… chuyện thường.

Bà Ba Các hăm he:

– Hai đứa bây mà bóng gió chọc ghẹo nó thì liệu hồn. Nó hiền chớ cộc lắm đó!

Cơm nước xong, cô Tư và cô út lo rửa chén dĩa và chùi soong chảo. Cô Hai vút nếp để hấp xôi và làm bánh xôi vị. Bà Ba Các sửa soạn bánh trái, trà nước để tiếp đãi các bà bạn già lối xóm. Tối nay sau màn tụng kinh là màn giảng kinh. Bữa cháo chay và trà bánh sẽ kết thúc buổi họp. Sớm mai, các bà sẽ đi viếng am Phương Liên của sư cô Diệu Quả ở cách bến chợ Trung Lương hai cây số. Trưa, sau bữa ngọ phạn tại am nầy, họ sẽ đi Rạch Miễu viếng am Quỳnh Hương của bà Hương giáo Chúc đã thọ giới ưu bà di năm ngoái để tụng kinh Phổ Môn, sáng mốt mới về.

Khi trã xôi đặt trên nồi nước nóng bốc hơi, cô Hai mở hai cái vịm sành, coi lại ốc lác ốc bươu ngâm trong đó. Chèn ơi, hai thứ ốc nầy ở dọc theo kinh Bà Bèo mập núc. Chỉ cần ngâm một đêm trong nước mát là chúng nhả hết bùn đất ra để thịt ốc trắng thơm. Mai cô sẽ luộc ốc với lá sả, lá ổi, lá bưởi để các em cô ăn với nước mắm gừng.

Khách lục tục kéo tới. Chỉ có bà Giáo Toàn và bà Hương bộ Khâm chịu ngủ lại. Bà Ba Các và thím Chín Hiệp rửa mặt chải đầu, thay áo bà ba sạch để tiếp khách. Bà nào cũng đem theo hai quả bánh để ngày mai hành hương cúng dường cho am Phương Liên và am Quỳnh Hương.

Bà Hai Lầu hỏi em dâu:

– Mấy chị em tụi nó đâu rồi? Sao không ra đây lạy Phật và nghe tụng kinh?

Bà Ba Các vừa thắp nhang vừa trả lời:

– Con Hai đang hành kinh, nó lục đục dưới bếp. Thằng Ba là con trai, khó thể trà trộn trong đám đờn bà con gái. Con Tư và con út đang tắm gội cho sạch sẽ, tụi nó sắp ra bây giờ.

Khi bà Hai Lầu tụng kinh ở trung đường thì cậu Ba xuống bếp hỏi chị:

– Chị có làm xôi vò và bánh xôi vị nhiều không?

Cô Hai than thở:

– Chị đâu có dè mấy bà đem nhiều bánh trái để mai đi hành hương nên chị ngâm nhiều đậu nếp quá!

Cậu Ba bảo:

– Em cần một mâm xôi vò không lớn lắm và một quả xôi vị. Ðược không chị?

– Ðược chớ. Nhưng em cần xôi, bánh làm chi?

Ba Ngọc Toản cười:

– Ðể mai đem qua Xóm Tre. Ngày mai bên ông bà Ðốc Thông có đám giỗ.

– Ðể chị lo cho.

Cậu Ba không trở về buồng mà đi thơ thẩn ngoài sân. Ðêm yên tĩnh. Trăng cận rằm rải ánh sáng mát lạnh. Con sông Bảo Ðịnh chảy qua đám dừa nước hoặc đám vạt sành, tiếng nước róc rách. Tiếng đỗ quyên vẫn ra rả bên hai chiếc ao. Xa hơn nữa, những người đi nôm chim ngoài đồng, ánh đuốc đỏ rực, tiếng gọi nhau thỉnh thoảng cất lên.

Bên phòng cô Tư có tiếng cười giỡn của hai cô em con nhà chú của cậu. Các cô đó làm gì cậu cũng thấy chướng. Cậu thấy họ điệu đà, nghĩ bắc nói nam, lâu lâu lại nghịch ngầm, lém vặt. Cô Hai Tố Trinh khác họ, cô nghiêm chỉnh, tuy dịu hiền mà vẫn có vẻ cương nghị, quả cảm. Cô Hai Tố Trinh giống cô Hai Ngọc Dung nhiều điểm nhưng yểu điệu, dồi dào nữ tính hơn chị cậu. Ba Ngọc Toản vốn nặng óc gia đình. Dĩ nhiên cậu yêu mến chị và hai cô em cậu, luôn luôn chiều chuộng họ nhưng cậu không thể hợp với họ, từ cái lớn tới cái nhỏ. Bởi đó, cái thế giới đờn bà con gái dưới mái nhà nầy còn xa lạ với cậu lắm. Từ mấy tuần nay, Ba Ngọc Toản bỗng cảm thấy tâm hồn mình đổi khác, đời sống trở nên ấm áp khi cô Hai Tố Trinh xuất hiện.

Khi khách tới đầy đủ, mọi người bắt đầu tụng kinh thì cậu Ba rút về phòng, làm thơ:

Là duyên hay cũng nợ ba sanh?

Lẽo đẽo bên tôi một bóng hình

Chim dẫu khác phương mơ nối cánh,

   Cây tuy cách khoảng mộng giao nhành.

Ðèn trăng leo lét buồn bao kẻ

Lệ nến đầm đìa tuôn trắng canh.

Cánh nhạn lưng trời đau lẻ bạn,

Bay qua còn rớt tiếng thanh thanh.

Cậu chép bài thất ngôn bát cú lên giấy trắng sạch sẽ rồi tắt đèn đi ngủ.

Sáng hôm sau, cô Hai Kim Ðiệp đem hai quả bánh ghé nhà bà Ba Các, rủ cậu Ba Ngọc Toản qua Xóm Tre. Cô Hai Ngọc Dung bảo:

– Ăn điểm tâm đã rồi hẵng đi.

Cô Hai Kim Ðiệp cười:

– Em ăn xôi vò rồi.

– Vậy thì ăn thêm chuối luộc hay bắp luộc cho vui.

Cô rót trà mời bạn. Trong khi cô Tư và cô út lo dọn mâm cháo, cậu Ba đi ủi quần áo, tắm rửa, o bế tóc tai.

Bà Hai Lầu cùng thím Chín Hiệp và các bà lối xóm đã đi hành hương từ cuối canh năm. Nhà chỉ còn bà Ba Các là bực trưởng thượng. Nhưng bà đang lui cui tưới rau, trầu, bông kiểng ở ngoài sân. Quanh mâm điểm tâm gồm cháo trắng, dưa mắm, cá lụn vụn kho tiêu, các cô nói chuyện lăng líu trong khi cậu Ba lầm lì, cần mẫn ngồi ăn cháo.

Ðêm qua cậu nằm chiêm bao thấy từ gốc cau đã chết có chồi cau tơ vươn lên rồi trổ bông trổ trái. Một người đờn bà mặc áo trắng, mặt hiền hậu, mắt phụng mày tằm bưng một nhánh trầu đã héo, lá ngả vàng. Bà trồng nhánh trầu dưới gốc cau rồi cầm bình ngọc tráng men tưới nước mát vào gốc trầu. Lá trầu vàng rụng đi, từ chỗ vết thẹo, tược trầu mơn mởn nhú ra trở thành lá sởn sơ, dây trầu càng lúc càng dài thêm quấn vào thân cau.

Tỉnh dậy, cậu biết đây là điềm lành dù không hiểu thấu đáo lắm. Cây chết tái sanh để trở nên sum sê thạnh mậu là chuyện hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai. Cau trầu là chuyện hôn nhơn, chuyện bền bỉ như vàng như đá. Người đàn bà áo trắng đó là ai, phải chăng là đức Bạch Y Quán Thế Âm cầm tịnh bình đựng cam lộ?

Giữa lúc các cô Ngọc bàn chuyện luộc ốc dọn tiệc mời hai cậu Kim thì cô Hai Kim Ðiệp bỗng thấy một hột bụi sáng cứ lơ lửng trước mặt mình. Thừa lúc cô uống trà, chu miệng thổi tách nước cho mau nguội, hạt bụi chui ngay vô miệng cô. Biết có điềm dữ, cô không nuốt nước miếng và cũng không chiêu ngụm trà. Cô chạy ra hè, nạo cổ khạc thì quả nhiên trong nước bọt có một hột bụi lớn cỡ hột cườm tấm màu thiếc lạnh. Cô vít nó để trên lòng bàn tay rồi quay vào nhà, bảo cô Hai Ngọc Dung:

– Chị cho em một cái vịm đựng đầy nước rồi em sẽ chỉ chị coi một sự lạ.

Vịm sành sâm sấp nước được mang ra. Cô Hai Kim Ðiệp vẽ đạo bùa Lỗ Ban trên thành vịm rồi thả hạt bụi vào. Chỉ chừng giập bã trầu, hạt bụi nở lớn dần thành bộ lông nhím, tua tủa gai nhọn. Cô liền thuật cho bạn nghe mọi sự, từ lúc cô bị bà Quản hạt Thất xúc xiểm, ếm cọc sắt quanh hai chiếc ao cho tới vụ cô được thần chỉ cho cách học vẽ bùa Lỗ Ban.v.v.. Sau cùng cô chỉ bộ lông nhím, kết luận:

– Ðây là cách bà Quản Thất tính thư ếm em. Nếu em nuốt hột bụi thì nó sẽ lớn ra vậy đó, đâm lủng ruột, lủng bao tử em. Nhưng mà chị ôi, bả đâu biết em có bùa Lỗ Ban thượng thặng. Dẫu hột bụi có chui vô bụng em, một khi em vẽ bùa, nó cũng biến thành nước lã rồi chui theo đường đại tiện để ra ngoài.

Cô Hai Ngọc Dung trầm ngâm:

– Em đi chợ, thường gặp mấy con ở của bác Quản hạt gái. Tụi nó cho em biết rằng ba hôm nay có ông Tà Nặc ở Sóc Trăng tới viếng bác. Thế nào cũng có vụ đòn phép phù chú chớ chẳng không.

Cô Hai Kim Ðiệp khuyên:

– Chị nên thỉnh bác Hai vài món bùa món niệc để cả nhà đeo, đề phòng hiểm họa.

Khi nắng lên cao, mặt trời mọc ở ba sào, cậu Ba Ngọc Toản giục cô Hai Kim Ðiệp qua Xóm Tre ăn giỗ.

*

*  *

Hôm nay là ngày giỗ tiên, nhưng ông Ðốc học Thông cho rước ông bà sớm, tiệc đãi họ hàng vào buổi trưa, đãi chòm xóm vào buổi xế. Sáng mai là bữa giỗ chánh, tiệc sẽ đãi các thân hào nhân sĩ địa phương.

Vừa tới nhà ông Ðốc, cô Hai Kim Ðiệp đã lăn xả vô bếp để làm món cháo bò. Còn cậu Ba Ngọc Toản được gia chủ mời lên trung đường đàm đạo với các bực trưởng thượng.

Ông Ðốc học Thông gia tư có của ăn của để. Ông có bốn chục mẫu đất sáu mẫu vườn. Tuy Xóm Tre là vùng đất gò khô khan, nhưng nhờ bà vợ bương chải, giỏi nghề trồng tỉa nên dù ông bận dạy học, chỉ hiệp sức với vợ làm vườn cầm chừng mà huê lợi vẫn khá. Nhà ông ba căn hai chái, nền đúc đá da qui, cột gỗ căm xe, vách tường gạch tô hồ sơn vôi màu vỏ trứng, mái lợp ngói vảy cá, rõ ràng là một đại gia. Trong nhà toàn đồ gỗ quí, đồ cổ ngoạn đựng đầy hai tủ kiếng lớn.

Hôm nay ông Ðốc học mời các ông chú bà bác họ hàng của ông, những kẻ từng biết vận sự ông Bôn bà Tố tử tiết vào thuở xa xưa.

Khi cậu Ba Ngọc Toản ngồi trên chiếc đôn sứ thì Bảy Trinh Tường rót trà mời khắp mọi người và chắp tay thưa:

– Thưa các bác, các chú, các thím. Hôm nay cháu mời em Ba Ngọc Toản tới đây để các bậc trưởng thượng thử coi em Ba có giống cụ Trần Văn Bôn hay không!

Ông Hương cả Nhiều, quê ở Ngã ba Cái Bè hấp háy mắt, bảo mọi người:

– Giống như đúc khuôn, không sai một nét! Thiệt ra hồi đó cô út (chỉ bà Tố) tuy là vai cô tui nhưng cổ chỉ lớn hơn tui hai tuổi, dượng Bôn lớn hơn cô út một tuổi. Con Hai Tố Trinh thì giống cô út như hai giọt nước.

Ông Bang biện Viễn ở Cai Lậy cũng nói:

– Dượng Bôn giỏi võ mà hay làm thơ. Một bực tài hoa trung liệt như vậy, cô út tụi mình không liều mình giữ tiết liệt với dượng sao được!

Cậu Ba Ngọc Toản thưa:

– Thưa quí ông bà, cô bác, cháu còn giữ cây đờn kìm cẩn ốc xa cừ do ông cố chú của cháu để lại. Trải qua gần trăm năm mà đờn không điếc không câm, phím trục còn nguyên vẹn, tiếng kêu thiệt thanh tao.

Lúc đó cô Hai Tố Trinh bưng mâm rượu và mồi nhắm lai rai cho khách chấm chút trước khi nhập tiệc. Cô mặc chiếc áo bà ba bằng lụa mỏng màu tím lá cẩm có thêu đục lỗ ở cổ và ở lai. Tóc cô bới thiệt khéo có bao lưới giắt trâm. Tai cô đeo đôi bông hột xoàn, cổ cô đeo sợi giây chuyền có miếng mề đai cẩm thạch tạc tượng Quan Âm, đôi tay cô đeo đôi vòng vàng chạm mắt tre. Cô ăn mặc theo lối nửa chợ nửa quê mà mặn mòi, phục sức theo lối nửa cổ nửa kim mà lạ mắt.

Ông Ðốc Thông bảo con gái:

– Con vô buồng lấy cây quạt ra đây cho các bậc trưởng thượng coi chơi.

Cây quạt được chuyền tay, mọi người trầm trồ không ngớt. Bỗng ông Cai tổng Hiền, bạn của tía ông Ðốc học Thông, nhìn bài thơ đề ở góc quạt, ré lên:

– Chèn đét ơi, bài thơ đề trên quạt là bài thơ nôm, viết bằng chữ nôm đó bà con à!

Và ông đọc lớn:

– Là duyên hay cũng nợ ba sanh,

Lẽo đẽo bên tôi một bóng hình.

Bỗng cậu Ba Ngọc Toản đứng dậy, mặt đỏ lên, mắt ướt lệ, đọc phần còn lại của bài thơ rồi lảo đảo đứng dựa cột gỗ căm xe, chết điếng. Mọi người xúm lại, cô Hai Tố Trinh vẹt mọi người tới bên cậu, la thất thanh:

– Chắc anh Toản trúng gió!

Một bà đưa lọ dầu thiên đường, cô không sụt sè e ngại đón lấy, bôi lên màng tang cậu.

Bởi quá kinh ngạc trước điều xảy ra nên cậu Ba Ngọc Toản bị xúc động mạnh, có hành động thiếu tự chủ như vậy. Nhưng cậu sớm trấn tĩnh ngay. Ðối diện cậu là cô Hai Tố Trinh ôn nhu xinh đẹp đang săn sóc cậu. Cô bưng tách trà lại, ân cần:

– Anh uống trà thêm cho tỉnh người.

Cậu cầm tách, uống từng ngụm chậm rãi, lòng rung động bồi hồi. Cô nhẹ nhàng:

– Anh đã đỡ chưa?

Cậu Ba cười gượng gạo:

– Cám ơn cô. Bỗng dưng tôi chóng mặt, không hiểu vì sao. Giờ thì đỡ lắm rồi.

Ông Cai tổng Hiền thắc mắc:

– Sao cậu thuộc lòng bài thơ đề trên quạt? Cậu biết đọc chữ Nôm à? Cậu đã thấy cây quạt nầy lần nào chưa?

Ba Ngọc Toản nói trớ:

– Thưa ông, cháu không biết chữ Hán và chữ Nôm. Ðây là lần đầu tiên cháu thấy cây quạt nầy, nhưng hình như cháu đã đọc bài thơ ở đâu đó rồi quên mất. Giờ nghe ông đọc hai câu đầu, cháu vụt nhớ nguyên bài.

Cậu lấy lại bình tĩnh, trở lại chỗ ngồi. Trời ơi, làm sao cậu có thể kể cho mọi người hiểu, đêm qua cậu đã sáng tác bài thơ cảm hoài nầy! Phải chăng cậu là hậu thân của ông Bôn?  Nhưng dù sao đi nữa, cậu cũng không thể vịn vào vài suy diễn phất phơ để làm mọi người hoang mang được.

Ông Ðốc Thông bảo cậu Bảy Trinh Tường:

– Em đưa cháu Toản đi dạo một vòng cho thoáng khí.

Không khí trong trung đường hơi căng thẳng vì thắc mắc về bài thơ chưa được giải đáp thỏa đáng, nhưng ông Ðốc học đã xoay qua chuyện làm ăn để đánh lạc hướng.

Cô Hai Tố Trinh tháp tùng theo cậu Bảy đưa Ba Ngọc Toản đi thăm vườn rẫy. Ở đây thuốc lá và đinh hương được trồng trên những luống dài. Ðất tuy khô khao nhưng được bóng mít nghệ, cây còng, cây me keo che rợp. Chỗ trũng có đào ao, có cầu nhủi để tiện bề gánh nước. Hàng rào tre gai che kín khuôn viên bện thêm hàng rào xương rồng, cây độc trụ ở phía trong. Một con lạch nhỏ nối liền ao ra chiếc đầm lớn ngoài vùng ruộng trũng.

Trên gò đất cao, cây da xà buông rễ lòng thòng. Dưới gốc da có ngôi miễu nhỏ. Vùng đất gò rất thích hợp với đu đủ nên bà Ðốc cho trồng đủ loại đu đủ, nhiều nhứt là đu đủ xiêm màu gạch ửng tím ngọt lịm. Ngoài mít, dừa, đu đủ là những gốc cau, những nọc trầu.

Cô Hai Tố Trinh ân cần:

– Sau bữa giỗ trưa nay, em có việc cần ra chợ Mỹ, chiều tối mới về. Anh ở chơi với chú Bảy em chờ em về nghe anh.

Cậu Ba từ chối:

– Tôi cũng có vài việc cần làm nên phải về trước bốn giờ chiều. Hôm nào rảnh, tôi sẽ ở chơi lâu hơn.

Hai đàng nhìn nhau đắm đuối. Bảy Trinh Tường thấy hết và chỉ cười chúm chím chứ không nói tiếng nào.

Xế hôm đó, Ba Ngọc Toản từ giã ông bà Ðốc học ra về. Cậu về nhà mà lòng u hoài thắc mắc ngổn ngang về sự trùng hợp giữa bài thơ cậu làm đêm hôm trước và bài thơ đề trên quạt bướm.

Tại nhà bà Ba Các, dưới bóng cây mận hồng đào, hai cậu Kim, hai cô Ngọc quây quần ăn ốc. Ngoài món ốc lác, ốc bươu chấm nước mắm gừng sả, cô Hai Ngọc Dung còn đãi thêm món tép muỗi chấy thịt ba rọi để cuốn bánh tráng rau sống chấm nước mắm tỏi ớt.

Vừa thấy anh mình về tới, hai cô Ngọc chèo kéo cậu ngồi vào bàn ăn cho kỳ được. Cô Hai Ngọc Dung bảo em:

– Ngồi chơi với tụi nó đi em. Ðể chị pha trà cho em uống.

Cậu Ba hỏi:

– Sao chị không ngồi ăn chung với tụi nói?

Cô Hai cười:

– Chị vừa ăn ốc len xào dừa đằng nhà bác Hai Dần nên còn no. Hôm nay chị tạo cơ hội cho hai đằng có dịp tìm hiểu nhau, nhứt là con út. Nếu chị ngồi chàng ràng ở đó thì tụi nó đâu dám ăn nói cởi mở.

Cậu Ba cũng cười:

– Lời chị thiệt hạp ý em. Thôi, em không uống trà đâu. Em về buồng nghỉ ngơi một lát. Ở đây em chỉ tổ làm rộn con Tư và con út, ngẫm chẳng ích chi.

Cậu te tái đi về buồng để được tự do nằm dàu dàu tưởng nhớ cô Hai Tố Trinh.

Cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga liếc nhau, trao đổi cái nhìn ranh mãnh, nở nụ cười nửa miệng lém lỉnh. Cô Hai Ngọc Dung phì cười, hăm he hai con em tinh quái:

– Bây có nói hành nói tỏi anh Ba bây thì nói nho nhỏ, tai nó thính lắm đó!

Vừa lúc đó có thím Bảy Bảnh bưng rổ mận tới, rao:

– Mận da người đây! Mận ngọt đất Vãng đây! Vừa ngọt vừa ngon vừa dòn hạng nhứt đây!

Mận da người màu đỏ phớt nâu chỉ ngon ngọt ở cuộc đất quanh năm nước ngọt như đất Vãng (Vĩnh Long và Sa Ðéc), còn vùng đất có mùa nước ngọt lẫn mùa nước mặn như đất Ðịnh Tường (Mỹ Tho) thì chỉ thích hợp với mận trắng, mận xanh và nhứt là mận hồng đào.

Nghe rao, hai cô Ngọc mừng quính, gọi rối rít:

– Thím Bảy, ghé đây đi.

Thím Bảy từ ngoài ngõ bước vào, cắp một rổ mận vun chùn. Thím chọn cho mỗi cô một trái mận thiệt mập, bảo:

– Hai cô ăn thử đi, coi mận da người đất Vãng có ngon ngọt thập bội mận da người ở Bến Tranh hay không!

Hai cô chộp liền, cắn nhai ngau ngáu, miệng suýt soa. Cô Tư lựa chục mận rồi trả tiền. Thím Bảy Giảng thấy cô Hai Ngọc Dung vừa bước ra, liền chọn một trái tặng cô. Cô bóp trái mận vỡ đôi thì thấy trong mận có trứng sâu nên không ăn. Thím Bảy tiếc hùi hụi:

– Kỳ tới tui sẽ tặng cho cô Hai một trái lý ngon nhứt xứ.

Lý là một loại mận trắng, trái thuôn dài, tuy ngọt nhưng hơi chát, bù lại lý thơm bát ngát, còn mận không thơm.

Thím Bảy thu xếp rổ mận bước ra khỏi cổng. Tiệc vui tiếp tục. Cậu Tư Kim Luông đía dóc huyên thuyên trước cái háy cái nguýt của cô út Ngọc Nga, nhưng ánh mắt cô rạo rực nét vui, miệng cô chúm chím nụ cười thỏa ý.

Tới lúc nắng tắt, tiệc mới tàn. Khách về rồi, cô Tư Ngọc Nga vỗ bụng than với em:

– Ăn ốc, ăn tép muỗi nhiều quá nên chị cảm thấy hơi đau bụng.

Cô út Ngọc Nga mặt xanh chành, gật đầu:

– Em cũng vậy. Mà sao chứng đau bụng nầy không giống đau bụng thông thường. Em có cảm tưởng trong bao tử em như có khúc cây. Mỗi khi thở mạnh, khúc cây chạm vô bao tử, đau thốn tới óc!

Cô Tư vẻ suy nghĩ:

– Chị cũng thấy trong bụng mình như có vật gì thô nhám, càng lúc càng lớn càng nặng, khó chịu quá chừng chừng!

Khi đỏ đèn, hai cô gái càng đau đớn thảm hại. Cả hai rên la thống thiết. Bà Ba Các cho các cô uống thuốc ngừa thời khí. Còn cô Hai thì hơ lửa và xức dầu vào bụng cho hai em nhưng cả hai vẫn không ngớt rên la. Tới khi cô Tư ói ra máu, cô út đi cầu ra máu, cậu Ba Ngọc Toản tức tốc tới nhà ông bà Hai Dần, rủ hai cậu Kim chèo ghe tam bản đi Rạch Miễu tìm mẹ mình.

Bà Hương bộ Khâm và vợ xã Huề từ chiều đã túc trực tại nhà bà Ba Các. Khi thấy hai cô kêu gào lăn lộn, bà Hương bộ khều bà Ba Các và cô Hai Ngọc Dung ra ngoài, nói nhỏ:

– Không khéo hai con nhỏ nầy bị ai đó thư ếm.

Cô Hai sực nhớ tới thím Bảy Giảng và mấy trái mận da người, liền kể:

– Thưa bác Hương, hồi xế nầy thím Bảy Giảng đem mận tới bán. Mọi người cùng ăn ốc luộc, tép muỗi chấy, mận da người nhưng không ai đau bụng cả. Chỉ riêng hai con Ngọc ăn hai trái mận bự nhất do thím Bảy tặng nên mới sống dở chết dở như vầy. Thím cũng tặng cháu một trái mận đặc biệt nhưng bóp bể ra, cháu thấy trong mận có sâu đã liệng thùng rác rồi. Do đó mà cháu khỏi chịu cảnh đớn đau quằn quại như tụi nó.

Bà Ba Các nghe tới đó liền thắp đèn đốt nhang trên bàn Phật để tụng kinh. Bà vừa tụng mà vừa run rẩy. Trong buồng, hai cô Ngọc cứ tiếp tục rên la. Vợ xã Huề và cô Hai Ngọc Dung chỉ biết bôi dầu cho hai em. Bà Hương bộ Khâm thì lo mài xương rồng, giã gừng cùng quế cà nhuyễn hiệp với trà nóng đổ vào miệng hai cô. Nhưng rõ ràng là mưa phía đông mà che phên phía tây, đau nam mà chữa bắc!

Cô út Ngọc Nga ai oán:

– Khúc cây trong bụng tui có chịu nằm yên đâu! Nó cứ cọ quẹt vào bao tử làm tui đau thấu trời xanh đất đỏ đây nè!

Cô Tư Ngọc Nhan thảm thiết:

– Cái vật gì đó trong bao tử tui lớn thêm hoài, quào liền liền. Chắc ba tử tui sẽ rách, ruột tui sẽ lủng lỗ. Tui sống sao nổi nè trời!

Tờ mờ sáng hôm sau, bà Hai Lầu, thím Chín Hiệp và ba chàng thiếu niên về tới. Bịnh trạng của hai cô Ngọc coi mòi trầm trọng, cả hai mửa một búng máu, hơi thở hoi hóp như ngọn đèn cạn dầu.

Bà Hai Lầu liền mở đãy gấm, lấy hai đạo bùa đốt rồi hoà tro vào chén nước mưa cho hai cô cháu uống. Bà thở dài:

– Hai con nầy bị thư đó đa. Trong bụng con Tư là miếng da trâu, còn con út là khúc cây!

Bà lấy tấm kiếng Mật Tông bày trên bàn thờ và bắt đầu tụng thần chú. Sau đó bà sai cậu Ba Ngọc Toản vẽ trên tấm giấy vàng bạc một chiếc kéo và trên tấm vàng bạc khác một cái bào. Bà hối thím Chín Hiệp dọn cho bà một bàn hương án ngoài sân, treo tấm vải vẽ bùa bát quái ở sau bàn thờ. Bà bảo em dâu:

– Mới nãy tui chỉ đọc các loại thần chú như Tiêu Tai Cát Tường, chú Ðại Bi cốt cho bổn mạng hai con đó được yên. Muốn trục vật thư ra ngoài, tui phải dùng phép đối trị của bọn tả đạo bàng môn.

Bà châm bó nhang vào lửa rồi chĩa về tám hướng hai phương thượng hạ, khi hú khi hét lên từng tràng ghê rợn. Sau đó bà đốt hai tấm giấy vàng bạc vẽ hình kéo, bào ra tro hoà nước mưa cho hai cô Ngọc uống.

Chừng một lát sau, hai cô ôm bụng lăn lộn kêu đau chói lói. Bà Ba Các sợ quá, run cầm cập, miệng niệm hồng danh Quan Thế Âm không ngớt. Trước tình cảnh ấy, cậu Tư Kim Luông chạy lại ôm cô út khóc ròng, quên cả tị hiềm. Cô út bệu bạo:

– Em có chết cũng không sao, chị sợ anh đau khổ mà thôi.

Phải tới lúc nguy nàn, cả hai mới dám biểu lộ tấm lòng luyến ái. Còn cậu Ba Kim Lân vì nhút nhát, chỉ nhìn cô Tư Ngọc Nhan đang lả người trong tay cô Hai Ngọc Dung, nước mắt nước mũi cậu tuôn choàm ngoàm.

Bà Hai Lầu không hề đổi sắc mặt khi thấy hai cô cháu gái ngắc ngoải. Bà ung dung têm trầu nhai chóc chách, rồi bảo:

– Cái kéo vô bụng con Tư sẽ cắt miếng da trâu manh mún. Còn cái bào vô bụng con út sẽ bào khúc cây thành dăm bào mỏng lét. Ðể rồi bà con coi.

Cơn đau của hai cô gái dịu lần. Gương mặt họ bớt xanh xao, mồ hôi lạnh ngưng tuôn. Bà Hai Lầu bảo cậu Ba đạp xe ra chợ Mỹ đến nhà thuốc tây mua một chai dầu xổ.

Khi hai cô Ngọc uống dầu xổ xong, chừng một tiếng đồng hồ sau, hai cô mắc cầu. Bà Hai Lầu muốn mọi người chứng kiến tài trục thư của mình, bảo hai cô đi vào chiếc bô nhôm. Mới đầu phẩn họ cũng bình thường, nhưng dần dần phẩn cô Tư Ngọc Nhân biến thành những miếng da trâu lớn cỡ ngón tay cái; còn phẩn của cô út Ngọc Nga lợn cợn những miếng dăm bào trộn mạt cưa.

Nghe tin hai cô Ngọc khỏi bịnh, bà giáo Toàn đem con gà mái tơ tới ăn mừng. Bà Hai Dần chẳng những đem tặng con vịt cà cuống mà còn cho thêm hai ký tôm càng tươi trong.

Bà Hai Lầu thở dài:

– Tai kia nạn nọ tới đây chưa chắc đã hết.

Cô Hai Ngọc Dung bảo mẹ:

– Má phải làm bùa làm niệc cho cả nhà đeo để đề phòng mới được.

Bà Hai Lầu buồn rầu:

– Ông Tà Nặc có sư huynh tên Tà Noọt phép thuật cao cường, sức má đấu không lại ông đó đâu! Cho nên nghĩ tới chừng nào má lo chừng nấy.

Cô Hai:

– Con tin phép ma làm sao qua được phép Phập, má thường dạy tụi con hoài câu đó, bộ má quên rồi sao?

Cô tìm cậu Ba Ngọc Toản, dặn:

– Em nhớ giữ hai cậu con bác Hai Dần ở lại ăn cơm. Ba đứa bây thức trắng đêm qua chắc là mệt, hãy đi ngủ một giấc đi, chị sẽ gọi dậy khi cơm dọn lên.

Bà Hai Lầu bảo con trai:

– Chị con nói phải đó. Con và hai cậu kia cần ngủ cho lợi sức. May có con tìm má kịp thời, không thì hai em con chịu tán mạng rồi.

 

Chương 6

 

 

 

Sau khi sai thím Bảy Giảng đem đồ vật thư đến nhà bà Ba Các, bà Quản hạt Thất nói với Tà Nặc:

– Hồi sáng thầy cho tấm lông nhím biến thành hột cát biết bay để thư con Hai Kim Ðiệp kể như thất bại rồi đó. Hột phi sa kia trở lộn về đây hườn hình cũ. Kỳ nầy khúc cây, tấm da trâu, cục đá giấu trong ba trái mận biết có hại được ba chị em con Ngọc Dung không!

Tà Nặc mắt hấp háy, không nói gì. Ông nầy vóc vạc nhỏ choắt, da nâu tía như da trái phù quân, màu da đặc biệt của dân Thủy Chơn Lạp, nguồn gốc Phù Nam. Mắt ông vàng ngàu, môi xám xịt. Ông mặc bộ đồ vải xiêm còn giữ lớp hồ bóng loáng, cổ quàng khăn rằn đen. Tà Nặc từ Sóc Trăng lên đây để ráo riết truyền dạy bà Quản Thất việc thư ếm.

Cỡ trưa trưa, thím Bảy Giảng về báo cáo:

– Thưa bà, chỉ có con Tư Ngọc Nhan và con út Ngọc Nga ăn mận, còn con Hai Ngọc Dung thì chê mận có sâu, liệng vô thùng rác rồi.

Bà Quản hạt Thất hừ một tiếng bất bình nhưng không nói gì. Bà chỉ sai con Phước Vân đi nghe ngóng tình hình. Tới chừng nghe tin nạn nhơn của mình lăn lộn vì bị thư trong bụng hành hạ, bà bước xuống bếp bảo cô út Thiên Kim:

– Con bắc nước sôi làm thịt cặp vịt xiêm nấu cà ri chà cho má. Còn ngải ướp trong dầu bông lài mà Tà Nặc ban cho, con nên cất trong túi gấm rồi treo ở đầu giường, nghe chưa?

Bà sai con Hiếu pha trà ngon cho Tà dùng và đốc thúc cô Tư Minh Nguyệt cùng con Thiệp may cho xong bộ quần áo lụa để Tà mặc trong nhà cho mát.

Chiều hôm đó, bác sĩ Hữu Thạnh từ Sài gòn về Bến Chùa thăm vợ, đem theo quà cáp ê hề, nào thịt vịt quay, thịt heo quay, nem Thủ Ðức; nào bôm, nho, xá lÿ… Cũng vừa lúc đó, trạng sư Hữu Vượng lái xe hơi tới nơi. Bà Quản Thất bảo thằng thứ nam:

– Sẵn có anh con về chơi, con hãy ở đây chơi. Tối nay, má làm tiệc cho ba tía con cụng ly.

Hữu Vượng có vẻ lo ra:

– Con có việc muốn bàn với má, chưa cần về chợ Mỹ vội.

Cô út nấu cháo một con vịt, còn con kia cô nấu cà ri chà. Bà Quản sai con Hiếu hái rau thơm, dưa leo và mua bánh hỏi để ăn với thịt quay. Bà cũng không quên dặn con Thiệp đợi tới đầu giờ Tuất sắc cho cô Tư Minh Nguyệt thang thuốc gồm có nhau con so phơi khô và vài món dược thảo mà bà nuôi làm bùa làm ngải.

Tối nay cô Tư Minh Nguyệt đúng kỳ uống thang thuốc đậu thai. Tà Nặc cho thêm vào thang thuốc vài món nhụy bông hoang dại mà ông đã hái trên ngọn núi Cấm hồi năm ngoái. Ông cũng vẽ hai đạo bùa để ếm quan kinh lý Thận, không cho quan hiện hồn về báo mộng với thân nhơn, tố cáo tội ác của bác sĩ Hữu Thạnh.

Trong lúc ông Quản hạt Thấy và bác sĩ Hữu Thạnh uống rượu thì luật sư Hữu Vượng xuống bếp, mon men lại gần mẹ, nỉ non:

– Phen nầy má phải giúp con một phen. Gia đạo con đang lúc bối rối đây. Con Thoại Hảo đang muốn lộn nài bẻ ống bỏ con để đi lấy chồng. Má nó chẳng những không ngăn trở nó giùm con mà còn nói vô nữa đó.

Bà Quản Thất quắc mắt nhìn thằng con râu rìa lông ngực của mình, mắng:

– Bấy lâu nay mầy xên cả mẹ lẫn con, dân chúng tỉnh Mỹ nầy eo sèo đàm tiếu không ngớt, tao nhục nhã để đâu cho hết! Nay con Thoại Hảo bứt néo ra để tạo dựng gia đình nó cũng là chuyện phải chuyện hay, lẽ nào tao ngăn cản nó cho đành!

Rồi bà ngọt giọng khuyên lơn:

– Thôi con à, con gái lá ngọc cành vàng ở tỉnh nầy đâu có hiếm. Khi con Thoại Hảo đi lấy chồng rồi, con cũng liệu mà buông mụ Sáu Thọ Huệ ra để kiếm con gái nhà lành mà cưới làm vợ. Mầy cứ sống trái đời, bày trò chim chuột loạn luân thì tía mầy và tao hết dám ngó mặt kẻ quen người biết ở đất Ðịnh Tường nầy!

Hữu Vượng sẵng giọng:

– Mụ Sáu Thọ Huệ có ruộng đất cò bay thẳng cánh. Con Thoại Hảo thì vừa hưởng trọn gia tài người cô ruột của nó. Chẳng những nó có tám chục mẫu ruộng tốt ở dọc tả ngạn kinh Bà Bèo mà còn có tiền muôn bạc vạn nữa. Con nhứt định cưới con Thoại Hảo. Cưới nó là có cơ tóm gọn tiền rừng bạc biển của mẹ con nhà nó mai sau. Má mà không giúp con thì con biết cậy nhờ ai?

Ông vùng vằng bước ra ngoài chiếc bàn tròn kê ngoài hàng ba để hầu chuyện với cha và anh đang uống rượu.

Trong khi làm bếp, cô út Thiên Kim cứ để đầu óc mình vơ vẩn xoay chung quanh cuộc tình vừa manh nha bén rễ, vừa mọc mộng nảy chồi giữa cậu Bảy Trinh Tường và cô Hai Kim Ðiệp. Cô út đã tặng thím Bảy Giảng một chục đồng để thím dò la coi cuộc tình của họ đi tới đâu. Cô được biết dạo nầy cậu Bảy yêu đời thiệt sự, hăm hở tiến hành cuộc hôn nhơn với người chị con nhà cậu của cô. Cô hãy còn yêu cậu Bảy, cho nên cô không muốn kẻ mà cô vừa ghét bỏ vừa khinh lờn như cô Hai Kim Ðiệp được làm vợ cậu. Việc Tà Nặc muốn thư bộ lông nhím vào bụng cô Hai coi như thất bại hoàn toàn. Tà có bảo bà Quản Thất: “Sư huynh tui là Tà Noọt giỏi tài thư tóc vào phổi nạn nhơn. Vậy để tui về Sóc Trăng rước ảnh lên đây. Nhưng tóc dùng để thư phải là tóc của nạn nhơn mới được”. Cho nên giờ đây vừa làm bếp, cô út vừa suy tính tìm cách nào để lấy cho được một chùm tóc của cô Hai Kim Ðiệp hoặc của cậu Bảy.

Chiều hôm đó, mãi tới tám giờ tối tiệc mới tan. Tà Nặc không dùng cơm chung với ba tía con ông Quản Thất, ông có một mâm riêng để cùng ăn với bà Quản hạt và con Phước Vân.

Vào cuối giờ Tuất, con Thiệp đã sắc xong thang thuốc đậu thai. Bà Quản biểu nó rót ra tô sứ rồi bà kêu vợ chồng bác sĩ Hữu Thạnh ngồi chung quanh bàn trò có đặt tô thuốc với bà. Bà đốt bảy đạo bùa gồm bốn đạo màu vàng vẽ chữ đỏ và ba đạo màu đỏ vẽ chữ kim nhũ. Cô Tư Minh Nguyệt đợi đầu giờ Tí là uống tô thuốc rồi cùng chồng về buồng riêng để phối hợp việc cấu tạo thai nhi.

Phút chờ đợi trôi chậm chạp trong yên lặng. Bỗng cô Tư thấy chồng cũ của mình là quan kinh lý Thận vừa bò dưới đất vừa le lưỡi có dán đạo bùa rồi nhảy phóc lên bàn, làm tô thuốc rớt xuống nền gạch bể nát, nước thuốc văng tung toé. Cô kêu lên một tiếng hãi hùng rồi lăn đùng ra xỉu dài. Trong khi đó, bà Quản Thất và bác sĩ Hữu Thạnh chỉ thấy con mèo mun từ dưới đất nhảy vọt lên bàn hất tô thuốc rớt xuống nền gạch mà thôi.

Bác sĩ Hữu Thạnh vực vợ  lên rồi bồng về buồng. Ông xức dầu cho vợ, giựt tóc mai réo gọi vợ. Một chặp sau, cô Tư Minh Nguyệt tỉnh dậy, hổn hển kể cho chồng nghe những gì mình trông thấy. Ông an ủi vợ, bảo rằng đó chỉ là con mèo mun vô tình làm bể tô thuốc mà thôi. Ông nhấn mạnh:

– Dạo này em ươn yếu trong người nên trông gà hoá cuốc, vậy thôi.

Cô Tư Minh Nguyệt tuy không cãi nhưng đã cảm thấy một bóng mây ám muội lởn vởn trên cái chết của người chồng cũ. Tuy đã bao lần cô tự nhủ, chiêm bao là chuyện tầm phào, nhưng câu nói của kinh lý Thận: “Thằng Hữu Thạnh hại tui!” vẫn luôn luôn ám ảnh cô, vầy vọc tâm trí cô, bào buốt ruột gan cô. Nhứt định cái chết của kinh lý Thận phải có bàn tay bác sĩ Hữu Thạnh nhúng vô. Giờ đây, rõ ràng vong linh người chồng cũ của cô đã ốp vô con mèo mun hất đổ chén thuốc đậu thai. Có lẽ ổng muốn tố cáo tội ác của tên phản bạn đoạt vợ người kia nên cho cô thấy ổng trong khi mẹ con bà Quản hạt Thất thì chỉ thấy là con mèo mun.

Ðêm hôm đó dù bác sĩ Hữu Thạnh dỗ ngọt dỗ mặn cô Tư cụp lạc với ông, nhưng cô đổ hô là đang cảm thấy mệt mỏi trong người để từ chối. Nằm bên chồng mới, cô cứ xót xa nghĩ tới chồng cũ, mường tượng biết bao ân tình của cố nhơn vào thuở chung sống mặn nồng. Cô phải dằn lòng lắm để khỏi bật ra tiếng nấc. Lý trí cô dặn cô phải làm ra vẻ thản nhiên để dễ bề dò xét ông chồng mới, tìm cách phơi bày âm mưu của ông ta ra ánh sáng công lý.

Riêng luật sư Hữu Vượng đêm đó cũng thao thức vì nỗi lo âu lẫn hờn ghen xáo trộn tâm tư ông. Từ năm năm nay ông đã tò tí với cô Sáu Thọ Huệ, vợ góa của ông Ðốc học Bào. Cô Sáu chỉ lớn hơn ông có sáu tuổi, vẫn còn non nheo nhẻo, vẫn còn đẹp lộng lẫy dù cô tròm trèm tới tuổi 40. Cô đa tình đa tứ, gặp được kẻ bảnh trai đa dục đa dâm như ông, cô mê như lậm bùa. Khi ông cụp lạc với cô Hai Thoại Hảo, đứa con độc nhứt của cô, cô đành chịu cảnh sống tay ba, không giá thú. Cô Hai Thoại Hảo xinh như mộng, đẹp như tranh, đứng bên mẹ có một bản sắc riêng, không để vẻ lộng lẫy của mẹ lấn lướt, cho nên cuộc tình bộ ba từ ba năm nay vẫn xuôi chèo mát mái. Dè đâu trong chuyến về thăm quê nội bên làng Ðạo Ngạn, cô Hai gặp một người bạn cũ thuở ấu thơ, vừa đổi về dạy lớp nhứt ở trường nam ngoài chợ Mỹ Tho. Kỷ niệm thân ái êm đềm bừng sống trong trái tim của cả hai. Cô chợt hổ thẹn về cách sống ngoài vòng luân lý của mình. Nhưng người bạn trai cô không chấp nhứt, hứa sẵn sàng cùng cô làm lại cuộc đời nếu cô có thiện chí tùng lương. Do đó mà cô Hai Thoại Hảo nhứt định chấm dứt vụ lẹo tẹo với tình nhơn của mẹ mình để xây dựng hạnh phúc với nhà mô phạm trẻ tuổi kia.

Tờ mờ sáng hôm sau, vừa điểm tâm xong, bác sĩ Hữu Thạnh ra ga Trung Lương để đáp xe lửa về Sài gòn, nét mặt có vẻ bất mãn lắm. Vì là chúa nhật nên luật sư Hữu Vượng không về Mỹ Tho vội. Ông cứ cà rà theo mẹ, yêu cầu bà giúp cho ông bùa yêu để ông giữ cô Hai Thoại Hảo lại. Bà Quản hạt Thất quắc mắt:

– Thứ con gái mới lớn mà để cho tình nhơn của mẹ mình vầy vọc là thứ con gái hư. Ðã vậy nó còn ăn mót ăn khính cái hạnh phúc của mẹ là thứ gái vô ghì trắc nết. Thứ đó mà mầy tiếc làm chi? Nay nó chán mầy, mầy muốn dùng bùa giữ nó lại, gẫm có được không? Bởi mầy đâu biết, mai kia mốt nọ, gặp chuyện trục trặc nào đó, bùa kia hết linh, nó sẽ trở lại thâm thù mầy và dám giết mầy lắm đó!

Luật sư Hữu Vượng cứng họng, lặng thinh rồi giận dỗi bỏ ra về. Bà Quản hạt Thất không thèm cầm giữ cậu ở lại. Sau khi coi mấy đứa tôi trai tớ gái quét dọn nhà cửa, lau chùi bàn ghế, o bế bông kiểng, bà sai con Phước Vân ra chợ Trung Lương ngóng tin dữ bên nhà bà Ba Các và sai con Hiếu bắt cặp cá lóc bự bằng cườm chơn đang rọng trong vịm ra làm món canh chua khóm cùng món cá chiên phết bơ giầm nước mắm tỏi ớt. Khi cơm vừa dọn lên thì con Phước Vân hớt hơ hớt hải trở về kể cho bà nghe tự sự bên nhà bà Ba Các. Bà liền bưng mâm cơm lên gác cho Tà Nặc, than thở:

– Thầy ôi, tui có dè đâu pháp thuật con vợ thằng Hai Lầu cao cường dường ấy! Tấm da trâu thư bị nó biến thành manh thành mún, còn khúc cây thư biến thành dăm bào rồi. Thầy có kế chi để so tài đọ sức với nó nữa không đây?

Tà Nặc bình thản:

– Trước khi tui đi tàu lên đây, anh Tà Noọt tui có nói với tui rằng mụ Hai Lầu là đồ tôn của ông đạo Lập, không dễ đàn áp đâu. Phải có ảnh ra tay trị thì mụ mới khoanh tay chịu phép. Nhưng vì háo thắng, tui muốn lên đây một mình, coi tiếng đồn về mụ có ngoa hay không. Giờ đây đã biết vận sự, ngày mai tui sẽ về Sóc Trăng thỉnh sư huynh tui lên.

Ông điềm nhiên ngồi ăn cơm. Bà Quản hạt Thất kiếu từ trở về trung đường, hỏi cô Tư Minh Nguyệt:

– Bộ quần áo mặc chơi trong nhà bằng lụa Hà Ðông, con đã may xong chưa?

– Tối qua vì trải qua một phen kinh sợ nên con ngủ không được. Cho nên con thắp đèn may xong được bộ quần áo đó và đơm nút đơm khuy rồi.

Bà Quản ân cần dặn:

– Ăn cơm trưa xong, con cứ vô buồng nằm nghỉ. Ðể má dọ trong vùng nầy mua cái nhau con so khác làm thuốc đậu thai cho con.

Cô Tư không nói gì. Cơm nước xong, cô rút vào buồng nằm dã dượi. Còn cô út Thiên Kim đi tắm rồi sửa soạn trang điểm. Cô mặc chiếc áo gấm màu gạch tôm dệt bông mặt nguyệt màu bạc, quần sa teng tuyết nhung đen, giày nhung đen. Cô giồi phấn thiệt khéo, dậm phấn hồng thiệt nổi, thoa son thiệt tươi, đeo cẩm thạch, hột xoàn, ngọc trai rườm rà huê mỹ. Cô bảo mẹ:

– Con phải đi thăm anh Oánh, làm cà phê đặc biệt cho ảnh uống. Mấy hôm rày con có thàng, không dám rớ tới bùa sợ hết linh. Giờ khô ráo sạch sẽ rồi, con phải gặp ảnh cho sớm, luôn tiện thử áo cưới cặp ba đặt ngoài tiệm Kim Phụng và mướn chùi sáng mớ nữ trang bằng vàng ngoài tiệm Khương Hữu.

Bà Quản Thất đưa cho con gái một tấm giấy, dặn:

– Nhớ mua mấy món má ghi trong giấy. Mua xong con cứ để ngoài nhà thằng chồng con. Chiều, ba con sẽ sai sớp-phơ ra lấy.

Bà bỏ vào bếp, tự tay sắc thuốc cho con Phước Vân. Sáng hôm nay nó ngã bịnh, không chịu ăn điểm tâm với Tà Nặc. Con nầy là cánh tay đắc lực của bà, nhưng nuôi nó bà phải săn sóc nó còn hơn săn sóc con cưng. Mỗi tháng nó đau yếu ít nhứt mười ngày, ăn uống cữ kiêng. Bởi đó bà thương yêu nó không kém cô út Thiên Kim, tuy là nghĩa thầy trò, nhưng tình cảm gắn bó không khác chi tình mẹ con.

Sau đó bà Quản Thất cầm chai rượu chổi và hũ cù là lên gác, ái ngại bảo con Phước Vân:

– Mầy thấy đỡ chưa? Ðể tao xức rượi chổi cho.

Con Phước Vân cười gượng:

– Thôi, khỏi. Con trúng gió, nhờ bà cạo gió nên đã đỡ nhiều. Ðể con làm dầu ngải và cho lứa ngải ăn hột gà.

Bà Quản lắc đầu:

– Thôi, mầy cứ nghỉ ngơi cho lợi sức, đừng có lúc thúc trong nhà hoài. Lát nữa con Hiếu bưng hiệp cháo chay nấu nấm tràm, mầy rán ăn vài chén cho khoẻ rồi đi dạo ngoài bờ rạch cho thoáng khí. Dạo xong, mầy về nhà uống thuốc. Lúc đau yếu chỉ có cơm cháo thuốc thang thương mầy. Tao dầu có yêu thương mầy cách mấy cũng chẳng giúp gì mầy được nếu mầy chê thuốc bỏ ăn.

Buổi trưa, khuôn viên nhà cửa lặng im. Trên tàn cây điệp tây, ve sầu kêu rền rền. Ngoài bãi dừa nước, tiếng đỗ quyên kêu khắc khoải, giọng bi ai. Cô Tư Minh Nguyệt khi trở về buồng riêng, chắp tay ngước lên nóc nhà khấn vái:

– Em lạy vong hồn anh kinh lý. Nếu cái chết của anh có gì khuất lấp thì hãy về đây báo mộng cho em. Em sẽ vì anh mà báo cừu rửa hận.

Khấn xong, cô thay áo bà ba cẩm nhung bằng áo túi lụa mỏng rồi vào giường dỗ giấc. Chừng dập bã trầu, cô ngủ say. Bỗng cô thấy người chồng cũ đến bên giường cô, mặt mày tiều tụy, nước da xanh chành, lưỡi le dài cả tấc có dán đạo bùa. Ông ta khóc nức nở, nước mắt tuôn như suối. Sau đó ông dùng phấn trắng viết trên nền gạch bông:

– Thằng Hữu Thạnh hại anh. Em hãy tìm đến bà Hai Lầu để nhờ báo cừu rửa hận cho anh.

Liền lúc đó một toán người mặt mày cổ quái, mặc quần áo đen từ ngoài túa vào vừa đấm đá vừa lôi ông đi. Cô Tư chạy theo nhưng vấp phải ngạch cửa và tỉnh mộng. Cô nằm miên man suy nghĩ. Nhứt định cô phải tìm cớ về Sài gòn để thu xếp việc nhà và nhứt là phải tìm cách đến viếng bà Hai Lầu. Biết chắc là chồng trước mình chết oan chết ức bởi tay bác sĩ Hữu Thạnh, cô còn lòng dạ nào ăn nằm với kẻ phản bạn, giết người kia. Nhưng khi nghĩ tới bà Quản hạt Thất, cô rùng mình kinh sợ. Cho nên cô phải khéo léo hành xử sao cho cả nhà bà không nghi ngờ những việc làm sắp tới của cô.

Con Phước Vân ăn cháo xong, đợi cho ráo mồ hôi liền đi dạo bên bờ con rạch đổ ra sông Bảo Ðịnh. Giờ nầy nước lớn ngập sông. Từng cụm lục bình trổ bông tím trôi trên dòng nước váng đục. Nắng xế chênh chếch, gió thổi hây hẩy. Phước Vân liền đến ngồi dưới bóng cây mù u ven rạch để hóng mát. Không gian khoảng khoát và thoáng khí làm nó dễ chịu, buồng phổi nó tràn ngập không khí trong lành.

Bỗng mắt nó sáng rực lên. Một chiếc tam bản lướt tới, đậu lại bên kia rạch. Người chèo là một chàng trai tuổi cỡ hai mươi, mình trần, mặc quần xà lỏn đen. Tưởng ai xa lạ, té ra là cậu Ba Hưởng, thứ nam của ông bà Hương bộ Khâm, em ruột Xã Huề. Vốn chưa hề tiếp xúc với trai tráng nên nó cảm thấy sượng sùng e lệ, liền bỏ cội cây mù u đến chỗ dãy dâu tằm rậm lá. Nó muốn được tự do ngắm Ba Hưởng mà Ba Hưởng không thấy nó. Cậu ngồi nghỉ mệt một chốc rồi kéo tấm lưới lên. Vài con cá mè vinh vảy bạc lóng lánh, vài con cá úc mình trơn lẫn với loại cá lụn vụn như cá lòng tong, cá lành canh, cá linh, cá rói. Mới vãi chài lượt đầu mà cậu đã trúng mẻ cá khá quá! Con Phước Vân nở nụ cười âu yếm và thích thú. Ba Hưởng có tấm thân thon mảnh nhưng bắp thịt nở nang rắn chắc. Mặt mũi cậu không thanh tú nhưng hiền lành đôn hậu. Càng nhìn trộm cậu, nó càng ưa và nhìn sâu lại hoàn cảnh mình.

Năm tuổi, Phước Vân đã mồ côi cha mẹ, được bà Thạch Thơm là dân đầu gà đít vịt (cha Tàu mẹ Miên) nuôi. Bà Thạch Thơm từ Trà Vinh trôi nổi lên chợ Bến Chùa bán bánh ống và bún nước lèo, gặp bà Quản hạt Thất. Bà Thạch Thơm năm đó đã bảy mươi ngoài, giỏi ngải nghệ nhưng chưa tìm được đệ tử nào để truyền nghề. Bà vốn là em bạn dì với người vú nuôi bà Quản Thất nên bà truyền nghề thêm cho bà Quản hạt. Khi sắp qua đời, bà ân cần dặn bà Quản Thất nuôi dưỡng và truyền nghề cho con Phước Vân.

Phước Vân vẫn biết bà Quản hạt Thất thiệt bụng thương yêu nó. Song bà yêu thương theo cái cách của bà, là săn sóc nó từ chén cơm tấm áo, từ tô thuốc ly sữa, nhưng không hề nghĩ tới chuyện gầy dựng nghề ngỗng và gia đình cho nó. Nó sẽ sống lạnh lùng trong kiếp gái già dưới mái gia đình bà, làm bạn với vong linh ma quỉ cùng những thứ ngải nghệ. Bởi quen tiếp xúc với những âm hồn, những sanh vật trong cõi âm huyền mờ mịt nên nó không thể có sức khoẻ như gái bình thường. Phải chăng vì lẽ đó mà nó nay đau mai ốm, nắng không ưa mưa không chịu, sống có khác nào một kẻ phế nhơn.

Giờ đây trước mắt Phước Vân, qua kẽ lá dâu tằm ăn, Ba Hưởng hiện thân là một người trong cõi sống, thân thể cường tráng như cây mù u bên mé nước, da nâu hồng như da trái chuối chà bôm, như da trái lựu hườm chín. Cậu cần mẫn vãi chài bắt cá, chốc chốc cho da thịt mát mẻ, cậu cầm chiếc gáo sọ dừa múc nước rưới lên thân thể. Nước trên da cậu lấp lánh sáng như tráng bạc. Thỉnh thoảng cậu nở một nụ cười khi thấy con chim thằng chài xanh biếc xà xuống mặt nước bắt cá rồi bay vút lên cao. Nụ cười cậu tươi ơi là tươi, khoe hàm răng trắng như những hột nếp vừa vút sạch.

Trái tim Phước Vân đập lên những nhịp vang rõ trong lồng ngực. Máu nó như được tình ý nồng nàn sưởi ấm. Nó nghĩ tới một cuộc sống lành mạnh ngoài mái nhà ông bà Quản hạt Thất, cùng một gia đình tầm thường và hạnh phúc bên cạnh Ba Hưởng. Có vậy nó mới sống cho ra sống, chớ còn cái thế giới bên dãy đông lang dành cho nó trong gia đình ông bà Quản là thế giới âm hồn, ở đó nó lỡ sống lỡ chết với tấm thân bịnh hoạn kinh niên.

*

*  *

Am xây cất chưa xong thì tới mùa tựu trường. Cậu Ba Kim Lân và cậu Tư Kim Luông muốn được ở lại tỉnh nhà để học năm thứ ba ban thành chung trường Le Myre de Vilers. Như vậy ông bà Hai Dần đỡ hao tốn vì khỏi phải đóng tiền trọ học và tiền cơm tháng cho hai cậu. Cô Hai Tố Trinh cũng đổi trường để về học ở Mỹ Tho. Công việc được xuôi thuận là nhờ cô Hai Kim Chung, cháu ông bà Năm Tảo vốn là mèo của quan Chánh tham biện người Pháp. Quan viết một lá thơ gởi cho ông đốc học là mọi chuyện suôn sẻ.

Khách viếng am và đến chữa bịnh càng lúc càng đông. Người nào cũng phát tâm tùy hỉ cúng dường. Mọi việc chi thu đều do bà Ba Các và cô Hai Ngọc Dung đảm nhiệm. Bà Hai Lầu nhắc nhở em dâu:

– Thím nhờ anh chị Hương bộ Khâm đứng ra làm mai thầy giáo Hớn cho con Hai nhà mình. Lo cho nó được vuông tròn duyên phận là tui nhẹ dạ và thảnh thơi tâm trí.

Bà Ba Các có vẻ ngần ngại:

– Em coi bộ con Hai nhà mình không mấy sốt sắng vụ thầy giáo Hớn. Nó nói với em rằng chị về đây chưa được bao lâu, lẽ nào nó đi lấy chồng cho đành.

Bà Hai Lầu tỏ vẻ bất bình:

– Con nầy coi bộ sanh chứng, nhắm chỗ cao hơn chỗ thầy giáo Hớn chớ gì? Kệ nó, thím cứ tính tới cho tui.

Từ khi hai cô Ngọc thoát khỏi cuộc thư ếm hung hiểm thì hai cậu Kim thường qua lại nhà bà Ba Các. Và cũng từ đó, tiếng tăm bà Hai Lầu nổi lên như cồn. Tình nghĩa giữa các gia đình ông bà Hai Dần, bà giáo Toàn, ông bà Hương bộ Khâm và bà Ba Các càng thêm khắng khít. Bà Hai Lầu phó mặc em dâu và con gái coi việc giao tế. Bà chỉ chăm lo tu hành, chữa bịnh và trục thư ếm mà thôi. Thím Chín Hiệp thì lo việc công quả và hành trì pháp môn Tịnh Ðộ. Các cô gái trong nhà đều mến thím, không để thím thiếu thốn món gì.

Vào ngày thứ bảy, trường trung học chỉ học buổi sáng. Buổi chiều, học sinh có thể vào lớp chép bài hoặc trò chuyện. Cậu Ba Ngọc Toản rủ hai cậu Kim và hai cô em mình cỡi xe đạp qua chợ Nhỏ bên kia cầu quay viếng am của người em bạn dì ông Hai Dần. Cô Hai Ngọc Dung dặn:

– Tụi bây nhớ về sớm ăn cháo bồi. Cháo bồi chị nấu nhứt định phải ngon hơn cháo bồi bán ở chợ Cũ.

Khi nhóm thanh thiếu niên đi khỏi thì bà Ba Các thúc hối thím Chín Hiệp và cô Hai Ngọc Dung rửa mặt, chải đầu và mặc áo mới để sửa soạn tiếp khách ngoài chợ Mỹ vào thăm. Bà đặt ấm nước lên bếp và chùi rửa bộ đồ trà, hễ khách tới là châm nước sôi vô bình. Cô Hai Ngọc Dung đã bổ khóm và đu đủ thành từng miếng dài, sắp trên dĩa bàn, phủ một lượt khăn ướt, cốt giữ cho trái cây được tươi để đãi khách.

Chừng giập bã trầu, bà Hai Dần đưa ba mỹ nhơn ăn mặc kim thời tới. Người thứ nhứt trạc ba mươi ngoài, cao lớn trắng trẻo, dáng sang trọng, mặc chiếc áo dài bằng hàng mỏng thêu bông tím, quần cẩm nhung đen. Người thứ nhì trẻ hơn, gần tuổi ba mươi, mặc áo nhung màu hồ thủy, quần sa teng tuyết nhung trắng. Còn người thứ ba chưa tới hai mươi, quần lẫn áo đều bằng cẩm nhung trắng. Cả ba đều đeo hột xoàn chớp loé, đi giày nhung thêu cườm ngũ sắc, thoa son giồi phấn thiệt tươi, xức dầu thơm nực nồng.

Bà Hai Dần nói:

– Hôm nay tui đưa con Hai Kim Chung, cháu tui, đến đây lạy Phật và cúng dường cho am. Luôn tiện, má con cô Sáu Thọ Huệ cũng xin tháp tùng viếng am cho biết.

Cô Hai Ngọc Dung vui vẻ, chỉ cô gái mặc quần áo cẩm nhung trắng:

– Tưởng ai, té ra chị Thoại Hảo! Chị Thoại Hảo đây hồi trước kia học chung một lớp với con và chị Hai Kim Ðiệp.

Cô Sáu Thọ Huệ mừng rỡ:

– Ðược vậy thì hay lắm! Tui cũng mong từ rày sắp tới mình sẽ giao du thân mật hơn.

Bà Ba Các mời khách ngồi chung quanh bàn tròn. Cô Hai Ngọc Dung pha trà và bày thêm bánh gai, bánh con đuông, bánh lỗ tai heo. Cô Hai Kim Chung đặt chiếc giỏ lên bàn, bày ra một hộp bánh bích qui, một hộp trà thiết quan âm, một chai xi-rô dâu tây để làm quà. Còn phẩm vật của mẹ con cô Sáu Thọ Huệ gồm một cân lạp xưởng, một ký bánh phồng tôm, một con khô cá sưởu chừng hơn một kí. Bà Ba Các bảo thím Chín Hiệp thỉnh bà Hai Lầu yến kiến khách. Bà từ trung đường bước qua chái lá dành tiếp khách thập phương, mặt tươi tỉnh, nụ cười điềm đạm. Cô Hai Kim Chung mau mắn:

– Thưa am chủ, hôm nay gặp lúc rảnh rang, cháu rủ má con chị bạn tới đây yết kiến am chủ cho biết. Ðây cũng là buổi mở đầu cho tụi cháu đến cúng dường và làm công quả về sau.

Bà Hai Lầu miệng niệm mô Phật rồi bảo:

– Hôm trước chị Hai xóm Ống Cống đây có báo trước cho tui biết quí bà và cô Hai sẽ viếng am. Chẳng hay quí bà và cô có chuyện gì cần đến tui?

Cô Hai Kim Chung cười:

– Cháu đến viếng am chủ thôi, chớ không có ý gì khác. Riêng chị bạn cháu và cô cháu gái đây thì có chuyện bối rối, nhờ am chủ gỡ cho.

Bà Hai Lầu ân cần mời má con cô Sáu Thọ Huệ qua trung đường. Khi cả ba khuất dạng, bà Ba Các mời cô Hai Kim Chung dùng trà bánh. Bà niềm nở:

– Cô Hai lóng rày ít vô xóm Ống Cống viếng chị Hai lò bún đây…

Cô Hai Kim Chung vui vẻ:

– Tại vì dì cháu đây và con em Kim Ðiệp ra chợ Mỹ thăm cháu đều đều nên cháu làm biếng vô đây chơi. Hôm qua cháu được biết ông bà Ðốc học Thông cho người dạm hỏi con em Kim Ðiệp cháu cho cậu Bảy Trinh Tường; bác Hương bộ Khâm làm mai hai cô Ngọc Nhan và Ngọc Nga cho hai thằng Kim Lân và Kim Luông nên cháu rất mừng, vô thăm cho biết em rể và em dâu tương lai vậy mà. Với lại chuyện bác Hai Lầu giải thư ếm cho mấy cô nhà nầy, ai ai ở vùng nầy cũng biết nên cháu phải viếng am cho phỉ lòng hoài vọng.

Tuần trà vừa cạn thì mẹ con cô Sáu Thọ Huệ nối gót bà Hai Lầu từ trung đường bước qua. Lúc nãy hai mẹ con bà mặt mày bí xị, giờ đổi sắc tươi rói, rạng rỡ. Bà Hai Lầu sai thím Chín Hiệp châm bình trà mới, bày thêm bánh trái. Cô Hai Thoại Hảo cầm tay cô Hai Ngọc Dung:

– Từ khi bọn mình thôi học, ai cũng có công chuyện riêng nên ít khi gặp nhau, riêng em đôi lúc nghĩ tới thời cắp sách đi học, lòng vẫn tiếc nhớ.

Bà Hai Lầu vui vẻ:

– Nếu cháu có rảnh, cứ tự nhiên tới đây chơi với con Hai đây.

Mẹ cô Sáu Thọ Huệ cùng cô Hai Kim Chung lên trung đường lạy Phật, cúng tiền rất hậu rồi mới ra về.

Khách đi khỏi rồi, bà Hai Lầu nói với em dâu:

– Mẹ con cô Sáu Thọ Huệ tính bỏ thầy kiện Hữu Vượng để làm lại cuộc đời nhưng sợ chị Quản hạt Thất trả thù nên nhờ tui ban bùa ban niệc phòng thân.

Bà Ba Các:

– Chị Hai Dần có kể cho em biết là có một thương gia lai Tây góa vợ, muốn chắp nối với cô Sáu. Còn con Hai Thoại Hảo thì quyết lòng gá nghĩa với một thày giáo dạy lớp nhứt ở trường nam tiểu học ngoài chợ Mỹ.

Cô Hai Ngọc Dung tìm chiếc trả đất để nấu cháo bồi. Kỳ quá đi! Tại sao trước chuyện xây dựng gia đình của em út bạn bè cô, cô vẫn dửng dưng, không náo nức chuyện chung thân của mình? Thầy giáo Hớn đã tới đây thăm cô vài lần mà cô vẫn không thấy lòng mình xao động. Thầy cũng bảnh trai, mặt mày phải trang nam tử, cách ăn nói mềm mỏng, vậy mà cô vẫn thấy thầy đứng bên lề cuộc sống tình cảm mình.

Vầng kim ô vừa khuất mái hiên. Ngoài bãi sông, bìm bịp kêu nước lớn. Một chiếc ghe thương hồ lướt qua, tiếng hò văng vẳng:

Xuồng ai vừa lướt vo vo

Người đi bỏ lại giọng hò nỉ non.

Khi cô Hai Ngọc Dung vừa nấu xong nồi cháo bồi, sắp bún ra dĩa và xắt ghém bắp chuối điểm rau húng thì nhóm bạn trẻ về tới. Hai cô Tư và cô út thay đồ mát rồi dọn bàn, bày chén đũa. Ðể các cô cậu ăn uống thoải mái, bà Ba Các biểu cô Hai dọn cho họ một bàn riêng.

Cô út Ngọc Nga thỏ thẻ kể với cô Hai Ngọc Dung:

– Chị ơi, tụi em vừa gặp một dị nhơn ở bên chợ Cũ.

– Dị nhơn ra sao?

Cậu Ba Kim Lân cười:

– Ổng cũng như mọi người, tuổi cỡ chừng 40, mặc âu phục, tóc hớt cao và chải bảy ba, coi lịch sự lắm. Tụi em gặp ổng trong quán bán đồ chay ở chợ Cũ. Ai gặp ổng cũng xá xá ra điều kính cẩn lắm, có bà già còn quỳ xuống lạy ổng.

Cô Tư Ngọc Nhan suýt soa:

– Dị nhơn mà chẳng dị chút nào, còn đẹp trai phong nhã như tài tử hát bóng nữa chớ.

Cậu Tư Kim Luông tấm tắc:

– Làm như ông có từ điển. Hễ ai nhìn ông là kẻ đó sanh lòng kính trọng. Ổng nói rất ít, giọng thanh và vang lộng như chuông ngân.

Cậu Ba Ngọc Toản chậm rãi:

– Lúc mọi người trong quán đang xúm lại xá lạy ổng, ổng bước tới em, hỏi: “Cháu là con trai bà Hai Lầu phải không? Hãy về nói với má cháu rằng ông đạo Hi Mã đang có mặt trên đất Ðịnh Tường, nay mai sẽ tới viếng bả”.

Nãy giờ bà Hai Lầu đang dùng cơm chay với bà Ba Các và thím Chín Hiệp ở bàn kế bên nên nghe rõ mồn một. Bà ứng tiếng, bảo:

– Ông đạo Hi Mã là thầy của má đó.

Cô Hai Ngọc Dung ngạc nhiên:

– Tại sao thầy thì trẻ, học trò thì già?

Bà Hai Lầu điềm nhiên:

– Làm sao người phàm phu thế tục như bọn mình ước lượng nổi tuổi tác một bực chân sư?

Rồi bà dặn:

– Con Hai, con Tư, con út ngày mai phải lo dọn dẹp trong ngoài cho sạch sẽ. Quần áo bọn đờn bà con gái không được phơi ngoài sân. Thằng Ba đạp xe ra chợ Mỹ mua loại nhang chà đem về xông thơm khắp ngõ ngách trong ngoài cho tinh khiết.

Bọn thiếu niên ăn uống xong, kéo nhau qua bên nhà ông bà Hai Dần. Trăng rằm treo lơ lửng trên nền trời xanh nước biển gờn gợn vân xà cừ. Cây mãng cầu xiêm lá mướt lấp lánh ánh trăng. Hàng lu hũ, khạp bồn, ảng chậu sắp ngoài hàng ba phía bên trái dần dần biến thành những khối bóng mực tàu. Ngoài ao bàu, tiếng nhóc nhen kêu ra rả. Cô Hai Ngọc Dung dọn thêm một mâm dành cho bà giáo Toàn, bà Hương bộ Khâm, vợ chồng Xã Huề và mình. Khách mời lục tục kéo tới, vầy nhau ăn uống. Trong khi đó các bà ăn chay rút lên trung đường.

Bà Hai Lầu nói với bà Ba Các và thím Chín Hiệp:

– Tối nay, tới lúc tui phải giải bùa cho ông Kinh lý Thận. Nhưng trong những ngày sắp tới, tui sẽ phải chống chỏi với Tà Noọt. Tên này lợi hại lắm nên tui đã thắp hương vái van sư phụ tui phù trợ. Ổng cảm ứng được lời cầu xin của tui nên mới vân du về đây. Bởi ổng trị bịnh dịch cho dân theo đạo Cao Ðài dọc hai bên bờ kinh Bà Bèo và cho dân ở Rạch Miễu cho nên khi ổng xuất hiện, những người thọ ơn ổng mới xúm nhau vái lạy ổng như vậy.

Rồi bà dặn thím Chín Hiệp:

– Thím pha trà, thay bông trong độc bình, thay trái cây trong dĩa, đốt nhang chiên đàn để tui tụng mấy bài thần chú Mật Tông. Nhớ lau chùi kiếng đàn bằng tấm vải hồng điều giùm tui.

Bà cùng em dâu bước qua phòng khách chào hỏi mọi người. Vừa thấy bà Hai Lầu và bà Ba Các, bà Hương bộ Khâm nói:

– Thầy coi tuổi thầy giáo và con Hai nhà nầy đã chọn ngày hăm tám tháng mười một âm lịch làm đám hỏi cho hai đứa, chẳng hay chị Hai và cô sắp nhỏ nghĩ sao?

Bà Hai Lầu nhìn bà giáo Toàn và bà Hương bộ Khâm:

– Con gái tui hiếu hạnh, giỏi dắn, mong rằng nó sẽ là nàng dâu hiếu thảo của chị giáo đây và là người vợ hiền của thầy giáo Hớn. Chị giáo đây có lòng thương nó, chọn nó làm dâu, thiệt hai chị em tui đội ơn chị lắm. Còn chị Hương bộ đã bỏ công làm mai nó cho bực mô phạm, thiệt là quá phận nó rồi. Vậy chị cứ tính tới giùm chị em tui, khỏi cần hỏi ý kiến tụi tui làm chi. Xong đám con Hai, còn phải lo đám con Tư, con út nữa. Ðã trót thì phải trét cho mọi việc vuông tròn, phải không chị?

Mọi người đều cười. Bà Hai Lầu quay sang vợ chồng Xã Huề:

– Vợ chồng cháu Xã đây nhứt hô bá ứng, chẳng mấy chốc mà việc xây cất am đã xong gần một phần ba. Bác có lời khen hai cháu. Ủa, anh Hương bộ và cháu Ba Hưởng đâu mà không thấy?

Bà Hương bộ Khâm cười:

– Ông nhà tui đi nhậu rượu thuốc với anh Hai Dần. Còn thằng ba phải coi chừng nhà. Mọi người kéo rốc qua đây sao tiện!

Trăng bên ngoài càng lên cao càng nhỏ, sáng làu làu như gương. Theo quốc lộ từ ngã ba Trung Lương đến Bến Chùa, khách nhàn du thả bộ ngắm trăng, thỉnh thoảng ghé vào điếm canh trò chuyện với mấy chú cai tuần. Ánh trăng đưa Bảy Trinh Tường tới xóm Ống Cống, vô sân nhà ông bà Hai Dần. Lúc đó tiệc rượu đã chuẩn bị xong. Ông Hai Dần, ông Hương bộ Khâm, thầy giáo Hớn, cậu Ba Ngọc Toản, cậu Ba Kim Lân và Tư Kim Luông ngồi quanh mâm rượu thịt đặt trên chiếc bàn tròn ngoài sân. Từ khi cho mai mối đến nhà ông bà Hai Dần để xin cưới cô Hai Kim Ðiệp, Bảy Trinh Tường thường lui tới lò bún xóm Ống Cống. Chàng kết thân với thầy giáo Hớn vì thấy thầy giỏi võ Tây Sơn, thông hiểu kim văn ngọc kệ nên thường tìm đến chợ Trung Lương để đàm đạo. Hôm nay, cô Hai Kim Ðiệp làm thịt con gà mái dầu để nấu cháo trộn gỏi. Ngoài ra cô còn làm thêm món gỏi ngó sen trộn tôm thịt, món chả tôm, món đầu heo luộc cuốn bánh tráng chấm mắm nêm.

Ông Hai Dần bảo con gái mời cô Hai Kim Chung ra sân dự tiệc. Cô vốn là kẻ sành đời, rành giao tế nên sự xuất hiện của cô làm bàn tiệc vui nhộn hẳn lên. Cô khéo léo gợi chuyện, thăm hỏi từng người trong bàn tiệc rồi nhã nhặn kiếu từ vào nhà trong:

– Hôm nay cháu được hân hạnh gặp thầy Bảy Xóm Tre và thầy giáo lớp nhứt đây, thiệt cháu mừng cho duyên phận hai em Kim Ðiệp và Ngọc Dung lắm. Lẽ ra cháu phải ngồi đàm đạo với hai thầy, ngặt ở trong nhà còn có mấy cô nữa, nên cháu phải vô ăn tiệc với họ cho vui. Cũng xin quí vị đừng kèo nài hai cổ ra đây. Họ nhút nhát, ăn tiệc phải thủ lễ, gò bó, mất vui.

Cô bước vào nhà để cùng vầy tiệc với cô Hai Kim Ðiệp, cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga. Lối nói chuyện của cô Hai Kim Chung thiệt lôi cuốn, thiệt duyên dáng đậm đà làm bữa tiệc sinh động hẳn lên.

Khi tiệc tan, cô Hai Kim Ðiệp than thở với cô Hai Kim Chung:

– Cuối niên học chót, nếu thằng Ba và thằng Tư thi đậu thành chung thì sẽ phải lên Sài gòn học tiếp ban tú tài. Thiệt tình ba má em không biết nghĩ sao. Lò bún nầy đâu đủ sức cung cấp tiền bạc cho tụi nó ăn học ở Sài gòn là nơi củi quế gạo châu.

Cô Hai Kim Chung sốt sắng:

– Chị sẽ phụ giúp dì dượng mỗi tháng chút ít để tụi nó có tiền ăn học.

Cô tháo đôi bông tai và cởi chiếc nhẫn ra bảo bà Hai Dần:

– Dì thấy cháu đeo bông và cà rá hột xoàn, dì cứ trầm trồ suýt soa, nhưng dì đâu biết cháu có cái duyên đeo chớ không có phước hưởng hột xoàn quí. Dầu hột có bọt, có chấm than hay sờn cạnh mẻ đít, cháu đeo vô vẫn cứ chớp lia chớp lịa, xẹt bảy sắc cầu vồng rực rỡ. Thôi thì cháu gỡ ra bán bớt để giúp mấy em ăn học.

Cô Hai Kim Ðiệp rủ cô Hai Kim Chung vô buồng cô để xem những bức tranh thêu của cô treo trên vách. Một bức thêu sen hường và cặp uyên ương giỡn nước, bức kia thêu khóm lan tím có đôi bướm nhiều màu chập chờn muốn đậu. Con chó cò thừa lúc cửa buồng mở, liền theo vào, chui xuống gầm bàn vừa cào đất vừa sủa nồ, thỉnh thoảng lại tru lên từng tràng dài.

Cô Hai Kim Ðiệp bảo người chị bạn dì:

– Con chó nầy của chị Hai Ngọc Dung cho đó đa. Nó dễ thương lắm, nhưng mỗi khi chui vô được buồng em, nó lại quào đất rồi sủa om sòm.

Cô Hai Kim Chung nói giỡn:

– Biết đâu dưới đất có chôn hũ vàng hũ ngọc gì đó. Hôm nào rảnh rang, em thử đào lên coi.

Cô Hai Kim Ðiệp chưng hửng:

– Ủa sao lạ vậy! Lần trước chị Hai Ngọc Dung thấy con chó quào sủa dưới gầm bàn, cũng nói y chang như chị vậy.

               

Chương Bảy

 

 

Cô Hai Kim Ðiệp và cô Hai Ngọc Dung thường ngồi xe thổ mộ ra chợ Mỹ Tho mua sắm. Lần nào họ cũng ghé nhà cô Hai Kim Chung để biếu xén quà cáp. Sáng nay, hai cô Kim Ðiệp và Ngọc Dung vừa đến cổng nhà cô Hai Kim Chung thì cũng vừa lúc người danh kỹ tiễn mẹ con cô Sáu Thọ Huệ ra về. Cô Hai Thoại Hảo cầm tay hai cô bạn cũ, ân cần:

– Trưa nay, nếu hai chị có rảnh, xin tháp tùng dì Hai Kim Chung tới nhà mẹ con em dùng cơm, để tụi mình nhắc lại chuyện cùng học ngày xưa.

Cô Sáu Thọ Huệ tán thành:

– Phải đó. Các em nên tới chơi để mối giao tình giữa đôi bên thêm thân mật.

Cô Dung và cô Ðiệp e dè ngó nhau. Mẹ con cô Sáu ăn mặc, trang điểm choáng lộn làm họ mặc cảm. Chiếc áo gấm đen dệt chim phụng bằng kim tuyến của cô Sáu Thọ Huệ và chiếc áo nhung màu huyết dụ của cô Hai Thoại Hảo như sáng hẳn lên nhờ hột xoàn, ngọc trai, cẩm thạch tô điểm. Cho nên cô Dung và cô Ðiệp cảm thấy chiếc áo dài bằng nhiễu tím than và bằng lụa màu hột gà của mình lu mờ một cách thảm hại. Cùng lúc, cô Hai Thoại Hảo đắn đo liếc qua mẹ. Tự dưng cô có cảm tưởng hai cô bạn cũ e dè, ngại tiếp xúc với những kẻ mang nhiều tai tiếng như mẹ con cô. Cô Hai Kim Chung vốn thông minh tế nhị, hiểu ẩn tình đôi bên, mau mắn bảo mẹ con cô Sáu:

– Chị và cháu hãy về chuẩn bị trà nước. Cỡ chừng gần ngọ, em sẽ giải giao hai con nha đầu nầy tới chị.

Nhà cô Hai Kim Chung là một biệt thự, tường đúc bê-tông, mái lợp ngói móc, cửa sổ lót kiếng, nằm giữa vườn bông. Phòng khách của cô chưng bày bàn ghế đóng theo kiểu Tây, nhưng các đồ ngoạn khí như đôn, bình thì bằng sứ, bằng ngà hay ngọc mã não.

Hôm nay cô Hai Kim Chung mặc bộ đồ xẩm may bằng lụa lèo màu hột gà, lai và cổ áo thêu bông huê bằng chỉ ngũ sắc. Trong tuần trà nước, cô kể:

– Bùa chú của bác Hai Lầu linh quá. Hôm vừa rồi chị dẫn mẹ con chị Sáu đi Ðạo Thạnh viếng bác để xin bùa, niệc. Bác cho mẹ con chị Sáu tám đạo bùa, bốn đạo cho mẹ con chỉ, hai đạo tặng ông Tây đại lý xà-bông, hai đạo tặng thầy giáo Lê Huy Chánh là những người mà mẹ con chị Sáu định gá nghĩa trăm năm. Từ bấy lâu nay, hai em biết đó, mẹ con chị Sáu đều là tình nhơn của thầy kiện Hữu Vượng, bị tai tiếng nhục nhã lắm. Nay họ quyết chí tùng lương, nhưng đời nào thầy Hữu Vượng chịu nhả mẹ con chị Sáu ra bởi mẹ con họ giàu nứt đố đổ vách. Tên Hữu Vượng đó lòng dạ thiệt trâu tria rắn rít. Hắn túc ráy với mụ Quản hạt Thất sao đó, dùng chú quỉ khởi thi làm cho ông Laporte đau một trận thập tử nhứt sanh. Chị Sáu đem hai đạo bùa đeo vô cổ ổng thì cơn nóng dịu lần, chứng mê sảng chấm dứt. Sau đó, chỉ đến nhà bác Hai Lầu thỉnh thêm một đạo bùa nữa, đốt ra tro rồi hoà với nước mưa cho ổng uống, cơn nóng biến mất.

Cô Hai Kim Chung ngừng kể, khuyên mời hai cô Dung, Ðiệp dùng trà bánh rồi nói tiếp, giọng tức tối:

– Còn chuyện âm mưu ám hại thầy giáo Lê Huy Chánh cũng độc địa không kém. Hữu Vượng mướn bọn bất lương chui vô vườn nhà thầy giáo chôn đồ quốc cấm như truyền đơn và súng rồi báo lính kín tới bắt. Dè đâu đêm đó thầy Chánh nằm chiêm bao thấy vong hồn ông già tía thẩy về báo mộng, chỉ chỗ nên thẩy đào lên kịp, đem liệng ngoài sông. Nhờ đó mà mấy bữa sau, lính kín tới xét nhà, xét vườn không tìm ra tang vật. Vậy chớ thẩy cũng bị bắt giải lên bót. May nhờ ông Laporte quen thân với quan cò mi tỉnh mình, can thiệp sao đó nên thầy Chánh được về, đi dạy học như cũ.

Khi các ly giải khát vừa cạn, cô Hai Kim Chung bảo:

– Hôm nay chị rủ hai em tới chơi nhà chị Sáu để có dịp gặp ông Laporte và thầy Chánh. Họ đều là những người lịch sự, khôi ngô, thiệt xứng đôi đẹp lứa với hai mẹ con chị Sáu.

 

Nhà cô Sáu Thọ Huệ ở chợ Cũ, bên kia cầu Quây. Ðó là ngôi nhà bánh ít gồm ba căn hai từng, không cất chái nên coi giống nhà kiểu Tây. Chung quanh nhà là vườn cây ăn trái. Sân trước lót gạch tàu bày hòn non bộ và các chậu cây kiểng. Phòng khách trang hoàng theo kiểu xưa, bàn ghế tủ thờ đều cẩn ốc xa cừ, lại còn treo liễn mun, liễn son, đôn sứ, cẩm đôn choáng lộn.

Cô Hai Thoại Hảo mời mọi người lên gác. Căn phòng nầy vừa làm nơi tiếp khách vừa để đãi tiệc. Phía ngoài bày bộ sa lông cẩm lai, mỗi chiếc ghế có bày gối dựa bằng nhiễu vàng thêu chỉ ngũ sắc. Phía trong là bộ bàn ăn dài. Tường quét vôi màu trứng sáo treo vài bức tranh phong cảnh. Hai bên vách là dãy tủ kiếng đựng đầy các món cổ ngoạn.

Ông Richard Laporte và thầy giáo Chánh đã ngồi sẵn ở sa-lông, uống rượu khai vị. Ông Laporte mặc com-lê màu xám ngọc trai, đi giày đen, thắt cà-vạt đen điểm nút chuồn màu thiên thanh. Thầy giáo Chánh mặc sơ-mi cụt tay màu cà phê sữa, quần tây dài màu sô-cô-la, đi giàu da màu nâu đỏ.

Sau màn giới thiệu, ông Laporte bảo hai cô gái bằng tiếng Việt:

– Chắc hai cô không dè tôi là dân Pháp nhưng rất rành tiếng Việt và theo đạo Phật, đạo của bên ngoại tôi. Tôi biết ăn đủ thứ mắm, thích chơi đá gà, coi hát bộ, coi cải lương và biết…

Cô Hai Kim Chung mỉm cười tiếp lời:

– …sử dụng đờn tranh và ca vọng cổ nữa.

Thức ăn được dọn lên. Cô Sáu mời khách nhập tiệc. Hôm nay cô đãi món chạo tôm và món suông. Trong lúc đề cập vụ thầy kiện Hữu Vượng chôn đồ quốc cấm trong vườn nhà thầy giáo Chánh, cô Hai Thoại Hảo than vãn:

– Mai kia mốt nọ, không biết ông trạng sư kia còn giở ngón đòn thâm độc gì nữa đây!

Thầy giáo Chánh:

– Kể ra bùa hộ mạng của bà Hai Lầu thiệt linh nghiệm. Vong hồn tía tui về báo mộng cho tui biết mà đề phòng là nhờ có quỉ thần nương theo thần lực của đạo bùa tới báo tin cho ổng biết.

Ông Laporte sốt sắng:

– Chúa nhựt tới, chú sẽ lái xe rước Chánh tới am bà Hai Lầu dưng hương. Chánh nghĩ sao?

Thầy giáo biểu đồng tình:

– Lời chú dạy rất hiệp ý cháu.

Cô Sáu đề nghị:

– Anh cho má con em tháp tùng với chớ. Ðể em mua phẩm vật cúng dường.

Tiệc tan, hai cô khách kiếu từ ra về kẻo cả nhà trông. Cô Sáu Thọ Huệ mở tủ lấy xấp gấm màu hồng phấn nổi hoa bạc tặng cô Hai Ngọc Dung may áo, gọi là đền ơn gián tiếp bà Hai Lầu. Cô cũng tặng cô Hai Kim Ðiệp xấp lụa Hà Ðông để đánh dấu buổi thăm viếng bất ngờ nầy.

Khi hai thiếu nữ đi rồi, cô Hai Kim Chung còn ở lại. Cô Sáu sai chị ở pha một hiệp trà ngon để mọi người cùng thưởng thức. Cô Hai Kim Chung hỏi:

– Từ hôm chị tuyệt tình tới nay, tên kỳ đà đó có bén mảng tới thêm lần nào nữa không?

Cô Sáu Thọ Huệ liếc qua ông Laporte:

– Có một lần thôi, nhưng tui không tiếp. Y ta hăm he mẹ con tui đủ thứ, nghe mà ớn óc. Tui biết y ta có về Bến Chùa năn nỉ má y ta giúp bùa ngải đặng chài lại má con tui. Nhưng bà Quản hạt Thất chỉ mong hất tụi tui ra khỏi cuộc đời y ta, chớ đâu có muốn chim về ổ xưa, ngựa về tàu cũ. Do đó mà y ta đi tìm bùa chỗ khác, dè đâu gặp thứ bùa non, đụng bùa bà Hai Lầu cũng tỉ như rơm gặp lửa, cháy rụi.

Rồi cô nhìn đồng hồ trẩm cầm treo trên vách:

– Em ngồi chơi. Lát nữa có khách tới viếng.

Cô Sáu trở vô buồng sửa soạn. Chừng một giờ đồng hồ sau thì anh bồi lên gác báo tin:

– Thưa bà chủ, có ông đạo Hy Mã tới.

Cô Sáu Thọ Huệ rủ mọi người xuống lầu tiếp rước dị nhơn. Ðó là một người đờn ông không tuổi tác, tóc hoa râm, khuôn mặt sáng hồng không một vết nhăn, vóc vạc thanh cảnh. Ông ta mặc áo bành tô bằng vải xi-mi-li trắng, nút áo bằng hổ phách có chạm bông nổi, quần ka ki trắng ủi thẳng nếp, giày da hai màu đen trắng. Tóc ông ta hớt ngắn, trước trán hơi dợn và bóng như lụa. Mắt ông sáng như sao, cặp môi tươi hồng dưới hàng ria mép tỉa mỏng.

Cô Sáu Thọ Huệ sau khi giới thiệu hai bên, liền mời mọi người an tọa. Bên mâm trà bánh, cô Hai Kim Chung văn vẻ hỏi chuyện ông đạo Hy Mã:

– Thưa ông đạo, mấy tuần rồi tôi có nghe tin ông tới vùng Ðịnh Tường nầy để cứu nhơn độ thế, cứu khổn phò nguy, tôi lấy làm ái mộ lắm, mong được gặp ông. Nhưng trộm nghĩ nếu không có duyên với nhau thì làm cách chi cũng khó lòng gặp được. Nào dè hôm nay tôi có cái may không cầu mà được tương kiến, thiệt là hân hạnh xiết bao.

Ông đạo Hy Mã gật gù:

– Việc gì cũng do nghiệp lực đưa đẩy cả.

Cô Hai Thoại Hảo ngó qua cô Hai Kim Chung:

– Ðúng vậy đó dì Hai. Hai má con cháu đây nghĩ mình nghiệp dày đức mỏng, đâu dám mong gặp ông đạo, vậy mà hôm nọ đi thăm chị hàng xóm sanh nở, vừa bước ra thì gặp ông đạo đây tới viếng chị ta.

Thầy giáo Chánh xen vào:

– Bởi hôm đó cô Sáu và em tới thăm nom, an ủi, giúp đỡ chị ta nên đã gieo nhơn lành và nhờ đó mà gặp được bực chơn nhơn.

Ông đạo cười:

– Thầy giáo nói quá lời. Tui chỉ mới võ vẽ vài món phép tắc trừ bùa chú của bọn thầy bà yêu nghiệt chớ có phép thần thông gì đâu mà thầy gọi tui là chơn nhơn! Bởi mẹ con cô Sáu đây là người nhơn đức, đã giúp đỡ trường mù, trường dạy kẻ câm điếc, việc dục anh cùng các công việc lập chùa, in kinh, đúc tượng, đúc chuông… nên tui tìm đến mẹ con cổ.

Rồi ông quay qua ông Laporte, tươi cười:

– Tui chúc mừng ông tai qua nạn khỏi. Rồi đây cuộc chắp nối giây đờn của ông sẽ hạnh phúc tràn trề. Còn thầy giáo đây và cô Hai cũng sẽ trở thành cặp giai ngẫu. Vận bĩ của cô Sáu và cô Hai đã hết. Hôm nay tui đến xin chữa lành một món bửu vật của cô Sáu, dù cô chỉ mời tui đến để dùng trà mà thôi.

Ông nhìn chăm chăm vào mặt cô Sáu:

– Cô hãy lấy sợi dây chuyền bướm có cẩn đồng tiền và những phiến ngọc xanh cho tui coi thử.

Cô Sáu e dè:

– Bẩm ông đạo, sợi dây chuyền bướm đó con ở tui lỡ làm rớt, ngọc xanh rạn nứt ráo trọi, còn miếng mề đay bằng đồng thì không sao. Tui chỉ biết đó là món gia bửu chớ không biết nó quí tới mực nào. Ðể tui đi lấy cho ông đạo coi.

Cô vào buồng rồi trở ra với chiếc hộp gấm. Sợi dây chuyền bướm bằng vàng xâu kết bốn miếng ngọc xanh hai bên một đồng tiền có chạm chữ nho. Trên mặt tám miếng ngọc kia có những vết rạn như sợi tóc vắt qua. Ông đạo Hy Mã ngắm nghía từng miếng ngọc, bảo gia chủ:

– Ðây không phải là ngọc phí thúy hay lam ngọc mà là tám miểng bằng sứ tráng men xanh. Sứ nầy quí còn hơn ngọc vì đó là loại sứ Sài Diêu thời Hoàng đế Châu Thế Tôn bên Tàu. Châu Thế Tôn tên là Sài Vinh, khi lên ngôi cửu ngũ, có cho thợ chế ra thứ sành sứ có nước men xanh lặt lìa như da trời sau khi tạnh mưa, đặt tên là sứ Sài Diêu. Người Tàu quí loại sứ nầy lắm, có câu: Ngàn vàng dễ kiếm, Sài Diêu khó tìm. Còn đồng tiền nầy cũng được đúc từ triều đại đó, gọi là Châu Ngươn Thông Bửu. Nó bằng đồng lấy từ tượng Phật mà đúc nên. Ai đeo nó sẽ gặp nhiều sự lạ, người lành thì tránh được tật bịnh, còn kẻ dữ thì không thể giữ nó được lâu vì nó hành thành bịnh dây dưa.

Cô Sáu Thoại Hảo chỉ chắp tay niệm Phật, không nói không rằng. Ông đạo Hy Mã lấy ngón tay trỏ chà lên mặt sứ, miệng đọc thần chú lầm thầm. Sau đó ông rút khăn ra chùi từng phiến sứ và luôn cả đồng tiền rồi trao lại cho chủ nhơn. Mọi người xúm lại xem. Những vết nứt vết rạn trên mỗi phiến sứ đã biến mất, trả lại màu xanh bóng như ngọc, còn đồng tiền Châu Ngươn Thông Bửu thì sáng rực lên ánh vàng diệp pha đỏ.

Cô Hai Kim Chung khen nức nở, nhưng cô không dám ngỏ lời nhờ ông đạo Hy Mã chữa lành những viên kim cương nước phèn, khờn cạnh, mẻ đít hay có chấm bọt chấm than của mình. Cô tự biết mình đã từng làm nhiều kẻ tán gia bại sản thì lý nào ông đạo lại ra tay giúp cô.

Ông đạo nâng tách trà lên uống từng ngụm chậm rãi rồi bảo cô Hai Kim Chung:

– Tui biết cô muốn bán một mớ nữ trang đặng giúp cho hai cậu em bạn dì ăn học. Vậy tui cũng sẽ trổ chút tài mọn giúp cô chữa lành những tì vết của các viên ngọc kia. Cô hãy về nhà đem mấy thứ đó lại đây.

Ông Laporte sốt sắng:

– Ðể tôi đưa cô Odette về nhà lấy ngọc đem lại đây cho mau.

Chừng hai chục phút sau, cô Hai trở lại với chiếc hộp nhung đựng các món nữ trang. Ông đạo ngắm nghía từng món rồi lấy móng tay tách từng viên ngọc ra, vừa lau chùi từng hột vừa niệm mật chú. Xong xả, ông tra ngọc vào vỏ rồi bảo cô Hai Thoại Hảo:

– Cô lấy kính lúp cho mọi người xem thử từng hột ngọc coi nó có khác chầu xưa hay không.

Mọi người chuyền tay ngắm nghía. Các tì vết nơi mỗi viên ngọc đã biến mất. Viên nào viên nấy toả sáng lấp lánh thấy mà mê luôn. Cô Hai Kim Chung hết lời tạ ơn ông đạo. Ông mỉm cười, lắc đầu:

– Tui có công ơn gì đâu. Chẳng qua là của tìm người để cô có thể góp phần nuôi kẻ anh tài mai sau làm rạng rỡ quê hương.

 

Cô Hai Kim Chung hôm sau đi Sài gòn để dạm bán ngọc và mua các thứ trái cây đem về góp phần trong đám giỗ ông ngoại mình tức tía bà Hai Dần.

Bữa nay nhà ông bà Hai Dần có đám giỗ. Ðể sửa soạn cho bữa giỗ tiên, ông Hai Dần câu được ba ký tôm càng, bà Hai thì nuôi sẵn cặp vịt cà cuống và hai con gà. Cô Hai Kim Chung tặng dì dượng mình hai chục đồng để trang trải hai bữa giỗ. Ông Hai Dần mời gia đình ông Hương bộ Khâm, thầy giáo Hớn, ông bà Ðốc học Thông, cậu Bảy Trinh Tường, bốn chị em cô Hai Ngọc Dung và cô Hai Tố Trinh. Nhưng bữa tiệc giờ chót không đông vì người thì ể mình, kẻ lo học, không tới dự được.

Khi khách ra về hết, trong nhà chỉ còn lại cậu Bảy Trinh Tường và cô Hai Kim Chung. Bà Hai Dần sai cô Hai Kim Ðiệp nấu soong chè táo soạn để ai thức khuya thì có mà dùng giải lao. Cậu Ba Kim Lân xách nước đổ đầy lu trong nhà tắm, khuyên cậu Bảy Trinh Tường tắm rửa cho mát mẻ.

Tối hôm đó, ông Hai Dần lấy giàn hát máy ra cho chạy các dĩa vọng cổ. Cậu Bảy Trinh Tường và cô Hai Kim Ðiệp đứng trò chuyện dưới mái hiên tối. Hai cậu Kim thì rút vô buồng để học bài, làm bài. Bà Hai Dần thì vô buồng trò chuyện với cô Hai Kim Chung. Bỗng con chó cò chạy vô chun dưới bàn viết vừa quào vừa sủa điếc con ráy. Bà Hai Dần xách cổ nó đuổi ra ngoài. Ðâu chừng một lát sau, cô Hai Kim Ðiệp đẩy cửa buồng bước vào thì con chó lẻn vào theo mà không ai hay. Bà Hai hỏi:

– Thằng Bảy đâu?

– Ảnh đang hầu chuyện tía, má!

Bà Hai Dần bảo con gái:

– Má thấy hồi chiều thằng Bảy uống rượu hơi nhiều. Con nên châm bình trà lớn đặt trên bàn viết trong buồng em con để nó có khát thì sẵn nước đó mà uống.

– Con đã lo đâu đó rồi, xin má an tâm.

Cô Hai Kim Chung nhìn cô em họ:

– Hai thằng Lân, Luông năm nay học hành ra sao? Chị chỉ sợ tụi nó mảng lo chuyện mèo mỡ mà bỏ phế việc học.

Cô Hai Kim Ðiệp cười:

– Chị chớ lo! Tụi nó khôn giàn mây, chơi là chơi vậy chớ biết lo học lắm. Kỳ lục cá nguyệt vừa rồi, môn nào tụi nó cũng chiếm đầu sổ ráo trọi.

Cô Hai Kim Chung hài lòng lắm. Ngoài trung đường, điệu vọng cổ trong dĩa hát im bặt. Ðêm thôn quê yên tĩnh. Thỉnh thoảng tiếng mõ ngoài điếm canh nổi lên văng vẳng. Dưới nhà sau, con Tí xay bột cút kít. Bên hàng xóm có tiếng ru con văng vẳng. Tháng mười chưa cười đã tối. Mới sáu giờ chiều mà trời đất đen thui, tưởng như khuya lắm rồi. Tiếng nước ngoài ống cống chảy ồ ồ. Một cơn dông thoảng qua. Ðám lá dừa nước ngoài bãi chuyển mình xào xạc. Gió lòn khe hở tạt vào buồng làm ngọn đèn huê kỳ chao động.

Bà Hai Dần nhìn cô Hai Kim Chung:

– Cháu nên bớt ăn xài, cắc ca cắc củm tiền bạc để hộ thân. Tao nghe nói thứ bảy nào mầy cũng xách đít qua Chợ Cũ xoa mạt chược hay chơi tứ sắc.

Cô Hai cười:

– Cháu chỉ bài bạc chút ít để giải khuây chớ cháu tự biết mình là thứ trên không chằng dưới không rễ, chồng ngày chồng bữa, con cái không có, bởi vậy phải súc tích tiền bạc để hộ thân chớ đâu dám lãng phí.

Cô rót nước sa kê ra uống cho thấm giọng rồi kể:

– Sáng nay cháu xách đít ra chợ chồm hổm trước rạp hát thầy Năm Tú ăn cháo lòng thì gặp anh Tám Huỳnh từ trong tiệm nước chú Dành đi ra. Chắc dì còn nhớ ảnh, hồi xưa ảnh trọ ở nhà ông bà Bảy Ðáng gần ga xe lửa Trung Lương đó…

Bà Hai Dần cười:

– Thằng Tám Huỳnh con ông giáo Chúc ở Cai Lậy đó phải không?

– Ảnh đó đa dì. Hồi cháu mười sáu tuổi, cháu có lẹo tẹo với ảnh. Tới chừng gặp thằng Tây chủ đề bô rượu, cháu cho ảnh gie luôn. Ảnh thất chí thất tình đi học ở Sài gòn, đậu bằng tú tài rồi rút về Cai Lậy kế nghiệp cha lo săn sóc ruộng vườn. Hỏi ra, tới bây giờ ảnh vẫn chưa cưới vợ, lại còn tu tại gia theo đạo Cao Ðài và ăn chay trường.

Cô Hai Kim Ðiệp cười:

– Tình cũ không rủ cũng tới, phải không chị?

Cô Hai Kim Chung lơ đãng ngó ngọn đèn:

– Tao cũng còn yêu thương ảnh. Mà ảnh gặp tao thì ngó bộ buồn bực lắm. Thấy ảnh buồn mà tao bồi hồi tấc dạ. Nếu tao hườn lương làm lại cuộc đời, thì kẻ mà tao nhắm tới là ảnh chớ chẳng ai khác.

Rồi cô than thở:

– Thiệt tình, từ khi dấn bước vô con đường bán dạng thuyền quyên nầy, tao chỉ đập đổ tụi Tây tà, tụi nhà giàu cường hào ác bá mà thôi. Dầu gì thì dầu, tao cũng đã bòn rút của phi nghĩa, chẳng biết tao có được hưởng của đó trọn vẹn không!

Bà Hai Dần an ủi:

– Cháu tuy mắc vô vòng huê nguyệt nhưng có tâm địa tốt. Trời sẽ ngó lại cháu. Bấy lâu nay dì dượng được cháu giúp đỡ nhiều, tụi em cháu sẽ không quên ơn cháu đâu.

Con chó từ gầm giường chui ra gầm bàn vừa cào vừa sủa inh ỏi. Cô Hai Kim Ðiệp than:

– Con chó nầy hễ có khách là chui xuống gầm bàn vừa quào vừa sủa điếc đít. Chẳng biết có giống gì chôn dưới đó không đây?

Cô Hai Kim Chung cười:

– Tao giống con Hai Ngọc Dung, nghĩ dám có bạc vàng châu báu chôn ở chỗ nó quào lắm! Nhà nầy nền đất, mầy tìm cho tao chiếc cuốc để tao đào coi sao.

Bà Hai Dần cười, can gián:

– Cháu đừng có rắn mắt!

– Thì dì cháu mình cứ đào thử, nếu không thấy gì lạ thì mình lấp đất rồi nện lại, mất mát gì đó?

Cô Hai Kim Ðiệp lấy cuốc vào. Hai chị em đào sâu chừng hai gang tay là đụng nhằm một cái hũ lớn cỡ cái ô trầu, nắp trét vôi trộn đường và nhựa cây ô dước. Ðập vỡ nắp thì vàng từng nén tuôn ra lểnh nghểnh. Con chó từ lúc cô Hai Kim Ðiệp đào đất thì nó thôi sủa. Tới chừng cô toan lấp đất lại thì nó chạy lại vừa quào vừa sủa rối rít.

Cô Hai Kim Chung bảo em:

– Ðào thêm nữa đi Ðiệp, biết đâu có thêm hũ nào nữa.

Cô Hai Kim Ðiệp nghe lời, đào thêm, moi lên được một hũ sành nhỏ đựng toàn nữ trang kiểu xưa rích xưa rang như bộ dây chuyền chín sợi, bộ dây chuyền nách cũng chín sợi, bộ neo quai chảo mười tám vòng, cặp kim hoàn chạm long vân khánh hội, cặp vòng chạm lưỡng phụng triều dương, năm chiếc cà rá chạm cửu khúc liên hườn, một cặp kiềng chạm, một cặp kiềng trơn, một cặp kim xuyến, hai cặp bông tai mù u.

Bà Hai Dần bảo cô Hai Kim Chung:

– Bao nhiêu vàng nầy nếu tìm phương sanh lợi thì cũng đủ nuôi hai thằng em cháu ăn học rồi. Cháu khỏi phải lo giúp dì dượng nữa.

Cô Hai cười:

– Chỗ vàng nầy bất quá chừng năm chục lượng chớ bao nhiêu. Ðường ăn học tụi nó còn dài. Còn nữ trang nầy thì xin dì dượng làm món hồi môn cho con Ðiệp.

Cô Hai Kim Ðiệp nhìn số nữ trang:

– Nhiều quá, em đeo sao hết! Bấy lâu nay chị sắm sửa vi cánh cho em cũng khá nhiều rồi.

Cô lấy một chiếc kim xuyến, một chiếc vòng chạm long vân khánh hội, một chiếc vòng chạm lưỡng phụng triều dương và đôi bông mù u cho cô Hai Kim Chung:

– Khi nào mặc áo gấm, chị đeo mấy thứ này chắc hạp lắm.

Con chó cò lách qua cửa mở hé để ra ngoài. Hai cô Kim lấp đất lại rồi đi tắm rửa. Cả hai trở vào thì đã thấy ông bà Hai Dần ngồi ở trung đường. Ông Hai Dần xúc động, bảo cô Hai Kim Chung:

– Như vầy là Trời Phật đã giúp gia đình dì dượng. Từ mười mấy năm nay, dượng muốn làm chủ một trại cưa vì hồi xưa dượng có làm tài phú cho trại cưa của ông chủ Chẩn ngoài chợ Gạo, thấy mau khá lắm. Giờ đây điều mong ước của dượng có cơ hội thực hiện rồi.

Bà Hai Dần cười:

– Ông muốn làm gì đó thì làm. Còn tui, tui quen nghề làm bún, bánh hỏi, bánh nghệ rồi. Tui không theo ông đâu.

Ông Hai Dần vui vẻ:

– Bà cứ theo nghề cũ mà làm. Chỉ mong bà nấu cơm cho thợ cưa ăn là được.

Cô Hai Kim Ðiệp chắc lưỡi:

– Tiếc quá, nay mai con lại đi lấy chồng, không giúp ích gì cho ba má được.

Ông Hai Dần chau mày:

– Từ bấy lâu nay, cậu Bảy không lo bề tiến thân. Nếu lập gia đình với con rồi, nó phải lo làm ăn chớ. Cái bằng tú tài có thể giúp nó đi dạy học được.

Cô Hai Kim Chung trấn an:

– Dượng chớ lo. Ðể cháu òn ỉ với quan Chánh tham biện giúp đỡ cẩu kiếm chỗ dạy học. Còn con Ðiệp thì theo cháu chạy áp phe cho có chị có em.

Ðêm đó, trong lúc cậu Bảy Trinh Tường và hai cậu Kim ngủ mê man tàng tịch thì vợ chồng ông Hai Dần và hai cô Kim trò chuyện cho tới canh tư mới đi ngủ.

Sáng sớm hôm sau, bà Hai Dần dậy sớm, xuống bếp nấu nước pha trà và dọn điểm tâm. Cô Hai Kim Ðiệp cũng chỗi dậy, chải gỡ tóc tai. Cô Hai Kim Chung cựa mình, rên i ỉ:

– Chu choa ơi, thức khuya ngủ muộn, chị Hai mầy đau rêm sống lưng đây nè! Ðể tao ngủ thêm một chặp nữa nghe Ðiệp.

Cô Hai Kim Ðiệp cười:

– Chị cứ ngủ cho đã giấc, cho tới mặt trời lên ba sào cũng được.

Nói rồi cô bước xuống bếp lo bắc nước sôi làm gà làm vịt cho bữa giỗ chánh.

Khi mọi người trong nhà vừa dùng điểm tâm xong thì chị em cô Hai Ngọc Dung tới. Bà Hai Dần niềm nở:

– Các cháu ăn sáng chưa? Ðể con Ðiệp dọn cho chị em bây mâm điểm tâm.

Cô Hai Ngọc Dung trao cho bà Hai Dần bốn ngăn quả bánh hấp:

– Tụi cháu có đón xuồng bán bánh ướt để ăn sáng rồi.

Hai cậu Kim đạp xe ra lò heo ở chợ Trung Lương mua đầu heo và lòng heo cho các bà các cô nấu cháo lòng và làm món đầu heo luộc chấm mắm nêm.

Ðang lúc các bà các cô đang nấu nướng trong căn bếp rực ánh lửa thì ông Hai Dần bước vào, nói với vợ:

– Mình à, con chó cò chết rồi!

Mọi người đều chưng hửng. Ông Hai Dần tỏ vẻ buồn bực:

– Mới nãy tui ra vười hái chanh, bẻ cam thì thấy nó nằm úp bên gốc cây rơm. Tui gọi mà không thấy nó ngoắc đuôi, nhúc nhích gì hết. Tới gần thì thấy nó đã chết, nhưng ngực còn nóng hổi. Tui đem xác nó vô nhà kho rồi.

Bà Hai Dần và cô Hai Kim Ðiệp rống lên khóc nhưng không dám kể vận sự con chó chỉ chỗ tìm vàng đêm trước cho chị em cô Hai Ngọc Dung. Cô Tư Ngọc Nhan an ủi:

– Từ khi con chó cò về đây, nó được hai bác và các anh chị tưng tiu nuôi dưỡng, nay nó rủi chết đi, hai bác đâu có gì để ân hận…

Ông Hai Dần nói:

– Ðể tui kiếm ván thao lao đóng cho nó cái quách nhỏ.

Bà Hai Dần rửa tay theo chồng ra kho chứa nông cụ. Bà đem thây con chó ra lau rửa sạch sẽ rồi dùng chiếc khăn vải hồng điều gói thây nó. Bà cũng không quên lấy xâu chuỗi bồ đề tròng vô cổ nó.

Ông Hai Dần bảo vợ:

– Má nó cứ lo nấu nướng đi. Khi thằng Lân, thằng Luông về tới nhà, tui sẽ biểu tụi nó đào huyệt chôn con nghĩa khuyển nầy.

Bà Hai Dần trở lại bếp, nước mắt lau hoài mà không ráo. Cậu Bảy Trinh Tường tiếp tay cưa ván. Khi hai cậu Kim về tới là ra tay đào huyệt. Cô Hai Kim Chung cũng vừa thức dậy. Cô súc miệng rửa mặt, mặc áo quần tử tế rồi đốt nhang, đọc thần chú vãng sanh cầu cho vong linh con vật được siêu sanh.

Chôn con chó xong thì khách khứa cũng lục tục kéo tới. Gia chủ cúng xong, cỗ được dọn làm ba mâm. Một mâm cho các ông, một mâm cho các bà và một mâm cho bọn trẻ.

Tiệc tan, cô Hai Kim Chung ngỏ ý với cô Tư Ngọc Nhan đưa cô tới viếng bà Hai Lầu và bà Ba Các, cô cúng dường cho am mười đồng bạc. Xong, cô tới thăm bà Hương bộ Khâm. Lối ba giờ chiều, cô mới từ giã dì dượng mình để về Mỹ Tho. Cô Hai Kim Ðiệp nài nỉ:

– Ở đây chơi với tụi em đi chị. Chiều nay em sẽ nấu bánh canh bột gạo cho chị ăn giải lao.

Cô Hai Kim Chung cười:

– Vắng nhà lâu không tiện. Mai, em nhớ đem hết nữ trang ra nhà chị rồi chị em mình đến tiệm vàng Khương Hữu. Hễ món nào quá xưa thì mình phá đi làm món trang sức kim thời, còn món nào giữ lại thì mình nhuộm cho nó đỏ au. Vàng chôn lâu năm mét chằng mét ưởng hết trọi rồi đó.

Sau đó, cô Hai Kim Ðiệp tiễn cậu Bảy Trinh Tường ra đường lộ. Ðến chỗ mọc toàn tre gai, không bóng người qua lại, cậu ôm chặt cô, hun cô thiệt nồng. Khi cả hai buông nhau, cô Hai Kim Ðiệp rủa:

– Ðồ quỉ gì đâu nà! Ai thấy thì chết!

Cậu Bảy cười hề hề:

– Mốt, anh sẽ qua thăm em.

Cô Hai Kim Ðiệp về nhà tắm rửa, thay áo rồi vô buồng nằm dưỡng sức. Chưa giập bã trầu, cô đã ngáy lảnh lót. Bỗng cô thấy một bà già mặt dùn da ổi, tóc bạc phơ phơ, sắc mặt tiều tụy đến bên cô, bảo:

– Nè Kim Ðiệp, bà đây là vợ kế ông cố cháu. Bà tên Lý Thị Gòn. Số là bà cố cháu tên Lê Thị Ún sau khi sanh được một gái đặt tên là Ðỗ Thị Cúc, tức bà nội cháu đó, thì từ trần. Ông cố cháu mới cưới bà làm kế thất. Bà sanh được một trai tên Ðỗ Văn Thuần. Càng thương con ruột bà càng bỉ bạc, hà khắc con ghẻ. Hễ ông cố cháu làm được đồng nào bà cũng góp gom để sắm vàng sắm nữ trang. Ðến khi ông cố cháu qua đời, bà không cho bà nội cháu một đồng điếu nào, lại còn đẩy bà nội cháu làm tớ gái ông Cai Hinh, tía cậu Hai Thảo. Cậu Hai Thảo dụ dỗ thị Cúc tới mang bầu, đẻ ra Hai Dần tức tía của cháu đó. Riêng phần bà, bởi bà phạm tội hà khắc với con ghẻ rồi đoạt của nên bà chịu ác nghiệp nặng nề. Thằng con bà sanh tật mê gái, rồi rượu chè, bài bạc. Hễ bà ló ra quan tiền nào là nó đánh khảo bà để lấy cho bằng được. Rồi đó, nó thông dâm với vợ bạn, bị thằng đó chém chết. Khi nghe tin nó tử nạn, bà đứng tim mà chết theo. Hũ vàng nén và nữ trang vẫn chôn tại nền nhà cũ, trong căn buồng của bà, giờ thành buồng của cháu đó. Bà nội cháu và tía má cháu nào hay vàng của ông cố cháu hơn năm chục năm vẫn nằm yên trong lòng đất của nền nhà nầy. Bà đã trải qua kiếp làm ngạ quỉ, sống dật dờ đói khát lạnh lẽo. Nhưng sực nhớ danh hiệu đức Dược Sư Lưu Ly Quang, bà cứ chú tâm tụng niệm luôn, cho tới kiếp vừa rồi bà đầu thai làm con chó cò, tìm cách chỉ chỗ chôn vàng cho mẹ con cháu, có vậy bà mới được đầu thai thành người, thoát khỏi kiếp súc sanh!

Nói xong, bà già vội vã bước đi. Cô Hai Kim Ðiệp chạy theo nhưng vấp phải cục gạch, giựt mình choàng tỉnh. Bên ngoài trời đã xế chiều. Cô dưỡng thần một lúc cho đầu óc trong trẻo rồi chỗi dậy xuống bếp nấu cơm. Cô thỏ thẻ thuật lại cho mẹ nghe giấc dị mộng vừa rồi. Bà Hai Dần niệm Phật lia lịa rồi bảo con gái:

– Con chó cò tuy chết nhưng ngực nó còn ấm hiểm. Bà Hai Lầu có kể, trong cuốn Liễu sanh thoát tử dạy rằng, hễ chúng sanh nào khi chết mà đỉnh đầu nóng hực là được sanh lên cõi Phật, mặt còn nóng là sanh lên cõi trời, ngực nóng là sanh về cõi người, bụng nóng là sanh xuống cõi ngạ quỉ… Bởi bà Lý Thị Gòn thành tâm sám hối nên sau khi thoát kiếp chó, bả sắp được sanh vào cõi người vậy.

Cô Hai Kim Ðiệp trầm ngâm:

– Ðể tối nay con tụng kinh Ðịa Tạng và kinh cầu siêu cho bả…

 

Chương 8

 

 

 

 

Hôm trước, hai mẹ con bà Ðốc Thông qua Ðạo Thạnh viếng bà Hai Lầu, lúc đó am chưa hoàn tất nhưng công việc đã xong tới ba phần tư. Hôm nay, vừa nghe tin bà Ðốc Thông tới viếng, bà Hai Lầu đang quét dọn trung đường liền đi rửa mặt chải đầu, thay áo để tiếp khách.

Bà Ðốc Thông nét mặt hiền hậu, ăn mặc giản dị với quần cẩm tự đen, áo dài xuyến đen, đeo bông tai mù u nở và xâu chuỗi cẩm thạch cùng đôi neo quai chảo bằng vàng. Bà không tô son trét phần, không tỉa gọt chơn mày. Cô Hai Tố Trinh thì mặc áo dài nhiễu tím than, quần cẩm nhung đen, tai đeo bông tòn teng bằng vàng pha đồng, cườm tay đeo chiếc vòng chạm phụng giao đầu, cổ đeo kiềng trơn, ngón tay đeo cà rá cẩm thạch cắt hình hột dưa. Cô không dồi phấn thoa son mà vẫn trắng mịn như cánh sen phù cừ, má đỏ au au, môi mọng như trái nho chín. Nét mày cô cong và sắc như liềm trăng mỏng, răng cô trắng đều như hột bắp non. Chèn ơi, bà chưa thấy con nhà ai vóc vạc cao lớn mà mềm mại như vậy. Cô đẹp oai nghiêm và trang nhã. Tuy không mặn mòi duyên dáng như trưởng nữ của bà, không thanh tú và kiều mị như hai con cháu cưng của bà, nhưng nét cao sang thanh thoát của cô nổi bật lên.

Bà Ðốc học Thông chắp tay cung kính:

– Thưa chị Hai, bấy lâu em nghe biết có chị về đây trụ trì nhưng bởi mắc công chuyện lu bu chưa tới viếng am cúng dường được. Nay gặp lúc rảnh rang, mẹ con em qua đây trước là lạy Phật sau là viếng am.

Bà Hai Lầu niềm nở:

– Ðược bà Ðốc học tới viếng là điều hân hạnh cho tui lắm. Mời bà lên trung đường lạy Phật, sau đó dùng cơm chay với chị em tui cho vui.

Rồi bà day qua cô Hai Ngọc Dung:

– Con phụ thím Chín lo trà nước và dọn cơm chay cho bà Ðốc học dùng, đánh dấu buổi sơ kiến nầy.

Rồi bà kêu cậu Ba Ngọc Toản, cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga:

– Ba đứa bây dắt cháu gái đây thăm thú đó đây. Nhớ hái khế bẻ đào cho cháu ăn.

Bà Ðốc Thông sau khi lạy Phật, cúng dường xong, ngồi uống trà đàm đạo với am chủ. Hôm nay bà Ba Các đi bán dừa khô và bầu bí ngoài chợ Trung Lương tới trưa mới về. Cô Hai Ngọc Dung lần đầu tiên diện kiến cô Hai Tố Trinh, phải thầm khen phong thái tươi tỉnh và trang nhã của cô nữ sinh nầy. Còn hai cô Ngọc tuy đã thấy cô Hai Tố Trinh vài lần trong sân trường nhưng chưa giáp mặt nhau bao giờ. Riêng cậu Ba Ngọc Toản vừa thấy cô Hai Tố Trinh đã lên tiếng:

– Tui định qua xóm Tre thăm cô, nhưng tìm hoài chẳng có cớ nào chánh đáng, kiếm hoài không ra dịp nào thuận tiện nên đành nằm nhà học bài chờ khoa thi.

Cô Hai Tố Trinh e lệ:

– Em cũng có ý ngóng… anh qua chơi.

Cô út Ngọc Nga đặt dóc:

– Anh Ba em qua bên chị ăn giỗ có một lần mà ảnh nhắc… xóm Tre cả một tháng ròng, nay vẫn còn nhắc.

Cậu Ba khỏ nhẹ lên đầu cô gái ranh mãnh, bảo:

– Em tinh nghịch vừa vừa chớ! Vô nhà lấy cái sào lồng tre để anh hái khế hái đào đãi khách.

Cô Tư Ngọc Nhan cầm tay cô Hai Tố Trinh:

– Ðã biết nhà tụi em, chị hãy qua đây chơi thường nghe chị.

Cô Hai Tố Trinh miệng thì trả lời cô Tư nhưng mắt lại ngó qua cậu Ba:

– Nhà tui thường có tiệc tùng nên tui vẫn có dịp tới lò bún bác Hai Dần mua bún, bánh hỏi, bánh nghệ. Khi nào đi mua mấy thứ đó, tui sẽ ghé đây thăm chị Hai cùng Nhan và Nga.

Cậu Ba Ngọc Toản có vẻ xúc động, hồi hộp lắm.

Khi chiếc rổ chất đầy nào điều son, khế ngọt, phù quân, ổi ruột tím thì cô Hai Ngọc Dung từ trong bước ra, bảo:

– Mấy em mời cô Hai vô nhà kẻo nắng. Chị đã làm nước giải khát rồi.

Trên bàn là bốn ly cối đựng lười ươi và hột é pha đường phèn ướp những phiến nước đá lụn vụn. Cô Hai Tố Trinh yêu cầu cô Hai Ngọc Dung:

– Xin chị gọi em bằng Tố Trinh, đừng gọi em bằng cô Hai nghe xa lạ quá.

Cô út Ngọc Nga lanh chanh:

– Từ đây về sau, chị mà qua đây chơi thường thì anh Ba em sẽ hái bòng thơm trái ngọt cho chị thưởng thức, chị Hai em sẽ làm bánh thiệt ngon để đãi chị, còn chị Tư em và em sẽ tiết lộ cho chị nghe nhiều chuyện ngộ lắm, ly kỳ tuyệt diệu tuyệt vời.

Vừa nói cô vừa liếc mắt qua anh mình rồi cười hăng hắc. Nhờ cô Hai Ngọc Dung khéo léo gợi chuyện, thêm hai cô Ngọc nhí nhảnh vui tươi, cô Hai Tố Trinh cảm thấy vui lây cái không khí thân mật trẻ trung chung quanh bàn nước.

Mâm cơm chay vĩ vèo dọn lên. Bà Hai Lầu cho phép các con, cháu ngồi ăn chung. Bà Ðốc Thông nhận xét thấy đây là một gia đình đấm ấm, hạnh phúc.

Vừa lúc đó bà Hương bộ Khâm cùng cậu Ba Hưởng tới. Bà Hai Lầu sốt sắng mời mẹ con bà cùng dùng cơm, nhưng bà Hương bộ cười:

– Tụi tui mới ăn cơm xong. Hôm nay tui vừa làm xong ít bánh tét nước tro đem qua cúng dường. Sau nữa là mời chị Hai, cô Ba nó (chỉ bà Ba Các) cùng các cháu chiều mai qua nhà tui ăn giỗ tía tui. Vì nhà neo người nên tui không dám mời đông ngoài gia đình anh Hai Dần, bên nhà bà Giáo Toàn và chị cũng như cháu đây.

Bà Ba Các giới thiệu hai bà với nhau. Bà Hương bộ Khâm mở lời:

– Tưởng ai xa lạ chớ bà Ðốc đây trước kia ở Vòng Lớn chắc có biết ông Hương sư Lẫm. Úng là cậu ruột tui đó.

Bà Ðốc học Thông cười:

– Ông Hương sư Lẫm là chồng cô Sáu em, em kêu ổng bằng dượng Sáu. Vậy chị em mình là chỗ suôi gia qua người trong họ rồi. Bữa nào rảnh, mời chị qua Xóm Tre viếng nhà vợ chồng em cho biết. Giờ đây, đôi đàng cùng viếng am thì là kẻ đồng tâm đồng đạo với nhau rồi vậy.

Lời mềm mỏng bãi buôi của bà Ðốc Thông làm ai nấy đều cảm tình chan chứa.

Cơm nước xong, bà Hai Lầu bảo bà Hương bộ Khâm và em dâu:

– Tui phải về chánh điện có chút công chuyện. Chị Hương bộ và thím thay mặt tui hầu chuyện bà Ðốc và cầm bà với cháu Tố Trinh ở lại chơi, đợi trời mát hẵng về.

Cô Hai Ngọc Dung cười:

– Thưa bác Ðốc học, con quyết cầm bác và em Tố Trinh ở lại ăn chuối chưng bột bán nước dừa do con làm.

Bà Ðốc cười vui vẻ:

– Cháu yên lòng, bác sẽ ở lại thưởng thức tài nữ công gia chánh của cháu. Chỉ mới ăn bữa cơm chay mà bác đã rõ tài khéo của cháu rồi.

Bà Ba Các ân cần:

– Mời chị Ðốc nghỉ trưa. Lát nữa có chị Hai Dần, bà Giáo Toàn tới chơi nữa đó.

Cô Tư Ngọc Nhan trải chiếu bông lên bộ ván cẩm lai rồi bày gối ống thêu cườm, mời các bà nghỉ ngơi.

Cô Hai Ngọc Dung bảo em:

– Thằng Ba ra ngã ba Trung Lương mua cho chị góc tư cây nước đá, chặt cục bỏ vô bình thủy đem về đây. Con Tư, con út hái mấy giây sương sâm vò lấy nước để chỉ làm món sương sâm nước đá uống cho mát.

Lát sau, chừng giập bã trầu thì hai mẹ con bà Giáo Toàn và mẹ con bà Hai Dần tới. Hôm nay cậu Ba Kim Lân, cậu Tư Kim Luông hiệp sức với cậu Ba Ngọc Toản làm công quả bằng cách phát cỏ ở vạt đất sau am để sau đó các anh Ba Lung, Ba Hưởng cùng trai trẻ trong xóm dựng hàng rào quanh khuôn viên am. Theo sự phác họa của Xã Huề thì hàng rào có hai lớp, lớp trong bằng cây xương rồng và cây độc trụ, lớp ngoài bọc bằng tre gai.

Các cậu trai vừa phát cỏ vừa hát bài Thủ bình bán rồi đổi qua bài Frère Jacques lời Việt:

Nằm mơ thấy thần

Nằm mơ thấy thần

Thần tiên hát

Quần tiên hát

Tiên dắt ta đi chơi rừng

Tiên với ta ca vang lừng

Ðinh đình đông! Ðinh đình đông!

Cô Hai Tố Trinh, cô Tư Ngọc Nhan và cô út Ngọc Nga cùng vỗ tay, cười phơi phới. Riêng cô Hai Ngọc Dung thì mời thầy giáo Hớn ngồi ở chiếc bàn dưới hàng ba đẫm bóng mát cây mít nghệ. Cô cười bảo thầy:

– Hồi mới học lớp ba, em thích bài nầy lắm. Giờ ngoảnh lại em đã 24 tuổi, sắp đi tới mức chót của chặng đường thanh xuân.

Thầy Hớn tình tứ:

– Anh cũng 26 tuổi rồi. Cưới được em, anh thấy mình vẫn còn ít nhất 74 mùa xuân nữa.

Cô cười cảm động nhưng không thấy rung động. Cô chỉ cảm động vì thầy giáo yêu cô và chờ đợi cô đã hai năm rồi.

Chừng một giờ sau, cỏ đã phát xong, nằm ngổn ngang phơi mình dưới nắng. Cả bọn đợi ráo mồ hôi rồi đi tắm trước khi ngồi vào bàn dùng chuối chưng và sương sâm ướp nước đá.

Cô út Ngọc Nga đề nghị:

– Anh Ba, bấy lâu nay anh cứ đờn lẳng tẳng hoài. Sẵn hôm nay có anh Giáo và chị Tố Trinh, anh lấy cây đờn kìm ra khảy vài bản cho vui đi anh.

Cậu Ba Ngọc Toản cười:

– Bậy nà! Anh đờn mà có ra trò gì đâu!

Bỗng ở phía toán người đang làm hàng rào, có tiếng Ba Hưởng hát bội:      Thưa, lòng kính thành bái tạ cao tăng

Dặm diệu viễn trong chừng làng hạnh

Cô Hai Tố Trinh bỗng biến sắc, còn cậu Ba Ngọc Toản như chìm đắm giữa cơn mê. Cô Hai áp tay lên ngực, mặt trắng bệch bạc. Cô nhìn cậu Ba:

– Anh Bôn! Ðây là hai câu trong vở Kim Thạch kỳ duyên, lớp chàng Kim Ngọc bái biệt ông huề thượng. Anh thường hát lớp đó cho em nghe hoài, anh nhớ hôn?

Cậu Ba Ngọc Toản mắt lộn thinh, nói như trong cơn mê sảng:

– Em Tố! Ðó là hai câu nói lối để vô Nam Ai. Hồi đó tụi mình rất thích vở tuồng nầy, cứ lén sư phụ là ông Nhiêu Ðỗ Ðăng Khoa hát từng hồi từng lớp của tuồng luôn.

Rồi cậu hát Nam Ai:

Diệu viễn trong chừng làng hạnh

Cúi đầu từ đài kính cửa không

Khuôn linh đã đúc anh hùng

 Dẫu ra gan chuột, cánh trùng quản bao!

Cô Hai Tố Trinh cảm xúc quá, lao đao muốn xỉu, vịn vai cậu Ba Ngọc Toản, nước mắt tuôn như mưa. Cậu choàng tay qua vai cô vừa nghẹn ngào vừa nói:

– Giữa vũ trụ mang mang, càn khôn mờ mịt, anh đâu ngờ gặp được em ở kiếp nầy, trên cuộc đất nầy. Giờ đây ký ức thuở tiền kiếp của anh đã phục hồi gần trọn vẹn. Em có được như anh chăng? Nếu có, em hãy hát thêm hai câu chót của bài Nam Ai thử coi.

Cô Hai Tố Trinh lau nước mắt:

– Em nhớ kiếp trước khá rõ. Nè, anh hãy nghe đây:

Cha mẹ ôi,

Ngùi ngùi chín chữ cù lao

Công ơn cha mẹ trời cao đất dày.

Mọi người như bị điểm huyệt, lặng nhìn đôi tình nhơn tái sanh tương hội sau khi trải qua hai kiếp. Bà Hai Lầu chắp tay niệm Phật, bảo bà Ðốc học Thông:

– Vậy là chàng Bôn nàng Tố đã trọn lời nguyền. Chẳng hay bà Ðốc nghĩ sao?

Bà Ðốc học Thông cũng chắp tay niệm Phật, bảo:

– Cả dòng họ em luôn tin bà Tố sẽ trở lại cuộc đất nầy để kết duyên với hậu thân ông Bôn, nhưng em không ngờ bả lại thác sanh làm con gái của em.

Cô Hai Tố Trinh bảo mẹ:

– Má ơi, kiếp nào mình tính theo kiếp nấy. Giờ đây con là con gái của ba má thì má nghĩ tới chuyện cách thế làm chi! Duy có điều đáng kể là Trời Phật quỉ thần đã chứng nhậm lời cầu xin của tụi con để tụi con được trọn lời nguyện ước kiếp xưa.

Sau khi mọi người về hết, cậu Ba Ngọc Toản thưa với bà Hai Lầu và bà Ðốc học Thông:

– Thưa hai má, để chứng tỏ con và em Tố Trinh không dối gian, tụi con xin chỉ những món mà hai đứa đã chôn giấu hồi kiếp trước.

Số là sau khi ông Nhiêu Ðỗ Ðăng Khoa tạ thế, vì ông không có con cháu nên con đứng ra chôn cất ông trong cuộc đất nhà ông bên xóm Tre. Con ở luôn tại nhà thầy cư tang quải hiếu trọn ba năm. Lúc đó cô Ðặng Thị Tố, tiền thân của em Tố Trinh đây, vâng lịnh cha mẹ, thường đem gạo thóc, thực phẩm tới châu cấp cho con vì lúc đó cả hai đã đính hôn. Con có ngỏ ý với cổ là sẽ theo nhóm nghĩa quân của ngài Trương Công Ðịnh trong Ðám Lá Tối Trời ở Gò Công. Cổ khuyên con làm giấy tờ để đất lại cho cổ, rồi tom góp các món cổ ngoạn và gia bảo của thầy Nhiêu Khoa bỏ vô lu bầu đậy nắp trét vôi trộn đường hũ và nhựa cây ô dước, đợi nửa đêm đem chôn ở cuối vườn đặng sau nầy khi thành hôn sẽ đào lên chưng bày trong nhà. Dè đâu vận nước đảo điên, cuộc khởi nghĩa thất bại, con bị bắt rồi cắn lưỡi tự vận. Cô Ðặng Thị Tố cũng tuẫn tiết theo con. Trong mười năm đầu, vong linh cô Tố hiện về báo mộng cho người cháu là ông Ðặng Văn Bình lúc đó đang định cư ở Ðạo Thạnh, thiên cư về xóm Tre, cất nhà trên mảnh đất cũ của ông Nhiêu Khoa thì mới mong lập nghiệp lâu dài. Ông Bình nghe lời dọn về. Khi cất nhà xong, ông đào giếng thì gặp một hũ vàng nén, ông bán vàng mua thêm hai chục mẫu ruộng vừa trũng vừa gò sống đời sung túc. Nhưng cái lu đựng đồ quí giá thì vẫn còn chôn chỗ cũ, dưới ba thước đất. Nơi đó để làm dấu, con có trồng một khóm bản hạ. Bông bản hạ tuy đẹp, màu nhung đỏ thẫm nhưng hôi hám lắm. Dù vậy loại nầy không dễ gì bứng hết. Hễ còn sót một mảnh củ nhỏ là chồi cây lại mọc lên. Các bậc trưởng thượng ở đây ai cũng biết cụ Bình là thân sinh bác Ðốc học Thông và là ông nội của em Tố Trinh vậy.

Bà Ba Các kinh ngạc:

– Như vậy thì cô ruột đầu thai làm cháu nội của thằng cháu mình!

– Thì có gì đâu lạ! Chuyện xưa cũng có xảy ra rồi. Trong truyện Chung Vô Diệm có sự tích về ông Tôn Võ Tử viết cuốn Tôn Ngô Binh Pháp, nhưng khi phò vua giúp nước ổng sát hại địch quân quá nhiều; cho nên ổng trở lại đầu thai làm con trai út của con trai mình là phò mã Tôn Tháo. Hậu thân của ổng là Tôn Tẫn đó.

*

*  *

Thứ bảy tuần sau đó, bà Hai Lầu, bà Ba Các cùng cậu Ba Ngọc Toản mang cây nguyệt cầm qua xóm Tre thăm ông bà Ðốc học Thông. Tại đây, ông bà Ðốc học đã hội họp thân tộc để chứng kiến chuyện cô Ðặng Thị Tố Trinh và cậu Ba Ngọc Toản nhớ lại tiền kiếp.

Vốn biết cô Hai Kim Chung rành rọt các đồ cổ ngoạn và châu ngọc nên bà Hai Lầu nhờ hai cậu Kim ra chợ Mỹ rước cô cùng qua xóm Tre. Bà Ðốc học Thông thì nhắn cô Hai Kim Ðiệp qua phụ bà nấu các món mặn, món chay đãi khách.

Mở đầu là màn trà nước. Thấy mọi người có mặt đông đủ, ông Ðốc học Thông đứng lên tỏ bày tự sự. Trừ bà Hai Lầu, các bà khác đều tuôn giọt vắn giọt dài.

Cậu Ba Ngọc Toản thưa:

– Thưa các bậc trưởng thượng, xin quí vị hãy cùng cháu ra cuối góc vườn đào chiếc lu lên để coi lời cháu thành thật hay dối gian.

Cậu đặt cây đờn kìm trên bàn rồi quay qua bảo cô Hai Tố Trinh lúc đó đang hầu trà nước cho khách:

– Em đem cây quạt bướm ra đây cho anh.

Khi hai món kỷ vật sắp kề bên nhau, cô chắp tay thưa:

– Thưa các bực trưởng thượng, các món nầy tuy đã trải qua gần thế kỷ rồi mà như còn mới là bởi hồi xưa anh Bôn dùng bùa Lỗ Ban bảo tồn chúng.

Cậu Ba Ngọc Toản:

– Cháu cũng dùng bùa Lỗ Ban vẽ trên nắp lu để các bảo vật chứa trong lu không bị hư hao. Ðêm qua cháu đã nhớ lại mọi phép vẽ bùa, có thể lấy lu lên mà không sợ lưỡi cuốc lưỡi xuổng phạm tới.

Thế là mọi người theo cậu ra vườn sau. Qua mấy líp chuối, mãng cầu um tùm bóng mát, họ đến một bãi đất mọc chen chúc cỏ mực, cây ké, cây muối. Cậu Ba Ngọc Toản bươi cỏ dại, gặp khóm bản hạ, lá tươi hơn hớn, hoa hình loa kèn đỏ sậm phớt lớp tuyết nhung óng mịn.

– Ðây rồi! Ðể cháu đào lu lên.

Cô Hai Tố Trinh dặn dò:

– Anh đào cẩn thận kẻo chết khóm bản hạ.

Cậu Ba cười:

– Em chớ lo, anh có cách.

Hoa bản hạ có mùi phân người làm nhiều bà bịt mũi, xức dầu cù là trên chót mũi. Cậu Ba Ngọc Toản dùng cuốc từ khóm bản hạ làm giao điểm để vạch chữ thập dài cỡ nửa sải tay, đào sâu cỡ bốn phân. Cậu dùng xẻng vét đất cho chữ thập rõ nét. Xong, cậu vẽ bùa lên mặt đất rồi vỗ mạnh lên mặt bùa, hét “hô biến”. Khóm bản hạ bật tung lên, củ lớn cỡ cái nồi đồng, còn y nguyên chùm rễ. Cậu nhặt khóm bản hạ để qua một bên, vét lỗ hổng theo hình lòng chảo, vẽ đạo bùa thứ hai. Một cơn trốt từ đâu kéo tới xoáy vào lỗ hổng vù vù, cuốn theo đất nện. Mọi người phải giạt ra xa. Cơn trốt tiếp tục xoáy, đất văng tứ tung. Ðâu chừng giập bã trầu, cơn trốt ngưng, lỗ hổng thêm sâu thêm rộng, bày rõ chiếc lu bầu. Thấy nắp lu trét vô trộn đường hũ cứng như đá, ông Hương cả Nhiều hỏi:

– Làm sao khượi nắp lu để lấy bửu vật ra?

Cậu Ba cười:

– Dạ thưa ông, cháu có cách.

Cậu vẽ thêm một đạo bùa trên nắp lu rồi vỗ bảy cái. Lớp vôi trét tan rã thành bụi cám. Thế là cậu từ từ lôi chén dĩa, độc bình, choé da rạn, nhạo rượu, yên tỉ hồ (hộp đựng thuốc lá bằng sành). Lẫn trong đám cổ ngoạn là chiếc hộp đồi mồi đựng một mớ nữ trang. Cô Hai Kim Chung lăng líu:

– Mèn ơi, đây là giây chuyền nách, đây là giây chuyền vốc, đây là neo quai chảo quấn từ cườm tay tới cùi chỏ. Còn nữa, đôi vòng chạm bát bửu, cặp cà rá cửu khúc liên hườn… rồi chuỗi hổ phách hột dài, đôi bông tai nhận ngọc toản đỏ thắm, đôi vòng cẩm thạch xanh lặt lìa, sợi dây chuyền với miếng mề đay tạc hình Phật Bà Quan ẽm nữa nè!

Cậu Ba mò mẫm tận đáy lu, lôi ra thêm hai cái nén bằng thạch tinh. Xong cậu mời mọi người về nhà ngơi nghỉ trước khi dự tiệc, còn cậu lo đào đất trồng khóm bản hạ ở vạt đất khác.

Giữa bữa tiệc, ông Ðốc học Thông rót rượu cho mọi người rồi thưa:

– Kính thưa quý cô bác, kính thưa chị Hai và chị Ba bên xóm Ðạo Thạnh, chuyện tái sanh tương hội xảy ra trong dòng họ chúng ta đã làm cho vợ chồng tui cảm xúc lắm. Nếu chị Hai, chị Ba không chê con gái tui thô lậu thì nên cho cháu Ba Ngọc Toản đính ước cùng nó để cô cậu được vẹn lời nguyền thề từ thuở tiền kiếp.

Bà Hai Lầu cũng đứng dậy:

– Tui sẽ coi ngày để định lễ hỏi, lễ cưới. Cặp trai trung liệt gái tiết trinh kia phải được vẹn lời nguyện thề kiếp trước và bổn phận hai gia đình chúng ta phải giúp họ toại ước mới là thuận lẽ trời vậy.

Ông Bang biện Vĩnh bảo ông Ðốc học Thông:

– Cháu nên gộp các bửu vật vừa moi trong lu để làm của hồi môn cho cháu Tố Trinh.

Ông Ðốc cười:

– Cháu cũng tính vậy. Nhưng xét cho cùng, tất cả đồ quí kia là của ông Bôn, cháu phải trả lại cho hậu thân của ổng là cháu Ba Ngọc Toản mới là phải.

Bà Hương cả Nhiều vui vẻ:

– Cháu dùng làm hồi môn cho con Tố Trinh tức là trả cho ông Bôn rồi vậy.

Trong bữa tiệc, bà Hai Lầu được mọi người kính mến đặc biệt, tuy nhiên chuyện tái sinh tương hội vẫn thu hút mọi người hơn.

Khách khứa ra về hết trừ cậu Ba Ngọc Toản ở lại đêm đó. Mọi người tắm rửa thoải mái rồi tụ lại ở trung đường để dùng trà bánh. Trước mặt ông bà Ðốc học, cậu Toản và cô Trinh nhắc nhở đủ mọi chuyện hồi tiền kiếp, đọc lại những bài thơ cảm tác của ông Nhiêu Khoa và của chủ tướng Trương Công Ðịnh, lòng tràn ngập cảm khái.

Bỗng cô Hai bảo mẹ:

– Thưa ba má, hồi xưa anh Bôn làm thơ đề lên quạt thì con cũng có họa một bài nguyên vận rồi đem thêu trên vuông khăn gấm hồng điều, chẳng biết bây giờ khăn về tay ai?

Ông Ðốc chợt nhớ:

– Có phải chiếc khăn thêu bằng chỉ huỳnh cúc hay không?

Cô Hai gật đầu:

– Dạ đúng vậy, nhưng tên Ðặng thị Tố thì thêu bằng chỉ màu xanh da trời.

– Khăn đó thím Hương chủ Phích giữ. Bả mướn thợ lồng kiếng treo trong nhà. Bộ con muốn đòi lại hay sao?

Cô lắc đầu:

– Thưa ba, con đâu có ý đó. Chuyện cách thế là để đôi lứa tìm nhau, còn mọi việc phụ thì cứ để nguyên như vậy cho khỏi xáo trộn những người dính dáng tới đôi lứa ấy.

Cậu Ba Ngọc Toản gật đầu đồng ý:

– Em nói rất hiệp ý anh. Mình nên quên kẻ oán người thân hồi kiếp trước, đừng nhắc nhở vận sự thuở đó làm chi. Có vậy đôi ta mới có thời gian làm lại cuộc đời.

Cậu Bảy Trinh Tường bảo cô Hai Tố Trinh:

– Phải đó cháu. Nhưng tiện đây, cháu đọc lại bài thơ thuở trước cho cả nhà nghe chơi.

Cô Hai Tố Trinh cất giọng êm:

Kiếp trước, kiếp nầy, kiếp tái sanh

Mong sao như bóng quyện theo hình

Lá hoa hận bão xưa lìa cuống

Búp nụ hờn dông lảy khỏi nhành

Ngày muộn ngồi nhìn đò bỏ bến

Ðêm vơi nằm lắng trống sang canh

Ðờn tình nếu phím tơ rời rã

Vẫn vọng hồn em một tiếng thanh.

 

Chiều hôm đó, bà Ðốc học làm món cháo cá giò heo đãi chàng rể tương lai. Khi bữa ăn tối chấm dứt thì trăng mười bốn tròn vành vạnh treo nguy nga trên nền trời xanh nước biển. Gió từ đồng trống thổi về lào xào trên các ngọn tre. Cậu Bảy rủ mấy người trẻ cùng đi chơi trăng trong vườn. Cả bọn len lỏi trong cảnh ánh trăng chen bóng cây và bóng lá, chập chờn bóng đậm lồng bóng nhạt. Cô Hai Tố Trinh chỉ cho chú mình xem vạt đất chằng chịt dây choại và dây cóc keng kia thuở trước là sân luyện võ của ông Nhiêu Khoa. Khoảnh đất um tùm cỏ đuôi chồn trước kia là vuông sân bày mấy chậu lan đất và hòn non bộ. Chỗ gốc cây gòn kia từng là gốc tùng la hán…

Cậu Ba Ngọc Toản say sưa nhìn người yêu, nhớ lại những buổi hẹn hò tiền kiếp với cô Tố bên chiếc giếng khơi cạnh gốc tùng vào những đêm sóc, đêm hối tối thui. Cả hai nhìn bóng sao hiện trong đáy nước, tưởng chừng sao từ đáy giếng hiện lên…

Ðêm đó cô Hai Tố Trinh về buồng riêng trằn trọc cho tới cuối canh ba mới ngủ được. Cô chợt thấy cửa buồng mình vụt mở. Một cô gái mặc áo dài nhung đỏ sậm, nhan sắc tuyệt trần, mùi hoa hường sực nức. Cô gái cúi đầu chào, giọng trong trẻo và sang sảng:

– Thưa cô, tui là thần hoa bản hạ đây. Bởi kiếp trước tui là một cô gái có dung nghi chói chang lộng lẫy nhưng hạnh kiểm xấu xa cho nên theo nghiệp lực tui bị đầu thai thành cây bản hạ, sắc tuy xinh mà mùi hôi thúi. Ông Trần Văn Bôn trồng tui lên kho tàng của ổng, tui giốc lòng gìn giữ của cải cho ổng tới ngày nay. Giờ đây người gặp của, của hườn tay người đánh dấu mối duyên giai ngẫu nên sứ mạng của tui chấm dứt. Ðức Quán Thế ẽm thương tình cho tui đầu thai làm cây bông hường trăm năm mới trổ bông một lần trong huê viên đức Mộc Thần Ðông Hoa Ðế Quân, nay tui đến báo mộng từ giã cô. Còn cái củ của tui xin cô đem bán cho ông Bang Lầm Tài Xạch ngoài chợ Cũ để ổng bào chế thuốc cứu bá tánh.

Cô Hai Tố Trinh choàng tỉnh dậy thì trời đã hừng sáng. Cô lật đật chỗi dậy rửa mặt súc miệng chải tóc rồi xuống bếp phụ mẹ và chị bếp coi dọn bữa điểm tâm. Thức ăn của bữa tiệc hôm trước còn dư khá bộn. Bà Ðốc học dọn bữa điểm tâm thiệt thịnh soạn. Ông Ðốc và cậu Bảy Trinh Tường cũng vừa dậy. Ông Ðốc đốt rề-sô pha trà, cậu Bảy thì tìm ba cái lọc nhôm cùng thố đường, ly tách để pha cà phê.

Vừa khi nước sôi kêu lảnh lót trong ấm thì cậu Ba Ngọc Toản từ ngoài sân bước vào. Ông Ðốc học Thông hỏi:

– Cháu dậy hồi nào?

– Thưa bác, cháu quen thức từ 6 giờ sáng, đi dạo một lúc ngoài trời cho tâm trí sảng khoái.

Bỗng ngoài cổng có tiếng gọi cửa. Thì ra thím Chín Hiệp đưa hai cô Ngọc qua chơi, luôn tiện mang theo quà biếu của bà Ba Các như xoài cát, mận hồng đào, ổi ruột tím…

Cô Tư Ngọc Nhan thưa với ông bà Ðốc học:

– Thưa hai bác, hai má cháu xin bác cho phép chị Hai và hai em Thanh Tòng, Thanh Trúc cùng chú Bảy qua bên cháu chơi một buổi.

Ông Ðốc cười vui vẻ:

– Tốt lắm! Có vậy tình thân giữa hai nhà mới thêm khắng khít.

Mọi người cùng ngồi vào bàn ăn điểm tâm.

Thừa lúc vắng vẻ, cô Hai Tố Trinh kể với cậu Ba Ngọc Toản giấc chiêm bao đêm trước. Cậu Ba cười điềm đạm:

– Em quên thuật cho anh nghe thần hoa mặc áo nhung đỏ và toả mùi thơm bông hường.

Cô Hai ngạc nhiên:

– Sao anh biết?

Cậu Ba cười buồn:

– Ðêm qua thần hoa cũng có tới từ giã anh, chỉ tiếc rằng chúng ta không gặp thần hoa trong cùng một giấc chiêm bao đó thôi.

Cả hai cùng ra vạt đất mà hôm trước cậu Ba đã trồng lại gốc bản hạ. Lá và hoa đã héo rũ, nằm rạp trên mặt đất. Cô Hai Tố Trinh ngậm ngùi:

– Tội nghiệp quá! Trải qua hơn nửa thế kỷ phải làm một thứ hoa tuy có sắc mà mùi thúi tha làm ai ai cũng xa lánh. Nay thì đương sự mới được thác sanh làm loại hoa toàn vẹn sắc hương!

Cậu Ba cười:

– Từ bao năm qua, nhờ khóm bản hạ hôi thúi, không ai thèm lai vãng tới để đào xới trồng trọt nên chiếc lu bầu mới không bị phát giác đó!

Chương 9

 

 

Tối hôm đó, cô út Thiên Kim cứ trằn trọc hoài. Số là cách đây hai tuần, nhơn dịp đi chợ Mỹ Tho, cô gặp cậu Bảy Trinh Tường cùng cô Hai Kim Ðiệp, cô Hai Kim Chung từ tiệm nem nướng ở xéo xéo rạp hát Thầy Năm Tú bước ra. Cô Hai Kim Chung lúc nào mà chẳng son tô phấn giồi, vàng đeo ngọc khảm! Cậu Bảy Trinh Tường lúc nào mà chẳng ăn mặc bảnh bao, quần ga-bạc-đin, áo bành-tô bằng vải xi-mi-li trắng, nút đồng sáng rực! Ðiều mà cô út đau thấu tâm can là sự lột xác của cô Hai Kim Ðiệp trong cách phục sức, trang điểm. Hôm đó cô Ðiệp mặc chiếc áo the bông nhung ép màu hường tươi như màu bông móng tay, tóc cuốn tay rế giắt lược đồi mồi như tóc mấy bà đầm, tay xách dù ren, tay ôm bóp đầm da láng, chơn đi giày cao gót quai nhung. Chèn ơi, cô ăn mặc như thế đó có kém gì gái Sài gòn, gái Cần Thơ đâu! Ðã vậy cô ta còn đeo bông hột xoàn kết trên hình con chim phụng, hột tuy nhỏ nhưng hình chạm khéo, cổ đeo ba vòng hột trai, cườm tay mặt đeo chiếc kim xuyến, cườm tay trái đeo chiếc cẩm thạch huyết giồi mặt bóng lộn. Hôm đụng mặt nhau, cậu Bảy Trinh Tường tươi cười chào hỏi cô út Thiên Kim, làm như giữa hai bên không có chuyện gì xảy ra. Cậu còn bảo cô út:

– Gần Tết, anh chị tui ở Xóm Tre sẽ cử hành hôn lễ cho cô Hai Kim Ðiệp và tui.

Cô Hai Kim Chung cười:

– Thế nào dì dượng tui cũng mời ông bà Quản hạt và cô út. Bề nào bà Quản cũng là cô của con em bạn dì tui.

Chỉ nhìn nét mặt rạng rỡ của cậu Bảy và vẻ đắc chí của cô Hai Kim Ðiệp mà cô út lộn gan lộn tiết. Ðã vậy, lời nói xóc hông của cô me Tây Hai Kim Chung càng làm ruột non ruột già cô quặn thắt.

Sáng hôm nọ, con Thiệp đưa cho cô một mớ tóc vụn, nói:

– Anh Năm Lời, thợ hớt tóc ngoài chợ Trung Lương, đưa cho tui mớ tóc nầy. énh cam đoan với tui là tóc của cậu Bảy Trinh Tường đó.

Cô chộp lấy mớ tóc đã được gói trong giấy dầu, cất dưới đáy rương. Cô không thể hại cậu Bảy Trinh Tường được, bởi vì lửa tình đang nung nấu trái tim cô. Cô cũng không muốn thấy cậu lọt vào tay bất cứ cô gái nào, huống chi là vào tay cô Hai Kim Ðiệp, kẻ mà cô coi thường.

Tà Noọt đã đến nhà ông bà Quản hạt Thất. Cũng như Tà Nặc, ông có một căn buồng riêng và tôi tớ phục dịch riêng. Cô út Thiên Kim sau khi trao cho ông một trăm đồng, nhận được cái hình nhơn bằng sáp có dán bùa và đựng tóc của cậu Bảy Tring Tường. Tà Noọt dặn:

– Cô chỉ cần cắm dao con chó vô ngực hình nhơn này thì cái người cô muốn hại sẽ bị thư tóc trong phổi.

Suy nghĩ kỹ, cô út Thiên Kim viết thơ xin hẹn cậu Bảy Trinh Tường tại tiệm nước ở Bến Tranh, gần bến đò. Cô vừa khóc vừa thú nhận rằng mình hãy còn yêu cậu. Và cô đổ thừa tại tía má cô rúng ép cô từ hôn cậu để đính hôn với kỹ sư Oánh. Sau cùng cô đề nghị:

– Nếu anh thiệt bụng thương em thì để em thu xếp cuộc dan díu của đôi ta. Em không muốn anh cưới con quạ xóm ống Cống. Gia đình nó thuộc phồn hạ lưu. Ðể em làm mai anh một cô gái giàu sụ ở Bến Tranh. Ðó là cô Hai Võ Ngọc Diễm, con thầy Bang Biện Võ Thới Hên. Cổ là con một. Anh mà cưới cổ thì khác nào chuột sa hũ nếp. Cô ta lại thiệt thà, chừng đó anh mặc sức đi ngang về tắt với em. Còn thằng chồng tương lai của em dẫu có thông minh lanh lợi, nhưng em có đủ bí thuật để nịch ái nó, làm cho nó phải vừa mê vừa sợ em, ngoan ngoãn tuân phục em. Có vậy cuộc dan díu giữa hai ta mới lâu dài và không sợ kỳ đà cản mũi.

Cậu Bảy Trinh Tường ngồi im nghe cô út bày vẽ điều hơn lẽ thiệt theo quan niệm của cô. Mặt cậu đỏ rần, mắt cậu loé sao. Cậu cười gằn:

– Qua tưởng em nếu thiệt bụng thương qua thì rủ qua cùng nhau bỏ trốn xứ nầy để đi xây tổ uyên ương nơi xứ khác. Ai dè em vẫn còn bám cái chức bà kỹ sư, rồi xúi qua cưới một cô gái tuy giàu mà khờ khạo. Em muốn bắt cá hai tay, vừa quơ được một ông chồng có địa vị, vừa giữ được một người tình hạp nhãn đẹp bụng em. Em sợ qua cưới cô Hai Kim Ðiệp vốn có nhan sắc trội hơn em, qua sẽ nịch ái cổ rồi lơ là em. Em giống má của em ở chỗ tính đâu ra đó, tính cách nào cũng lợi cho em hết cả, ai đó chịu thiệt thòi thì mặc kệ họ. Qua có lời khen bộ óc thông minh quyền biến của em đó. Nhưng em lầm! Hiện giờ qua yêu thương cô Hai Kim Ðiệp thiệt tình. Lại nữa, gia đình qua là gia đình đạo đức, đâu thể vì em mà qua làm những chuyện vô liêm sỉ được. Hồi hôn cô Hai Kim Ðiệp là bất nghĩa. Cắm sừng lên đầu kỹ sư Oánh là bất lương. Cưới một cô gái hiền lành để đoạt của rồi phản bội là bất nhơn. Ai kia có thể làm những chuyện tội lỗi đó, chớ qua thì vốn khờ khạo vụng về, qua làm không nổi đâu!

Mỗi lời nói của Bảy Trinh Tường là một gáo nước lạnh dội tắt lòng hăm hở của cô út Thiên Kim. Mắt cô đổ hào quang. Tim cô nhảy ạch đụi trong lồng ngực. Cô cười gằn:

– Với anh, em không còn giữ chút tự ái, liêm sỉ mà cốt để giữ hạnh phúc cho đôi ta. Anh vốn có tánh cao thượng rẻ tiền, chẳng những không hiểu thấu lòng em mà còn nhiếc mắng em nữa. Ðược rồi, anh cứ cưới con Hai Kim Ðiệp đi, rồi anh có ăn đời ở kiếp với nó được hay không lại là chuyện… để em định đoạt. Em nói vắn tắt, anh hiểu sao đó thì tùy anh!

Cậu Bảy Trinh Tường nổi giận:

– Em hăm he qua đó chăng? Ai kia yếu bóng vía thì sợ má con em, chớ qua thì qua chẳng coi má con em ra chi hết! Hễ đức trọng thì quỷ thần kinh. Bao nhiêu bùa chú, ngải nghệ của bọn bàng môn tả đạo đó mà nhằm nhò chi với tiết tháo của qua!

Thế là cả hai giận dữ chia tay. Cô út Thiên Kim vừa về tới nhà, đổ hô mình bị cảm nắng, bỏ vào buồng nằm khóc rấm rứt, rồi bỏ bữa cơm chiều. Bà Quản Thất sai con Hiếu nấu cho cô soong cháo thịt rồi khuyên cô nên ăn cho mau lợi sức. Trọn đêm cô cứ thao thức, lòng sôi sùng sục tự ái. Nhưng cái tình chủng vẫn còn ăn sâu trong tâm khảm cô nên cô chưa thể cắm con dao vào ngực hình nhơn để trù ếm cậu Bảy liền được. Cô định bụng tìm cách chài bẫy cậu Bảy lần nữa, nếu quả thiệt cậu đã say mê cô Hai Kim Ðiệp thì cô sẽ trổ độc thủ, hại cậu vong mạng thì cô mới bằng bụng.

 

Trong lúc cô út Thiên Kim trằn trọc trong buồng riêng thì phía đông lang, bà Quản hạt Thất đang trò chuyện với Tà Noọt. Ðó là một người Miên tuổi lục tuần, da sậm, mày rậm, mặt tối, nhưng cặp mắt trắng xác. Ông ta mặc chiếc áo bà ba và chiếc quần dài bằng lãnh Tân Châu đen mướt như da con cá chạch, cá trê. Con Phước Vân ngồi hầu chuyện, nhưng khuôn mặt nó đỏ gay vì cơn sốt rét. Tà Noọt đưa cho bà một đạo bùa vẽ mặt hổ phù và một mũi tên đen bằng giấy bồi có dán đạo bùa hình giao long, dặn:

– Bà chỉ cần cho ai đó theo dõi mạch nào từ ngoài sông rạch đưa nước vào ao lý ngư, cắm mũi tên và cọc sắt có dán đạo bùa hổ phù nầy thì thần lý ngư nằm trong đất sẽ chết, thế đất bị phá hỏng. Còn thế đất Phụng Hoàng Chuyển Dực khó thể ếm, vậy thì mình ếm ngay hai ngôi mộ ông Bôn bà Tố. Hài cốt của họ dẫu sao vẫn thuộc về thể chất thuở tiền kiếp của cặp Ngọc Toản, Tố Trinh. Tui có cách dùng xương cốt tiền kiếp để ếm nhục thể nhục thân hiện kiếp của cặp nầy, song bất quá chỉ làm họ bịnh lặt vặt dây dưa chớ không thể hại mạng sống của họ được. Riêng gia đình ông Hương bộ Khâm, bà phải làm cách nào kiếm tóc, móng tay họ hay quần áo mà họ thường mặc. Có vậy tui mới làm hình nhơn bằng sáp đựng mấy thứ đó để ếm họ.

Ðang theo dõi câu chuyện của Tà Noọt, con Phước Vân bỗng cảm thấy đổ mồ hôi hột, tay chơn lạnh ngắt. Nó vội đứng dậy, thắp nhang trên bàn thơ Thiên Ma Ba Tuần rồi bảo bà Quản Thất:

– Ngồi lâu, con chóng mặt quá. Bà cho con về buồng ngơi nghỉ.

Bà Quản chắc lưỡi, than:

– Lại bịnh nữa rồi! Mầy cứ về phòng tịnh dưỡng đi. Chốc nữa con Hiếu sẽ bưng hiệp trà sâm cho mầy giải lao.

Bà đưa cho nó hũ cù là hiệu Ông Tiên và hộp kẹo ho. Phước Vân uể oải trở về buồng, khêu to ngọn đèn chong, lòng buồn rười rượi. Nó đã yêu cậu Ba Hưởng. Và chắc chắn nó không lầm, người thứ nam của ông bà Hương bộ Khâm cũng có cảm tình với nó nữa. Dạo nầy, mỗi chiều, Phước Vân ra bờ sông đường hoàng ngắm cảnh, không trốn trong đám lá rậm nữa. Nó cần làm quen với cậu Ba Hưởng.

Một hôm, thấy Phước Vân mặc chiếc áo len màu xanh đậm đã cũ, đứng hiu hiu buồn bên gốc cây mù u, Ba Hưởng lúc đó đang giở chài gần đó, nửa giỡn nửa thiệt hỏi:

– Ðau ốm sao đó? Ðã đau mà ra chơi ở chỗ nắng nôi gió máy như vầy mà không sợ cảm nắng cảm lạnh hay sao?

Phước Vân nguýt:

– Tui cảm sương, mê mệt nằm dài mấy hôm rày. Hôm nay thấy chỏi hỏi nên tui ra đây cho thoáng khí.

Ba Hưởng mở sạp xuồng lấy trái ổi xá lị và hai trái khế, bơi xuồng lại gốc cây mù u, bảo:

– Mới hết bịnh, lưỡi ưa đóng bợn. Cô mà ăn trái chua thì lưỡi sẽ sạch, cô không cảm thấy đắng miệng nữa. Bịnh cảm cúm, sốt rét vốn sợ trái chua. Hễ cô ăn ổi và khế của tui thì bịnh sẽ dông mất.

Phước Vân thầm nghĩ, nếu nhờ ăn trái chua mà bịnh cảm sốt của nó dông mất thì bịnh tương tư sẽ ùn ùn kéo tới. Nó nhận lấy mấy trái tặng, lí nhí cám ơn cậu Ba Hưởng, mặt đỏ bừng đỏ bại, mắt sáng ngời ngời. Cậu Ba Hưởng nhìn nó trân trối. ìi, cái thể chất gầy gò mong manh, nắng không ưa mưa không chịu của nó làm cho lòng cậu ứa ra lòng thương mến mênh mông. Ðể rồi từ đó vào xế xế, gặp lúc tạnh trời đẹp nắng, cậu bơi xuồng đến gốc mù u để gặp nó. Hai đàng trao đổi những chuyện đầu cua tai nheo vớ vẩn nhưng tâm hồn cùng ngây ngất, hai trái tim cùng đập bởi tình ý lạ lẫm.

Suốt hai hôm rày, dù trời quang mây tạnh, con Phước Vân vẫn không đến hóng mát bên gốc mù u. Cậu Ba Hưởng buồn phiền lắm. Vào buổi xế hôm nay, cậu bơi xuồng cầu may tới chỗ kỳ ngộ thì thấy con Phước Vân đứng dựa gốc mù u. Cậu hậm hực hỏi:

– Mấy hôm rày cô đi đâu mà tui tới đây chẳng thấy?

Phước Vân mủi lòng, khóc:

– Hai hôm rày em lại ngã bịnh. Em sổ mũi như chan canh và ho thiếu điều xé phổi.

Thấy nó khóc, ruột gan Ba Hưởng càng thêm thắt thẻo. Phước Vân nhõng nhẽo:

– Em cứ bịnh hoạn hoài, e không được thọ.

Ba Hưởng như chết điếng, ngồi nhìn nó, than thở:

– Tui biết cách nào giúp cô đây? Thấy cô èo uột, bịnh hoạn như vầy, tui lo buồn lắm, cô có biết không?

Phước Vân càng khóc già:

– Ðược biết anh quan tâm tới em, dẫu em có chết cũng mát ruột.

Ba Hưởng bất bình:

– Cô không nên nói như vậy. Nếu cô nghĩ tới tui thì rán tịnh dưỡng. Hễ tinh thần cô có phấn chấn thì bịnh gì cũng rút lui.

Cậu lấy cái rổ nhỏ có đựng trái mãng cầu xiêm chín mềm và những trái chùm ruột, bảo:

– Chùm ruột nầy ngọt chớ không chua lắm đâu. Còn mãng cầu nầy thì chua thanh chớ không chua lét chua lòm. Cô rán ăn cho sạch lưỡi thơm miệng.

Phước Vân cảm thấy mềm lòng quá rồi. ìi, trong đời nó, mãi tới mười bảy tuổi, nó mới biết được một mối tình khác hẳn tình thương của bà Thạch Thơm và bà Quản hạt Thất đã cho nó. Nó chỉ biết nói:

– Chua thanh hay chua lòm mà ăn nhằm chi. Tấm lòng anh đối với em cũng đủ ngọt rồi.

Giờ đây, ngối đối bóng ngọn đèn chong, Phước Vân vẫn còn bùi ngùi cảm động tấm lòng luyến ái của chàng trai chài lưới khoẻ mạnh kia. ìi, gặp được người nghĩa người thương như vầy thì dẫu có tan xương nát thịt nó cũng vui lòng đền đáp ơn trọng nghĩa dày. Nhưng nó không thể phản bội bà Quản hạt Thất mà từ lâu nó đã coi như mẹ ruột. Vậy thì nó chỉ biết lấy cái chết để đền đáp hai bên. Nó sẽ phải cứu gia đình ông bà Hương bộ Khâm và khoanh tay nhận lãnh sự trừng phạt của bà Quản Thất. Ðã có biện pháp giải quyết, Phước Vân cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Tấm thân bịnh hoạn nầy có sá kể chi. Thà chết đi mà tình vẹn nghĩa tròn, còn hơn sống lây lất với nỗi cô đơn của kiếp gái già mai sau.

Phước Vân toan chui vào mùng thì có tiếng gọi của con Thiệp:

– Cô Phước Vân, bà lớn sai tui đem trà sâm lên cho cô đây.

Phước Vân mở cửa buồng để nhận khay trà. Nó rót trà ra chén uống từng ngụm chậm rãi, lòng rưng rưng cảm động vì mối thâm tình của bà Quản hạt. Uống xong chén trà, nó vặn lu ngọn đèn chong rồi chui vào mùng, kéo mền lên tới ngực, đợi giấc ngủ. Bên hè, tiếng dế rỉ rả khóc sương. Ngoài xa nữa là tiếng nhóc nhen kêu ran.

Nằm lăn qua trở lại cho tới trống điểm canh ba mà Phước Vân không tài nào ngủ được. Lòng nó bỗng bồn chồn khủng khiếp. Nó sực nhớ có lần con Hiếu và con Thiệp bảo rằng hễ ai lâm hoạn nạn thì cầu nguyện đức Quán Thế ẽm Bồ Tát sẽ tai qua nạn khỏi. Từ bấy lâu nay nó chỉ niệm danh hiệu các tà thần, chỉ biết cầu nguyện Thiên Ma Ba Tuần hay cầu xin ma quỉ chở che khi bà Quản Thất nhúng tay vào việc thư ếm trù ẻo người khác, cho nên nó không hề tin chuyện Phật Trời, nhơn quả, thiện ác. Giờ đây, tình yêu làm cho nó nhìn về một nẻo khác, thoát khỏi cái thế giới lảng vảng ma quỉ và hình bóng âm hồn dưới mái đông lang nầy. Với niềm thành kính sâu xa, Phước Vân chắp tay lên ngực, niệm “Nam mô đại từ đại bi Quán Thế ẽm Bồ Tát” không ngớt. Tâm trí nó dần dần lún sâu vào giấc chiêm bao.

Bỗng nó thấy một toán công sai dữ tợn áp giải một bà già da tối hù, mặt mũi nhăn nheo tới nó. Tưởng ai, té ra bà già người Miên tên Thạch Thơm đã từng nuôi dưỡng nó hồi còn thơ bé. Bà Thạch Thơm kêu:

– Phước Vân con ôi! Bởi bà dùng ngải nghệ của bọn tả đạo bàng môn hãm hại nhiều người rồi còn truyền nghề cho mụ Quản hạt Thất nên khi thác xuống âm phủ, bà bị đọa vào ngục đao kiếm. Kiếm sắc lóc thịt bà, đao bén bằm nhuyễn bà không biết mấy muôn lần, đau khổ không thể nào kể xiết. Con có thương tưởng tới bà thì tìm cách giải cứu những kẻ bị hãm hại và tụng kinh Phương Ðẳng Ðại Thừa hồi hướng công đức cho bà. Có vậy bà mới lìa cảnh địa ngục, thác sanh làm người. Và có vậy quả phúc con mới tròn trặn để thoát khỏi cảnh làm bạn với ma quỉ, được duyên ưa phận đẹp về sau…

Nhóm công sai lôi bà già đi mất, tiếng than khóc nỉ non của bà còn vọng lại làm Phước Vân rùng mình mọc ốc. Tỉnh giấc, nó thấy qua khe cửa lá sách, ánh sáng đã chiếu lờ mờ. Trên mái ngói có tiếng chim cu cườm ríu rít.

Con Thiệp đẩy cửa bước vào, hỏi:

– Tui có pha cho cô thùng nước ấm để cô lau rửa mình mẩy. Bà dặn tui hỏi cô muốn ăn cơm tấm bì hay bánh mì xíu mại.

Phước Vân vươn vai, uể oải:

– Tao đắng miệng quá! Mầy khuấy cho tao ly sữa pha cacao đi.

Khi con Thiệp đi rồi, Phước Vân lồm cồm ngồi dậy bước xuống giường, mở cửa sổ. Ấnh sáng đầu ngày trắng như bạc lỏng tràn vào buồng. Nó đến bên chiếc gương hình hột xoài nạm ở mặt tủ để ngắm bóng mình. Ðành rằng về dung quang bóng sắc, nó không bì kịp cô Hai Kim Ðiệp cùng ba chị em cô Hai Ngọc Dung, nhưng khuôn mặt nó có những nét hài hoà, đều đặn, trội hơn khuôn mặt cô út Thiên Kim. Bấy lâu nay, bà Quản hạt Thất chỉ cho nó ăn uống sung sướng, phục sức lành lặn chớ không nghĩ tới việc giúp cho nó trau tria bóng sắc. Bà chưa từng sắm cho nó một món nữ trang, không mua cho nó quần hàng áo lụa với màu tươi sắc thắm, chưa tặng cho nó một ve dầu bông sứ hoặc bông lài. Bà chỉ muốn biến nó thành một kẻ phụ tá đắc lực giúp bà trong nghề làm phù thủy ma thuật mà thôi.

Tự dưng trong lòng Phước Vân nổi lên thứ tình cảm nửa thương nửa ghét đối với bà Quản Thất, người mà tự bấy lâu nay nó coi như dưỡng mẫu. Nó phải tự cứu nó, để được sống như mọi phụ nữ bình thường, có chồng con đề huề, có tổ ấm hạnh phúc. Và để có thể giúp gia đình người yêu, nó không nên gặp gỡ cậu Ba Hưởng ở bờ sông nữa. Nếu bà Quản hạt Thất biết được thì bà đâu còn tin cậy nó được. Vậy thì bắt đầu từ hôm nay, nó phải chọn nơi hẹn hò kín đáo ngoài vùng Bến Chùa, Ðạo Thạnh, Trung Lương nầy.

Buổi sáng, bác sĩ Hữu Thạnh từ Sài gòn lái xe về làm cả nhà nhộn nhịp hẳn lên. Vừa khi mâm điểm tâm dọn ra thì kỹ sư Oánh từ chợ Mỹ Tho vào thăm. Bác sĩ Hữu Thạnh có vẻ lo ra, sắc mặt mệt mỏi, cử chỉ uể oải. Còn kỹ sư Oánh thì gửi về cô út Thiên Kim cái nhìn háo hức, đắm đuối lộ liễu khiến cô nhột nhạt sượng sùng. Bà Quản hạt Thất biết rằng thằng rể tương lai của mình đang thời kỳ lậm bùa nặng nhứt nên mừng thầm trong bụng.

Sau đó bác sĩ Hữu Thạnh theo mẹ qua dãy đông lang để yết kiến Tà Noọt. Số là cách đây một tuần, cô Tư Minh Nguyệt đã tom góp quần áo, nữ trang về nhà cha mẹ đẻ. Bác sĩ Hữu Thạnh tìm đến nhạc gia thì cô Tư chỉ bảo là lóng rày tinh thần cô suy sụp, cần phải tịnh dưỡng ở miền quê yên tĩnh, và cô sẽ nhờ thầy thuốc bắc hốt cho cô vài thang thuốc ích khí bổ thần. Ông hiểu ngay có điều gì trục trặc xảy ra trong cuộc sống lứa đôi của ông, vợ ông muốn xa lánh ông nên tìm cách nói trớ như vậy.

Bà Quản Thất bảo con:

– Thầy bùa Kim Sang cùng Tà Nặc đã ếm bùa vô miệng vong hồn quan kinh lý Thận rồi, chắc ổng không thể tiết lộ cho vợ con biết việc ám hại của con đâu.

Tà Noọt cười:

– Tui đã dùng phép bắt lại vong hồn ổng, nhốt vô trong tĩn rồi. Xin quan thầy thuốc yên chí.

Bác sĩ Hữu Thạnh gãi đầu:

– Chẳng hiểu sao kỳ nầy về thăm nhà, vợ con lại mang theo hết quần áo, nữ trang. Lạ thiệt đó chớ!

Bà Quản Thất an ủi:

– Thì nó về ở chơi lâu nên nó đem theo mấy thứ đó kẻo không, tôi tớ bất lương cạy tủ lấy hết thì sao! Phải chi con sắm tủ sắt thì không nói! Vợ con xưa nay được tiếng cẩn thận.

Khi con Phước Vân bưng mâm điểm tâm lên cho Tà Noọt thì bác sĩ Hữu Thạnh kiếu từ. Ông vẫn lộ vẻ băn khoăn. Lời an ủi của mẹ không làm ông thoả mãn. Ông biết cô Tư Minh Nguyệt đang lộn nài bẻ ống rút lui khỏi cuộc đời ông kể từ khi chén thuốc đậu thai bị con mèo đập bể.

*

*  *

Ông đạo Hy Mã đến viếng bà Hai Lầu hôm cả nhà đang tụ họp quanh chiếc bàn dài. Ðó là một buổi tối thứ bảy. Tiết trời lập đông gây gây lạnh. Cậu Ba Ngọc Toản vừa làm bài tập xong, ra trung đường trò chuyện với mọi người. Thím Chín Hiệp châm một bình trà thiệt lớn, có đệm gừng giã nhỏ để mọi người uống cho ấm bụng.

Cô Hai Ngọc Dung vừa trò chuyện vừa đan chiếc áo len màu boọc-đô, còn hai cô Ngọc thì thêu bông đục lỗ.

Mùi hương lạ bỗng từ đâu thoảng tới. Lúc đó cửa nẻo gài chặt, nhưng ông đạo Hy Mã xuất hiện ở đầu bàn, lưng xây về bàn thờ Phật, còn mặt thì quay về cửa chánh. Bà Hai Lầu kêu lên:

– Mừng thầy tới viếng.

Bà quì xuống đón chào làm mọi người đều quì theo. Ông đạo cười:

– Xin mọi người bình thân. Từ rày về sau đừng quá thủ lễ mà không thuận nhãn với người đời nay.

Bà Hai Lầu nhắc chiếc đôn sành đặt đầu bàn mời ông đạo Hy Mã ngồi rồi mở tủ chè, lấy chiếc tách sứ mỏng rót nước mời ông uống.

Ông bảo bà Hai Lầu:

– Thầy biết con không thể giải thoát vong linh Kinh lý Thận ra khỏi chiếc tĩn ếm bùa của Tà Noọt. Ðáng lẽ thầy phải can thiệp vào vụ nầy, nhưng đây là vụ nhơn quả thời tiền kiếp. Thuở đó quan kinh lý Thận cướp vợ của bác sĩ Hữu Thạnh, làm hại luôn Tà Nặc lẫn Tà Noọt vốn là cha mẹ tiền kiếp của bác sĩ Hữu Thạnh. Luật tắc của nhơn quả, luân hồi dù gặp Phật đi nữa Phật cũng không dám can thiệp nữa là…

Ông ngừng nói, có vẻ suy nghĩ rồi đưa cho bà Hai Lầu một đạo bùa, dặn:

– Phải đợi 49 ngày nữa, quan kinh lý Thận mới trả sạch nghiệp. Con hãy đốt đạo bùa nầy, giải thoát cho vong linh nạn nhơn.

Bà Hai Lầu đưa hai tay cung kính nhận lãnh. Ông đạo Hy Mã thở dài:

– Bác sĩ Hữu Thạnh trước khi đầu độc bạn để cướp vợ, còn gian dâm với vợ nhiều người. Ðã vậy ổng còn giở trò đánh trống bỏ dùi, lấy con gái người ta cho tới có thai rồi trở mặt xua đuổi. Úng chuốc ác nghiệp cũng khá nhiều, cho nên rồi đây ổng sẽ trả ác quả. Còn hai anh em Tà Noọt, Tà Nặc vì thù vơ oán chạ, vì tham tiền nên hãm hại nhiều người. Hai lão đàng Thổ đó cũng như bà Quản hạt sẽ không tránh khỏi luật trả vay đâu!

Rồi ông quét cái nhìn lên mọi người trong nhà:

– Bởi vì trọng luật nhơn quả và thiên cơ bất khả lậu, thầy không thể tiết lộ chuyện sắp tới được. Tuy nhiên, dầu gì thì dầu, thầy khuyên các con nên tâm niệm điều nầy: “Vai mang bức tượng Di Ðà. Chánh đạo ta giữ, gian tà mặc ai”. Các con nên siêng năng tụng kinh cho thường.

Ông mở túi gấm lấy ra bảy xấp giấy mỏng và trắng như giấy quyến, mỗi xấp có vẽ chữ ngoằn ngoèo bằng mực tàu, dặn:

– Thầy cho mỗi người một xấp giấy có ghi thần chú Lăng Nghiêm bằng chữ Bắc Phạn. Các con nên cất kỹ trong đãy lụa hoặc đãy gấm để trừ tà, trừ các vong linh bất hảo bất nhơn. Nhớ đừng để đãy ở chỗ ô uế mà thần lực bị tiêu tán hoặc giảm thiểu đi.

Ông vừa nói dứt thì như có một áng sương mờ đục và thơm ngát bao vây lấy ông. Sương tan rất mau và ông biến mất.

Bà Hai Lầu liếc mắt làm hiệu với bà Ba Các rồi bỏ vô phòng riêng. Bà Các hội ý, lót tót theo sau. Bà Hai Lầu than vãn:

– Cứ theo lời thầy tui dạy thì thế nào nhà mình cũng sắp có tai biến chi đây. Tuy ổng nói úp úp mở mở nhưng tui cũng hiểu một vài phần. Vậy cả nhà nên một mặt niệm thần chú Mật Tông cho siêng chăm, một mặt nên chay tịnh và giúp đỡ kẻ nghèo túng, bệnh hoạn. Sau đó vào ngày rằm tháng chạp, chị em mình phải mua chim mua cá phóng sanh cho nhiều…

Bà Ba Các nói xuôi:

– Lời chị đã dạy, lẽ nào em không vưng!

Ngoài trung đường, mấy anh chị em cứ bàn ngang tác dọc về ông đạo Hy Mã. Cô út Ngọc Nga trầm trồ:

– Ông đạo đó sao đẹp trai quá thể! Không biết ổng bao nhiêu tuổi mà coi phong lưu, hào hoa hết sức!

Cô Tư Ngọc Nhan cười:

– Úng trông chừng 40 chớ mấy! Tuy là người Ấ châu mà sao trông ổng giống hình Bá tước Saint Germain dưới triều vua Louis Thập Ngũ quá xá!

Cậu Ba Ngọc Toản gật gù:

– Ðúng vậy! Ông đạo Hy Mã giống Bá tước Saint Germain như đúc. Mà em biết không, Bá tước Saint Germain có một tung tích rất huyền bí. Không ai biết rõ ổng từ đâu tới dù ổng nói ổng từ Ðông ẽu qua. Úng cũng có biệt tài sửa chữa những vết lầm lỗi của ngọc, nhất là viên kim cương bự tổ chảng của bà sủng phi Marquise de Pompadour.

Cô út xáng một câu chắc nịch:

– Hay ông đạo Hy Mã và Bá tước Saint Germain là một người?

Cô Tư phụ họa:

– ừ, biết đâu được!

Cô Hai Ngọc Dung mắng át:

– Hai con nầy chỉ được cái nước ăn nói ẩu tả, đùa giỡn bạt mạng mà không sợ phạm thánh. Tội chết đa!

Cô đi xuống bếp trông chừng nồi cháo chay để khuya nay cả nhà ăn giải lao. Cháo gạo nấu với tàu hũ ki, mì căn xắt hột lựu xào giòn, tàu hũ chiên xắt sợi, nấm rơm xào dầu phọng… Khuya lạnh, ăn cháo chay đệm giò-chéo-quảy, gừng xắt chỉ, củ cải bắc thảo thì ngon và ấm bụng phải biết!

Căn bếp sáng hồng ánh lửa. Bên ngoài trời tối đen. Sao trên nền trời long lanh rực rỡ. Bên hàng xóm có tiếng giã gạo chày đôi cắc cum nhịp nhàng. Ngoài bến sông, thỉnh thoảng tiếng người cất vó, câu tôm xao xác gọi nhau, phá vỡ cái yên tĩnh sâu thăm thẳm của buổi tối miền quê.

Cô Hai Ngọc Dung chợt thấy tim mình đập rộn rã. Không hiểu do duyên nợ hay nghiệp lực nào đưa đẩy mà khi gặp ông đạo Hy Mã, lòng cô xao xuyến bồi hồi. Thầy giáo Hớn khôi ngô, cư xử khéo léo, lại có học; vậy mà sao cô chỉ kính trọng chớ không si mê. Với ông đạo Hy Mã, cô tưởng như đó là người tình trong mộng của cô được tượng hình. Ðã bao lần cô tự nhủ lòng rằng một kẻ đã trở thành bậc chơn sư thì thể xác đâu còn là xương thịt thường tình nữa. Nó đâu cần phải nuôi dưỡng bằng thực phẩm mà được bồi bổ và dinh dưỡng bằng tiên thiên thần khí nên không còn rung động bởi nhục dục nữa. Dù lý trí đã dõng dạc bảo cô như vậy, nhưng trái tim cô vẫn đập một nhịp điệu say đắm làm cô cảm thấy dao động thổn thức một cách kỳ thú.

Tối hôm đó, sau khi ăn cháo chay, cả nhà ai về buồng nấy. Riêng cô Hai Ngọc Dung vẫn ngồi nhìn ngọn đèn thiệt lâu, tâm hồn man mác trong nỗi cảm hoài khó diễn tả.

Sáng hôm sau, trống vừa điểm canh năm, thím Chín Hiệp đánh thức cô Hai Ngọc Dung dậy để hấp bánh ích, bánh qui và để dọn bữa sáng. Vừa lúc mâm điểm tâm dọn lên thì bà Hai Dần và cô Hai Kim Ðiệp, bà Hương bộ Khâm và cậu Ba Hưởng tới chơi. Bà Hai Dần mang theo một rổ khoai lang lẫn bắp luộc. Bà Hương bộ Khâm đem tặng một mớ chả giò chay và bì cuốn chay.

Bà Hai Lầu niềm nở:

– Mời hai chị và hai cháu cùng ăn điểm tâm luôn.

Bà Hương bộ Khâm háo hức kể:

– Nè mấy chị, hồi hôm có ông đạo Hy Mã tới viếng nhà tui.

Bà Hai Dần chưng hửng:

– Ngộ dữ! Hồi 9 giờ tối qua ổng cũng tới đằng tui, cho tui một chiếc khăn tay dặn hễ có chuyện gì thì đốt lấy tro hoà nước uống.

Bà Hương bộ Khâm:

– Chị có nhớ lộn không đó? Hồi 9 giờ tối qua ổng ở đằng nhà tui mà, ngồi chuyện vãn cho tới 11 giờ.

Bà Hai Dần cười mát:

– Chị nhớ lộn thì có. Chính ổng ở nhà tui từ 9 giờ tới 11 giờ mới kiếu từ.

Cô Hai Kim Ðiệp ôn tồn bảo bà Hương bộ Khâm:

– Thưa bác Hương bộ, má cháu không nói sai đâu. Tối thứ bảy nào, hai thằng em cháu cũng đi tập võ bên nhà thầy giáo Hớn về cỡ 9 giờ. Tụi nó vừa về tới nhà thì ông đạo Hy Mã tới. Khi ổng biến mất thì đồng hồ oét-minh-tơ cũng vừa gõ 11 tiếng.

Cậu Ba Hưởng nhíu mày:

– Lạ quá! Má cháu nói thiệt đó. Tối hôm qua cháu đi cắm câu về tới nhà cỡ 9 giờ, vừa vô nhà thì ông đạo Hy Mã theo sau. Úng chuyện vãn, dặn dò đủ mọi điều rồi biến đi. Lúc đó anh Xã cháu giục cháu đi ngủ vì đã 11 giờ rồi.

Mọi người bàng hoàng nhìn nhau. Bà Hai Lầu hưởn đãi giải thích:

– Tối hôm qua ổng cũng tới đây khoảng đó. Mấy chị mấy cháu đừng lấy làm lạ. Úng là bực chơn tiên, có thể phân thân hằng trăm chỗ nữa là khác!

Chừng mươi lăm phút sau, mặt trời chừng ba sào thì mâm điểm tâm được dọn lên. Chả giò chay, bì cuốn chay ăn với bún, giá, rau sống. Cháo trăng ăn với tàu hũ, đậu đũa kho tương. Củ huỳnh tinh đập dẹp muối sả, ớt, cà ri chiên giòn như cá mối muối mặn chiên. Củ cải muối kho tương rắc tiêu điểm ớt. Ngoài ra còn rổ bắp và khoai luộc.

Trong bữa ăn, cậu Ba Hưởng bảo bà Hai Lầu:

– Cô Phước Vân, đệ tử bà Quản hạt có dặn cháu từ rày về sau, bà con mình nên cẩn thận, không để đồ dùng như quần áo, khăn khíu hoặc móng tay, móng chơn, râu tóc thất thoát ra ngoài. Cổ chỉ dặn như vậy thôi, nhưng cháu hiểu mấy thứ đó mà lọt vô tay Tà Noọt thì ổng sẽ dùng để ếm bà con mình.

Kỳ rằm tháng mười một, trung đường và hậu liêm của am đã hoàn tất. Bà Hai Lầu làm lễ an vị tượng đức Quán Thế ẽm Bồ Tát và làm lễ cầu an. Khắp nơi quen biết kéo về tấp nập. Trước đó, ông Richard Laporte, hôn phu của cô Sáu Thọ Huệ, cho bà Hai Lầu mượn lều vải để căng rạp chứa khách hành hương. Các bực đường quan mạng phụ trong vùng, nghi vệ rườm rà kéo tới rất đông.

Trước đó một hôm, cô Hai Kim Chung tới nhà cô Sáu Thọ Huệ, rủ rê:

– Rằm tháng mười một tuy không phải là rằm lớn, nhưng bà Hai Lầu làm lễ an vị tượng Quán Thế ẽm, chị em mình nên cùng tới am cúng dường.

Cô Sáu gật đầu:

– Chị cũng tính vậy! Chị sẽ đi cùng với anh Richard, con Thoại Hảo và thầy giáo Chánh nữa.

Cô Hai Kim Chung:

– Bữa đó còn có ông đạo Hy Mã tới giảng phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa. Sẵn có máy chụp hình, em sẽ lén chụp ổng vài kiểu, phóng lớn để thờ cho thiên hạ lé con mắt chơi.

Cô Sáu can:

– Em đừng có khỉ khọt, ẩu tả! Không xin phép ổng mà em cứ chụp đại, ổng sẽ mích lòng cho coi. Chọc giận các bậc chơn tiên, em không sợ bị quở hay sao?

Cô Hai nguýt:

– Úng là tiên thánh, lục dục thất tình còn đâu nữa mà mích lòng, mà ngâm cái phiền hà trong bụng như bọn phàm phu tụi mình! Chị để đó em. Con Hai Kim Chung nầy muốn chuyện gì thì Thiên Lôi tới hăm, nó cũng không ngán!

Tới hôm rằm, ông Laporte đem xe tới đón cô Hai Kim Chung và cô Sáu Thọ Huệ. Ði chung với ông là người em con nhà chú tên Lionel Laporte, dân Tây rặt, bị yếu phổi nên qua xứ Ðông Dương trước du lịch, sau là để hưởng khí hậu ấm áp.

Khi tới am, cô Sáu Thọ Huệ bảo cô Hai Kim Chung:

– Tội nghiệp Lionel! Anh ta mới 30 mà bị bịnh lao thời kỳ thứ hai rồi đó. Hôm nay anh ta đến am bà Hai Lầu để cầu may chớ thiệt tình anh ta không mấy tin tưởng.

Bà Hai Lầu đóng vai chủ tế. Sau đó ông đạo Hy Mã xuất hiện với áo tràng màu khói nhang, thần thái phiêu hốt. Ông kể hạnh nguyện cứu độ quần sanh của đức Quán Thế ẽm, rồi ông đọc:

Diệu âm, Quán thế âm

Phạm âm, Hải triều âm

Thắng bỉ thế gian âm

Thị cố tu thường niệm

Niệm niệm vật sanh nghi

Quán thế âm tịnh thánh…

Giọng ông sang sảng và trầm rền vang dội như một nguồn suối ấm dội trên sống lưng mọi người. Không hiểu Lionel nghĩ sao, bước tới chân pháp toàn quì mọp xuống cho tới buổi giảng chấm dứt. Ông đạo Hy Mã bước tới đỡ anh chàng ngoại nhân kia, nói bằng tiếng Pháp, giọng thân ái:

– Con yêu quí, ta đợi con từ lâu lắm!

Lionel lại sụp xuống ôm lấy chân ông. Ông an ủi:

– Rồi đây con sẽ hết bịnh. Nhưng con không thể theo ta được. Ta chỉ mong con trở thành người Phật tử mà thôi.

Riêng cô Hai Kim Chung, từ khi ông đạo Hy Mã lên pháp toà giảng kinh, cô cứ núp lén khi thì sau gốc cột, lúc sau lưng người nầy kẻ nọ để chụp ảnh ông. Mặt cô dúc dắc và sắc diện cô phơi phới. Cô có vẻ tự đắc lắm.

Thầy giáo Hớn mời khách dưng hương dự tiệc chay. Khách được xếp theo nam tả nữ hữu. Những người lớn tuổi được mời ngồi trên. Ông đạo Hy Mã ngồi cùng bàn với cụ Cố bà, vợ chồng ông Huyện Phấn, bà Phủ Chánh, bà Giáo Toàn, bà Phán Kiệm.

Trong lúc ăn uống, cụ cố bà Ðốc phủ Như ngắm nghía ông đạo, nói:

– Gần bảy chục năm qua, trông ông đạo vẫn vậy, không thay đổi chút nào. Tui còn nhớ hồi đó ông đến một ngôi chùa nghèo trên bến đò Bến Tranh để trị bịnh thời khí cho dân, chắc ông chưa quên?

Ông đạo Hy Mã điềm nhiên:

– Thưa cố, thuở đó dân mình mới tới Bến Tranh lập rẫy lập vườn nên ít ai nghĩ tới chuyện tu niệm, lễ bái chùa chiền. Lúc đó cố khoảng 25 tuổi, là con gái quan Thiên hộ Nho từ Vũng Gù xuống dưng hương.

Ông Huyện Phấn xen vô:

– Chắc ông đạo quên tui rồi. Hồi sáu mươi năm trước, tui đi dưng hương ở chùa Long Ðức tại Vĩnh Long, có gặp ông giảng kinh Pháp Hoa và nhứt là phẩm Phổ Môn.

Ông đạo cười thiệt tươi:

– Tiếc rằng kỳ nầy tui không có thì giờ giảng trọn bộ kinh Pháp Hoa như hôm mà ông quy y Tam Bảo đó.

Ông Huyện Phấn than dài:

– Thuở đó tui mới 20, đứng bên cạnh ông thì nhắm về tác, tui đáng con ông. Còn bây giờ…

Bà Hai Lầu cười:

– Bây giờ thầy tui vẫn vóc dáng kẻ bốn mươi, còn quan huyện thì già theo số tuổi tám chục.

Sau buổi lễ, bà Ba Các và cô Hai Ngọc Dung kiểm điểm số tiền cúng dường thấy tròm trèm sáu ngàn đồng bạc. Bà Ba Các mới nói:

– Vậy mới biết anh Hương bộ và thằng Xã Huề nói đúng. Tiền cúng dường càng ngày càng nhiều, am cần phải cất thiệt lớn như cái chùa mới đủ chỗ chứa khách hành hương.

Bà Hai Lầu nói:

– Tui chỉ mong rồi đây chị Quản hạt Thất từ bỏ tả đạo bàng môn quay về chánh đạo, chừng đó tui sẽ yên lòng tu niệm. Còn việc làm thuốc cứu nhơn độ thế, tui sẽ truyền cho một trưởng pháp tử của tui hiện giờ đang tu trên núi Thất Sơn.

 

Một tuần lễ sau, giữa lúc bà Hai Lầu đang ngồi chuyện vãn với bà Giáo Toàn, bà Ðốc Thông và bà Hương bộ Khâm thì cô Sáu Thọ Huệ và cô Hai Kim Chung từ ngoài chợ Mỹ Tho vào thăm. Sau khi thắp nhang lạy Phật, cô Sáu kể:

– Từ hôm bái kiến ông đạo Hy Mã tới nay, anh chàng Lionel ăn được, ngủ được, không đổ mồ hôm dầm dề mỗi đêm nữa. Mong rằng anh ta sẽ khỏi bịnh.

Cô Hai Kim Chung chìa xấp hình:

– Hôm ông đạo thuyết pháp, cháu rắn mắt lén chụp hình ổng, dè đâu khi đem rửa hình thì như vầy nè…

Mọi người chuyền nhau xấp hình săm soi. Chỗ pháp toà trống trơn, còn sau lưng pháp toà là bàn thờ Phật hiện rõ từng nét một. Tấm hình chụp ở chỗ bàn ăn cũng vậy, hình mọi người thì rõ nét, còn chỗ ông đạo ngồi thì trống trơn. Cô Hai Kim Chung lại chỉ xấp ảnh cô đang cầm máy núp sau các gốc cột:

– Cháu cầm máy chụp hình ổng, dè đâu khi đem rửa thì ra hình của cháu. Có đời thuở nào mình chụp được ảnh của chính mình đang bấm máy bao giờ, ngoại trừ mình đứng trước kiếng!

Bà Hai Lầu cười:

– Thì có gì lạ đâu! Ông đạo Hy Mã bóng gió khuyên cháu rằng từ rày về sau nếu cháu làm hại ai thì cái hại chẳng những không hại được kẻ đó mà còn quay ngược lại tác hại chính cháu.

Cô Sáu Thọ Huệ chắp tay niệm Phật:

– Hôm trước cháu đã cản nó đừng rắn mắt mà nó đương thèm nghe lời cháu. Thôi, chụp ảnh ổng không xong cũng là may. Nếu ổng giận cho nổ máy ảnh hay làm xụi lơ hai cánh tay con Kim Chung thì mới tai hại.

Rồi cô trao cho bà Hai Lầu một phong bì màu vàng hột gà:

– Ðây là tiền cúng dường của anh chàng Lionel. Anh ta nói là dù có khỏi bịnh hay không, ảnh vẫn là một Phật tử từ khi bái kiến ông đạo Hy Mã. énh chỉ mong gặp ổng một lần nữa cho thỏa lòng kính ngưỡng.

Bà Hai Lầu ngẫm nghĩ:

– Anh ta sẽ không gặp lại ổng nữa, trừ lúc anh ta lâm chung. Song đó là chuyện bốn chục năm sau. Anh ta sẽ khỏi bịnh, sẽ cưới vợ xứ mình, sẽ theo tập tục dân mình và ở luôn tại đất Ðịnh Tường nầy.

 

Chương 10

 

 

Bà Quản hạt Thất ngồi đơm nút kết khuy cho bộ đồ lục soạn tặng con Phước Vân. Nó đem lại cho bà tách trà cúc. Bà bảo:

– Con Bảy Giảng đã lấy được chiếc áo thun rách của thằng Xã Huề. Còn thằng Bụng cũng tìm được chùm tóc của thằng Ba Hưởng. Chú Chánh lục bộ Hàm truy ra ngày sanh tháng đẻ của tụi nó rồi. Tao đã nhờ thầy Chẩm đối chiếu qua ngày tháng âm lịch. Như vậy chuyện cần nhứt là mầy lo nặn sáp thành hai cái hình nhơn hai anh em nó.

Phước Vân lạnh mình từng chặp theo lời nói của bà Quản hạt. Bà cũng đã cho thằng Kiếp dò la mạch nước từ ngoài sông Bảo Ðịnh chảy vô hai cái ao trong khuôn viên nhà bà Ba Các. Nhưng soi tìm mạch nước không phải dễ. Ðã hai lần, bà cho cắm cọc sắt và mũi tên nhưng nước ao vẫn trong văn vắt, chứng tỏ thằng Kiếp dò sai mạch. Tà Noọt trước khi từ giã, có khuyên bà:

– Bà có nuôi ngải tinh. Sao bà không sai khiến chúng tìm mạch nước cho bà?

Bà Quản Thất chợt nhớ ra:

– ừ hén! Nhưng tui phải làm cách nào?

Tà Noọt ngẫm nghĩ:

– Bà tìm cách lấy nước trong ao tưới lên cọc sắt và mũi tên. Sau đó bà lấy ngải thoa lên hai món ấy. Ðợi tới đêm, bà sai thằng Kiếp cầm hai món đó ra bến nước của mụ Ba Các. Ðêm tối, tinh ngải sẽ biến hai món đó sáng ngời như nấm lân tinh. Nhưng khi dò gặp trúng mạch nước, ánh sáng đó sẽ tắt ngay. Thằng Kiếp chỉ cần cắm cọc và mũi tên vô chỗ làm cho ánh sáng tắt. Mạch nước chảy vô hai cái ao là ở chỗ đó chớ đâu!

Vậy là việc tìm mạch nước chảy vô hai cái ao mắt cá chép tiến hành. Bà Quản Thất cho con Thiệp mời chị dâu nó là thím Cai tuần Trọn đến. Bà chìa hai tờ giấy năm đồng cho y thị:

– Nè vợ thằng Cai tuần, mầy làm cách nào lấy được nước ao nhà con vợ thằng Ba Các về đây thì tao sẽ thưởng thêm cho mầy 10 đồng và chiếc áo bà ba vải in bông mới tinh.

Thím Cai cười:

– Khó gì việc đó. Thằng Bảy Khéo em ruột tui thường qua nhà bà Ba Các vét mương, làm vườn. Tui chỉ xỉa cho nó một đồng bạc là bà có một ve nước liền.

Giờ đây thầy Chẩm tuy chưa cung cấp ngày sinh tháng đẻ theo âm lịch của hai anh em Xã Huề nhưng vợ Cai tuần Trọn đã giao ve nước ao rồi. Ðêm nay, bà sẽ cho thằng Kiếp đi tìm mạch nước để cắm cọc và tên.

Bà Quản dặn con Phước Vân:

– ân cơm trưa xong, mầy hơ sáp se hình nhơn cho tao.

Con Phước Vân giục hưỡn cầu mưu vì nó biết bà Quản đang hành kinh:

– Sáp chưa có nhiều. Bà nên đợi chú Thường xuyên Hạc đi chợ Mỹ Tho mua thêm đèn cầy. Vả lại con cũng đang kỳ hành kinh như bà, mình mẩy dơ dáy, sợ rớ tới bùa phép sẽ hết linh. Ðợi sạch sẽ khô ráo rồi hẵng hay.

Bà Quản Thất không nói không rằng và cũng không lộ vẻ nghi ngờ vì bà cho rằng con nầy đau yếu quặt quẹo nên kinh nguyệt nó trồi sụt bất thường. Riêng Phước Vân sau khi rút vô buồng riêng, gục đầu vào gối khóc nức nở. Tình cảm của nó đối với cậu Ba Hưởng là ái tình say đắm. Còn tình cảm của nó đối với bà Quản là thứ tình gần giống như tình mẫu tử. Từ bấy lâu nay, nó coi bà như dưỡng mẫu. Bà sẵn sàng dang tay che chở, nâng giấc nó. Nếu cứu anh em Xã Huề, nó sẽ làm hại bà Quản hạt Thất. Bùa ếm một khi tung vào anh em Xã Huề mà thất bại thì sẽ trở lại đánh vào người ếm và lúc đó bà Quản sẽ thiệt mạng. Việc trở ngược bùa ếm không phải là việc khó đối với con Phước Vân. Nó chỉ cần khuyên anh em Xã Huề lấy máu chó, máu đường kinh đờn bà thấm vào chiếc khăn treo ở đầu cổng hay đầu cửa buồng của họ là xong. Máu dơ sẽ ngăn sức tác động của bùa ếm, trở lại tác hại kẻ chủ mưu. Dẫu sao, ngày mai nó cũng phải quyết định cho xong. Phải cứu anh em Xã Huề, và phải hứng chịu sự trở quẻ của bùa ếm để bà Quản hạt khỏi thiệt mạng. Có vậy tình, hiếu mới vuông tròn, dẫu nó có bị nát thân đi nữa.

Hôm qua đây, Phước Vân đã được nếm những phút ân tình cùng cậu Ba Hưởng. Cậu đã ôm chặt nó trong vòng tay cứng cáp của cậu, đã nói những lời gắn bó thiết tha với nó, đã hun nó thiệt đậm thiệt nồng, đã truyền sự sống vào thể chất và trái tim nó. ìi, chỉ cần một lần ân ái trong chòi chăn vịt với cậu, Phước Vân đã cảm thấy mình quá đầy đủ rồi, thêm can đảm để hy sinh mạng sống cho cậu. Nó sẽ lấy chiếc niệc của bà Quản hạt đeo luôn trong mình. Khi bùa ếm tới nhà ông bà Hương bộ Khâm, gặp máu dơ sẽ quay ngược về đây, tìm chiếc niệc của bà Quản hạt để giáng vào, bởi vì niệc nầy có lá bùa tương ứng với bùa hại anh em Xã Huề.

Nguyên bà Quản Thất và con Phước Vân mỗi người có một cái niệc giống nhau ở lớp vải bọc, chỉ khác là niệc của bà Quản được buộc bằng một sợi dây đeo bằng tơ ngũ sắc, còn của con Phước Vân thì bằng chỉ gai nhuộm đỏ. Nó chỉ cần lén đánh tráo cái niệc là xong. Một khi bùa trở lộn về đây giết nó, bà Quản hạt sẽ hiểu mà không buộc nó tội phản phúc.

Bên ngoài buồng có tiếng bà Quản Thất dặn con Thiệp:

– Con Phước Vân lại ể mình, mầy kho tiêu một tộ cá lóc để nó ăn cháo trắng. Nhớ xẹt qua thầy Mười Cẩm lấy thang thuốc giải cảm đem về đây sắc cho nó uống.

Bà rời dãy đông lang bước qua căn bếp để cùng cô út Thiên Kim sửa soạn bữa trưa. Cô út buồn rầu bảo mẹ:

– Anh Oánh lóng rày cứ ngơ ngẩn như con ốc mượn hồn. Ðến đâu ảnh cũng ngồi thù lù một đống. Ðã vậy ảnh còn ăn nói không đâu vào đâu.

Bà Quản Thất chau mày:

– Chắc là con cho nó uống bùa nhiều quá. Thôi thì con ngưng bùa ít lâu thử coi.

Thừa lúc bà Quản hạt xuống bếp, con Phước Vân lồm cồm ngồi dậy bước qua gian thờ Thiên Ma Ba Tuần. Thường thì bà Quản luôn đeo niệc trong mình, nhưng khi sắp có kinh thì bà bỏ niệc vô chiếc đãy gấm và treo ở gian thờ. Do đó việc tráo niệc chẳng khó khăn lâu lắc gì.

Trưa hôm đó, con Phước Vân ăn cháo và uống thuốc sắc xong, bà Quản Thất rờ trán nó, bảo:

– Trán mầy mát rợi. Mầy nên đi ra ngoài dạo một vòng cho thoáng khí. Nhớ lấy nón đội vô kẻo trúng nắng mà bịnh cũ tái phát.

Con Phước Vân thưa:

– Ðể con đi dạo chợ Bến Chùa cho thảnh thơi tâm trí.

Bà Quản đưa cho nó một đồng bạc:

– Cầm lấy đi, hễ thèm món gì thì cứ mua mà ăn.

Nước mắt con Phước Vân ứa ra khi nó cầm lấy đồng bạc. Bà Quản rầy nó:

– Hễ có đau thì có mạnh. Mầy khóc hoài không nên! Tao cứ khuyên mầy hoài mà mầy có chịu nghe đâu! Cái thân mầy yếu như bún thiu, nắng không ưa mưa không chịu, bởi vậy mầy phải tránh xúc động để tịnh dưỡng. Từ hồi nhỏ tới giờ, mầy cứ mỗi chút mỗi khóc rồi sầu thảm suốt ngày thì còn non nước gì!

Con Phước Vân đi tìm nón đội. ìi, tui còn sống được bao lâu nữa! Vài ngày nữa đây, thầy trò mình sẽ ngàn thu vĩnh biệt thì tui làm sao tránh khỏi đau lòng mà không khóc?

Riêng bà Quản hạt Thất nhìn theo con Phước Vân, lòng bỗng nao nao. ụ là nó vóc vạc gầy gò mảnh khảnh, da dẻ xanh lè xanh lét, vậy mà nó yểu điệu thanh tân dường ấy! Nếu nó khoẻ mạnh hồng hào thì cô gái út của bà sánh với nó khác nào hột sỏi sánh với hạt trân châu. Con nầy nếu xa vòng bùa ngải thì họa may nó sẽ lành mạnh. Chỉ sợ khí âm huyền cùng ảnh hưởng độc địa của bùa ngải đã thấm sâu vào hồn phách và thần khí nó quá lâu nên khó giải trừ mà thôi. Dù sao năm tới bà cũng sẽ cho nó rời mái đông lang, theo bác sĩ Hữu Thạnh để ông ta chữa bịnh cho nó. Hễ nó lành bịnh rồi, bà sẽ tìm nơi xứng đáng để gả nó.

Riêng cô út Thiên Kim vừa canh chừng nồi khổ qua hầm vừa bần thần suy nghĩ về cậu Bảy Trinh Tường. Ðồ ngu ngốc gì đâu á! Cô đã hẹn với cậu một lần chót tại chiếc quán ở bến đò Rạch Miễu, tha thiết:

– Em lúc nào cũng thương yêu anh. Lòng em trước sao sau vậy. Em không bao giờ muốn anh ra khỏi cuộc đời em. Xin anh tưởng tới tình cũ nghĩa xưa mà chấp nhận lời đề nghị của em.

Cậu Bảy Trinh Tường lắc đầu:

– Em thương yêu tui kiểu đó thì thà ghét tui còn hơn. Tui có biết đôi chút đạo lý, lẽ nào làm chuyện trái lễ giáo như vậy! Yêu nhau kiểu đó bằng mười phụ nhau. Vả lại, qua bao trận đau thương, lòng tui đã đổi khác rồi. Tui đã gặp cô Hai Kim Ðiệp, đã cùng cổ thề thốt sống với nhau trọn đời mãn kiếp, nếu tui quên lời thề thì trời đánh tui cháy thành than còn gì!

Câu nói sau cùng của cậu Bảy đã cứa sâu mối thù vào tim cô út. Ðược rồi, không ăn được thì tao đạp đổ! Tao sẽ đẩy con dao vô hình nhơn; chùm tóc của mầy sẽ bay qua lỗ mũi mầy, vô phổi mầy để coi mầy còn chung tình nổi với con quạ xóm ống Cống không cho biết! Tối nay tao sẽ dứt điểm mầy cho rồi, để cù cưa làm chi nữa!

Sau bữa cơm trưa, ông bà Quản hạt Thất rút lên trung đường vừa uống trà vừa bàn kế làm tròng làm tréo để mua rẻ sở ruộng của ông bà Chánh bái Hừng. Cô út Thiên Kim đem áo gối ra ngoài chiếc võng giăng ở hàng ba để thêu. Thằng Kiếp và thằng Bụng móc mương bồi liếp trong vườn. Con Thiệp xay bột sau nhà. Con Hiếu thì chao mắm sặt ở vựa chứa mắm.

Buổi trưa yên tĩnh. Nắng hanh ửng trên những phiến lá trầu vàng. Trong bụi hoang, con chim cúm núm kêu ra rả. Trên con đường tráng nhựa đưa về chợ Bến Chùa, con Phước Vân bước đi chậm rãi. Gió mát từ sông Bảo Ðịnh thổi về từng đợt lao xao. Qua đường rầy xe lửa là tới cổng trường tiểu học và chỉ thả bộ chừng vài chục bước là tới nhà lồng chợ. Chợ đã tan lúc đúng ngọ nên nhà lồng trống trơn, chỉ còn vài gánh hàng rong loe hoe như gánh bánh lọt tàu hũ, gánh chè đậu, gánh bánh ướt triều châu. Lũ trẻ con bày trò chuyền cột bắt cột dưới mái nhà lồng, cười giỡn om sòm.

Phước Vân bước vô tiệm khách trú mua một gói trà và một phong bánh in rồi bương bả đi về phía bến đò. Ghe bán cá của Ba Hưởng vẫn còn neo ở đó. Ba Hưởng mình trần, đầu đội nón lá đang ngồi sau lái ăn ô môi. Nước sông ngầu đục phù sa dâng đầy ăm ắp. Lục bình từng giề từng cụm trôi dật dờ. Bên kia sông là những khóm dừa nước lá đâm tua tủa, những cây bần lá nhỏ lăn tăn.

Ba Hưởng ái ngại:

– Nắng nôi gió máy đầy trời, em đi ra ngoài làm chi?

Phước Vân cố cầm nước mắt:

– Cũng có chút chuyện nên em đi tìm anh. ễ đây nói không tiện, anh chèo ghe đưa em tới chòi vịt đi.

Ba Hưởng nghe lời, chèo về hướng Tân Hiệp, Bến Tranh. Qua mười doi đất, ghe rẽ vào dòng rạch nhỏ chảy giữa cánh đồng loáng nước. Chòi chăn vịt kia rồi, nhưng cậu Ba Hưởng cho xuồng vào đám sậy trùng trùng điệp điệp, đắc ý:

– ễ đây chỉ có quạ và chim ó lui tới mà thôi, em khỏi lo ai thấy.

Cậu xốc lại ôm chặt người yêu. Con Phước Vân để mặc cho cậu hun hít ấp yêu. ìi, đây là cuộc ái ân lần chót, để rồi tử biệt sẽ cắt đứt mối tình giữa chàng ngư phủ và cô gái phù thủy. Sau đó, Phước Vân dặn cậu Ba Hưởng:

– Phong bánh in và gói trà nầy là của em ra mắt ông bà khuất mày khuất mặt bên anh. Anh hãy đem về đặt trên bàn thờ chánh ở gian giữa cho em vui lòng.

Rồi đó, nó thuật lại cuộc ếm đối sắp tới của bà Quản Thất. Nó bày cậu dùng máu đường kinh và máu chó để lái sức tác hại của bùa trở về kẻ chủ động, nhưng nó giấu kín việc đánh tráo niệc.

Hai người quần thảo thêm một hiệp nữa. Ðó rồi cậu Ba Hưởng đưa Phước Vân trở lộn về bến chợ. Chiều hôm đó, nó than no hơi sình bụng nên không ăn cơm tối. Bà Quản hạt lo lắng than với cô út Thiên Kim:

– Rồi! Con Phước Vân lại bị trúng nắng rồi!

Cô út chắc lưỡi:

– Nuôi con Phước Vân cực nhọc như nuôi công chúa vậy. Ðể con khuất bột trứng sam với đường cát cho nó ăn.

Vừa khi đỏ đèn, mâm cơm chiều dọn lên. Bà Quản ăn qua loa cho xong bữa rồi xuống bếp múc bột trứng sam vô cái tộ sứ mỏng đem đến buồng con Phước Vân. Thấy nó đang giọt vắn giọt dài, bà quở:

– Lại khóc lóc nỉ non nữa rồi. Rầu quá! Thôi, rán ăn tộ bột nầy cho khoẻ trước khi uống gói cảm mạo phát tán.

Con Phước Vân nức nở:

– Công ơn bà hoạn dưỡng, làm sao con trả ơn được muôn một đây?

Bà Quản hạt kêu lên:

– Coi bộ hôm nay con nầy sanh tật lẩm cẩm rồi đây! Mầy muốn trả ơn tao gẫm đâu có khó. Mầy phải tịnh dưỡng, không được buồn rầu chuyện tầm phào, đừng nghĩ ngợi sa đà. Có vậy mầy mới mạnh giỏi, chớ thấy mầy đau ốm dây dưa hoài, tao lo rầu lung lắm.

Bà đặt tô bột trên bàn đầu giường, phàn nàn:

– Còn trẻ thì phải nghĩ những chuyện vui vẻ, chuyện gầy dựng tương lai, có vậy tinh thần mới phấn chấn. Hễ được vậy là bịnh mầy thuyên giảm liền. Ðể mai tao sai thằng Bụng quét dọn buồng nầy cho sạch sẽ, đốt vỏ bưởi để xua mùi ẩm mốc, đuổi sạch bịnh khí đi.

Khi bà Quản Thất đi rồi, Phước Vân ăn bột uống trà xong, con Hiếu đã chực sẵn ở ngoài, bước vô thu dọn và bưng thau nước ấm tới cho nó rửa mặt. Phước Vân vô giường buông mùng nằm đợi giấc, nhưng mãi tới cuối canh một mà giấc ngủ vẫn chưa tới. Nó chợt nhớ tới lời báo mộng của bà Thạch Thơm, song nó lại nghĩ mộng triệu bá láp tầm phào, hơi nào mà tin. Cứu anh em Xã Huề thì nó phải làm, nhưng cứu kẻ khác để bùa phép trở quẻ hại lại bà Quản Thất thì chắc chắn nó không nhúng tay rồi đa. Theo lời bà Thạch Thơm thì nếu nó cứu những kẻ bị bà Quản hãm hại, nó sẽ được phước, sẽ hưởng duyên lứa đôi phỉ nguyện. Nhưng có phải bà Thạch Thơm hiện hồn về báo mộng hay không? Hay chỉ là mộng triệu tình cờ? Nghĩ tới đây, Phước Vân thấy hoang mang quá. Nó chắp tay niệm hồng danh đức Quán Thế ẽm Bồ tát không hở dứt. Thần trí nó lún sâu vào giấc ngủ. Bỗng nó thấy bà Thạch Thơm mang gông xiềng đến, giọng van vỉ:

– Phước Vân con ôi, con phải đến bà Hai Lầu đem tiền hùn in kinh và nhờ bả tụng kinh Pháp Hoa cho bà, có vậy bà mới thoát khỏi ngục đao kiếm để đi đầu thai. Con đã cứu hai thằng con ông bà Hương bộ Khâm, con sẽ không chết vì bùa trở quẻ đâu. Người phối ngẫu mai sau của con là cậu Ba Hưởng đó.

*

*  *

Bên nhà ông bà Hương bộ Khâm tổ chức đám cúng dương căn cho con gái Xã Huề. Ðó là lễ ghi nhận đứa trẻ đang vào tuổi trưởng thành, từ đây mỗi hành động của nó đều do nó gánh vác trước sự chứng kiến của hai vị thần hai bên vai nó. Hai vị nầy sẽ ghi chép tội phước vào sổ bộ đời để mai sau khi nó chết đi, họ sẽ trình cho Diêm Vương coi. Lễ cúng dương căn thường không lớn bằng lễ đầy tháng và thua luôn cả lễ cúng thôi nôi. Nhưng năm nay ông bà Hương bộ Khâm làm ăn khá giả, bà Hương bộ được bà Hai Lầu giúp vốn mở vựa mắm dự trữ nhiều thứ khô, mắm để bán cho bạn hàng bán lẻ nên ông bà tổ chức lễ cúng dương căn thiệt lớn cho cháu.

Bà Hai Lầu bảo em dâu:

– Anh chị Hương bộ có công trong việc xây cất am, nhứt là hai anh em thằng Xã Huề làm công quả cho am không nhàm mỏi. Thím lấy cái kiềng vàng chạm nặng nửa lượng cho con gái thằng Xã Huề để anh chị Hương bộ vui lòng.

Bà Ba Các nói xuôi:

– Em xin vưng lời chị.

Cô Hai Ngọc Dung, cô Hai Kim Ðiệp từ đầu buổi lễ đã qua nhà ông bà Hương bộ Khâm để phụ vợ Xã Huề nấu nướng.

Cô Hai Ngọc Dung thưa với ông bà Hương bộ:

– Thưa hai bác, thằng em cháu khi không nóng vùi, nằm mê man trót hai ngày rồi.

Cậu Bảy Trinh Tường cũng kể:

– Anh Ðốc cháu có việc phải đi Sài gòn, chiều mai mới về. Còn con Hai Tố Trinh bỗng dưng ngã bịnh nên chị Ðốc cháu phải ở nhà săn sóc nó.

Bà Hương bộ trước đó đã dặn lò heo tại chợ Trung Lương hai cái đầu heo và hai bộ đồ lòng cùng một vịm huyết để nấu cháo. Tôm càng, tôm thẻ có Ba Hưởng lo. Gà vịt nuôi sẵn trong sân nên tiệc rất rôm rả.

Bà Ba Các than thở với bà Hương bộ:

– Năm nay là năm thi, thằng Ba nhà tui mà bịnh dây dưa mười bữa nửa tháng thì khó theo kịp các bạn trong lớp. Mà cũng kỳ, chị Hai tui giỏi tài trị bịnh vẫn không trị nổi bịnh cho nó. Hai hôm rày nó nóng mê man.

Bà giáo Toàn phàn nàn:

– Ngộ cái là thằng Ba lẫn con Hai Tố Trinh cùng ngã bịnh một lượt. Chắc là tụi nó bị ếm rồi.

Bà Ba Các chau mày:

– Chị Hai tui cũng nói vậy, nhưng không biết họ ếm hai đứa nó cách nào.

Tiệc kéo dài tới tám giờ tối. Ba Hưởng đốt đèn treo trên cành mít xéo xéo trước sân nhà. Ấnh sáng trắng như nước suối rọi tới bàn tiệc của các ông. Xã Huề bày cuộc đờn ca xướng hát nên bà Hương bộ Khâm phải thết đãi trà bánh.

Khách khứa đờn bà lần lượt ra về. Cô Hai Ngọc Dung bảo cô Hai Kim Ðiệp:

– Chị cho em mượn cái xửng hấp để mai hấp bánh. Cái xửng của em cất trên giàn bếp bị chuột cắn lủng mấy lỗ.

Cô Hai Kim Ðiệp:

– Vậy chị tới nhà em đi. Bận về, hai thằng Lân, Luông sẽ hộ tống chị tới bến đò Ðạo Ngạn.

Trên trời trăng sáng hắt hiu. Cả hai cùng đi về phía xóm ống Cống, ngang qua gò đất. Dưới chân gò, nấm mộ ông Bôn bà Tố nằm song song. Cô Hai Kim Ðiệp bỗng kêu lên:

– Lạ nầy! Phía đầu mộ có hai cục gì sáng như đèn ma.

Cô Hai Ngọc Dung:

– Thì ma chớ còn gì nữa!

Cô Kim Ðiệp lắc đầu:

– Làm gì có! Vong hồn ông Bôn bà Tố đã đầu thai, thác sanh rồi. Trong huyệt chỉ còn hai bộ xương mà thôi.

Cô Ngọc Dung:

– Ðể về tới nhà, em hỏi má em coi sao.

Khi đưa chiếc xửng tre cho cô Hai Ngọc Dung, cô Hai Kim Ðiệp bảo em:

– Lân, Luông nên đưa chị Dung về bến đò Ðạo Ngạn.

Hai cậu vui vẻ nhận lời. Trên chuyến về, đi ngang mộ ông Bôn bà Tố, hai cục sáng vẫn đang bay lượn trên đầu mộ, lúc kéo  dài thành một dải lụa bạch, khi thun lại thành trái cầu lăn lóc trên cỏ. Cậu Tư Kim Luông nói:

– Ðể em lấy cây gậy đập hai khối cầu bóng nầy bể tan tác chơi.

Cô Hai Ngọc Dung mắng:

– Ðừng có khỉ! Em cứ quen thói ngang tàng mà không sợ ma quỉ hay sao? Có kiêng có cữ, chuyện dữ hoá lành. Thôi đi cho mau, về tới nhà mình sẽ uống trà pha gừng cho ấm bụng.

Tới nhà, cô Hai hỏi bà Hai Lầu:

– Em con có đỡ chút nào không?

– Hồi đỏ đèn có thầy Sáu ngoài ngã ba Trung Lương tới chích cho nó một mũi thuốc trị sốt rét và một mũi long não. Tuy nó thông hơi bớt ho nhưng vẫn nóng mê man.

Rồi bà than:

– Bịnh nầy là bịnh tà, trị thuốc đâu có ăn nhằm gì. Má đang suy nghĩ cách trục tà nhưng không biết đầu giây mối nhợ thì cũng như mò kim đáy biển mà thôi.

Cô Hai an ủi:

– Ðể chờ thuốc thấm rồi tính.

Cô hối hai cô Ngọc nấu trà pha lá gừng để mời hai cậu Kim rồi bước vô phòng thăm bịnh cậu Ba Ngọc Toản. Dưới ánh toạ đăng, cậu Ba nằm thiêm thiếp, mặt đỏ bừng đỏ ké, chiếc mền nỉ đắp ngang ngực.

Cô cùng hai cậu Kim nhẹ nhàng rút lui, trở ra trung đường. Bà Hai Lầu, bà Ba Các, thím Chín Hiệp cùng hai cô Ngọc chia nhau ngồi hai bên trường kỷ đợi khách. Mọi người vừa nhấp trà vừa nghe cô Hai Ngọc Dung thuật chuyện hai cục sáng trước ngôi mộ ông Bôn, bà Tố. Bà Hai Lầu nghe xong, nói:

– Chắc chắn đó không phải là oan hồn của ổng bả hiển hiện. Ðây chắc là có tinh, tà gì đó đến mộ họ khuấy phá. Mà họ đã đầu thai rồi, tinh tà phá sao được? Hay là ai đó dùng tinh ngải nghệ đến ếm hai ngôi mộ tiền kiếp của thằng Ba Ngọc Toản và con Hai Tố Trinh? Biết đâu tụi nó bịnh do cuộc ếm đó? Vậy thì thím Ba và mấy đứa con gái ở lại coi nhà, để tui cùng thím Chín Hiệp và hai cháu Lân, Luông đây tới đó coi sao.

Cô Hai Ngọc Dung thắp sáng hai cái đèn tán chai đưa cho hai cậu Kim. Mọi người tới gần gò mộ thì sương mù vừa tan loãng, trả lại nền trời xanh trong. Trăng sáng vằng vặc, lùm bụi cây cối tô những khối bóng đậm sắc nét trong biển trăng phiêu diễu. Bầy đom đóm đậu chi chít trên cây bần nơi xẻo rộng. Hai ngôi mộ nằm song song, màu vôi như trắng hơn lúc ban ngày. Hai cục sáng vẫn lập lờ lượn trước đầu mộ, lúc co lúc dãn, lúc bay phất phơ lúc lăn long lóc.

Bà Hai Lầu than thở:

– Bịnh trạng của hai đứa nhỏ là do hai cục sáng đó. Chắc là tinh ngải của Tà Noọt chớ chẳng sai.

Bà chắp tay niệm chú rồi hét:

– Ði chỗ khác cho mau!

Hai cục sáng cất lên khỏi ngọn cây hoá thành hai đạo hào quang bay mất. Bà Hai Lầu cầm đèn rọi sáng chung quanh hai ngôi mộ. Sau cùng bà nhổ được hai cọc sắt có vẽ bùa bằng sơn đỏ.

Khi bốn người về tới nhà thì cô Hai Ngọc Dung cho biết cậu Ba Ngọc Toản đã tỉnh, than khát nước rồi đói bụng.

Bà Hai Lầu vui vẻ:

– Thím Chín đã nấu sẵn soong cháo trắng, con hâm lại tô thịt kho tiêu cho em con ăn đỡ.

Hai cậu Lân, Luông từ giã ra về, hẹn sáng hôm sau qua thăm cậu Ba Ngọc Toản. Riêng cậu Ba sau khi ăn cháo xong, cảm thấy khoẻ khoắn nên ngủ một giấc rất thanh thản.

Canh năm hôm đó, cô Hai Ngọc Dung thức dậy để hấp bánh ướt tôm khô. Vừa làm cô vừa bần thần nghĩ tới những quái tượng xảy đến với cô suốt một tuần nay. Số là cô cứ đam mê si dại, tơ tưởng không ngớt đến ông đạo Hy Mã, nên dù cố gắng vận dụng lý trí cô vẫn không thể thoát khỏi tình cảm oan nghiệt kia. Ông đạo Hy Mã đúng là mẫu người từ trong phim ảnh, từ trong các cuốn tiểu thuyết diễm tình chui ra, làm sống lại nơi cô thuở mới lớn, mơ mộng một người chồng lý tưởng. Thầy giáo Hớn khôi ngô thì có mà hào hoa phong nhã thì không, bởi cậu là kẻ quen ăn chắc mặc dầy, không đua đòi các thú vui phù phiếm. Bởi đó thầy không nhen nhúm nổi một tia lửa yêu đương nào dù nhỏ nhoi trong tim cô. Lúc gặp ông đạo Hy Mã, dáng dấp hào hoa của ông khiến cô thêu dệt nhiều giấc mơ kỳ thú quanh ông. Cô buông mình vào cơn lốc đam mê sa đà để rồi ray rứt khổ sở. Nhưng từ một tuần nay, đêm nào ngủ cô cũng chiêm bao thấy ông đạo Hy Mã. Có giấc cô thấy cô vuốt ve ông, nhưng khi tay cô đụng vào thì da ông mất hết vẻ trơn mịn mà biến thành những vết nhăn. Có đêm cô gặp ông trong giấc chiêm bao quái đản. Ông ngồi tĩnh tọa trên chiếc chiếu đậu, tóc rụng dần, da thịt chương sình chảy nước vàng ướt cả chiếu rồi sau cùng ông biến thành bộ xương khô ngã lổng chổng. Hai đêm nay, trong cơn chiêm bao, cô thấy cô ôm siết lấy ông, tới chừng coi lại thì thấy mình đang ôm một thằng cùi lở lói, lầy lụa. Và giờ đây, mỗi khi khép mắt, cô thấy hình ảnh ông hiện ra rõ ràng, rành mạch. Ấnh mắt ông nghiêm khắc, vẻ mặt ông hầm hừ dọa nạt làm cô nổi gai ốc cùng mình.

Trong khi bánh ướt đang được hấp chín trong chiếc xửng tre, cô Hai Ngọc Dung nấu thêm cháo trắng, kho tiêu cá lóc và thịt nạc, chiên cá thác lác muối sả ớt, hâm các món chay… để dọn bữa ăn sáng. Bao nhiêu giấc mộng trong tuần nay đã cảnh tỉnh cô. Chốc nữa cô sẽ tụng kinh sám hối để dứt bỏ mối ẩn tình oan nghiệt kia. Chuyện đó thiệt không dễ dàng gì, nhưng cô phải cố gắng.

Khi cả nhà đang quây quần ăn sáng thì cậu Bảy Trinh Tường tới, mang theo hai trái đu đủ xiêm làm quà. Cậu kể:

– Hồi hôm cỡ 10 giờ tối, con Hai Tố Trinh đang nóng mê man bỗng dưng hết bịnh. Sáng nay nó ăn được cháo nên anh chị tui sai tui qua đây báo tin.

Cậu Ba Ngọc Toản vui vẻ:

– Cháu cũng thuyên giảm như em Tố Trinh vậy.

Bà Ba Các thuật tự sự hồi hôm cho cậu Bảy rõ. Bà Hai Lầu niềm nở:

– Vậy là thêm một lần nữa tai qua nạn khỏi. Vậy sẵn đây chú Bảy nó nhập bọn ăn sáng cho vui.

Cậu Bảy Trinh Tường cười rất tươi:

– Tui đã nhận lời ăn sáng bên ông bà nhạc rồi.

Cậu kiếu từ rồi quày quả qua xóm ống Cống. Xong bữa sáng, cô Hai Ngọc Dung súc miệng thay áo qua am tụng kinh. Hai cô Ngọc và thím Chín Hiệp dọn dẹp, rửa chén bát nồi niêu và lo sửa soạn bữa ăn trưa. Bà Ba Các coi việc bán trái cây, rau cỏ trong vườn và các thứ than củi, nước mắm cho bạn hàng đến mua lẻ.

Nắng đầu xuân chiếu sáng vườn, sân. Gió chướng lao xao thổi mang theo tiếng chim cu cườm, chim tu hú. Còn một tháng mười ngày nữa là Tết. Theo dọc bờ rạch, bờ kinh, vông đồng trổ bông đỏ thắm.

Cỡ mười giờ sáng, khi khóm đông hầu trong bồn nở hoa trắng, hoa hường, hoa đỏ thì bà Hương bộ Khâm đến chơi. Bà tìm bà Hai Lầu kể chuyện dan díu giữa con mình và con Phước Vân, thuật những tiết lộ của con Phước Vân về vụ trù ếm hai anh em Xã Huề. Bà kết luận:

– Tui không cho hai anh em tụi nó đi đâu hết. Cổng ngoài tui treo chiếc khăn thấm máu con chó đực của thằng Thường xuyên Bạc hôm chó bị thiến. Còn trước cửa buồng thằng Xã Huề và thằng Ba Hưởng, tui treo chiếc khăn thấm máu đường kinh của con dâu tui. Mai đây, bà Quản hạt sẽ động thủ.

Bà Hai Lầu dặn:

– Chị biểu hai cháu phải niệm thần chú Tiêu Tai Cát Tường và Quán ẽm Linh Cảm Chơn Ngôn cho siêng mới được.

Bà Hương bộ Khâm vừa về thì chừng giập bã trầu, cô Sáu Thọ Huệ và cô Hai Kim Chung từ chợ Mỹ Tho tới. Ði theo họ là một chàng trai người Pháp mảnh khảnh và một người đờn bà đeo kiếng mát thiệt lớn, đầu đội khăn san còn che dù tía như muốn giấu mặt. Cả bốn được mời qua am. Cô Sáu Thọ Huệ cung kính:

– Thưa am chủ, từ hôm anh bạn Lionel đây tới viếng am và được gặp ông đạo Hy Mã thì ảnh cảm thấy khoẻ hẳn ra, bịnh trạng biến mất. Nhờ đó ảnh sanh lòng sùng mộ ông đạo và nhứt là đạo Phật của bà con mình lắm. Hôm nay ảnh nhờ cháu đưa ảnh tới đây để cúng dường lạy Phật.

Nói tới đây cô Sáu liếc qua Lionel. Anh này chắp tay mô Phật. Bà Hai Lầu hoan hỉ:

– Lành thay! Lành thay!

Cô Sáu mở bóp, rút ra một cái bao thơ màu vàng, thưa:

– Ðây là món tiền cúng dường của ảnh. Xin am chủ cho phép ảnh và cháu cùng lạy Phật.

Lạy Phật xong, cô Sáu đưa Lionel qua phòng tiếp khách. ễ đây có cậu Ba Ngọc Toản châm trà đợi khách.

Vừa khi cô Sáu Thọ Huệ và Lionel đi rồi, người đờn bà mới chịu tháo kiếng má. Chị ta đẹp hiền dịu, gương mặt buồn buồn, cặp mắt như long lanh ngấn lệ. Cô Hai Kim Chung giới thiệu:

– Thưa bác Hai, đây là chị Tư Minh Nguyệt, vợ của bác sĩ Hữu Thạnh. Hôm nay chị Tư tháp tùng cháu tới đây để thưa chuyện với bác vì gia đạo chị đang hồi rối rắm…

Bà Hai Lầu cười:

– Tui không dè bà thầy thuốc đây và cô quen nhau.

Cô Tư Minh Nguyệt nhỏ nhẹ:

– Thưa am chủ, cô Hai đây là bạn thơ ấu của anh Tám Cao Phi Huỳnh, con nhà cậu của cháu. Hôm nay cháu tới đây nhờ am chủ giúp cho vong hồn người chồng trước của cháu thoát khỏi chuyện trù ếm của bà Quản hạt.

Bà Hai Lầu ôn tồn:

– Tui có biết chuyện đó. Vong hồn quan Kinh lý Thận có tới viếng tui, ngặt vì lưỡi ổng bị dán bùa nên ổng không nói gì được. Thầy tui là ông đạo Hy Mã cho biết hồi kiếp trước quan kinh lý và ông thầy thuốc có chuyện oan trái nên kiếp nầy quan kinh lý phải trả ác quả. Sau 49 ngày mới dùng thần chú Mật Tông để giải thoát vong hồn ổng được. Nay mới có hơn 40 ngày. Tuy nhiên mỗi ngày tui vẫn trì chú cho ổng.

Cô Tư Minh Nguyệt sụt sùi:

– Ðêm hôm kia, sau khi tụng kinh xong cháu đi ngủ. Thần thức cháu gặp một người đờn ông cỡ bốn mươi ngoài, mặt mũi khôi ngô, mặc áo bành tô trắng tra nút hổ phách chạm bông nổi. Ông ta khuyên cháu nên xa lánh gia đình ông bà Quản hạt Thất, cầu siêu cho chồng cũ của cháu nhưng đừng nghĩ tới việc báo cừu rửa hận. Cháu càng nghĩ càng đau khổ. Không ngờ trong hai kiếp làm người, cháu vô tình để cho bác sĩ Hữu Thạnh và quan kinh lý Thận hãm hại lẫn nhau để chiếm đoạt cháu. ìi cái vòng oan oan tương báo nầy may có ông đạo Hy Mã soi sáng. Rồi đây, sau khi giải thoát vong hồn chồng cũ xong, cháu phải ly dị chồng mới để rồi nương nhờ cửa Phật, chấm dứt kiếp hồng nhan họa thủy cho rồi.

Bà Hai Lầu nhìn cô Tư Minh Nguyệt. Cô mặc áo lụa mỏng màu đen, bên trong lót áo màu xanh đọt chuối, đeo một sưu bộ ngọc thạch xanh lặt lìa. Cô thoa son màu hường dợt, giồi phấn sương sương, dậm phấn hồng phơn phớt, tỉa chơn mày hơi mỏng và kẻ viết chì đen, móng tay tô màu hường tươi. Cô diện chăm chút nhưng không loè loẹt, lố lăng. Nét đoan trang thùy mị làm cô thêm thanh cao, kiều diễm. Vậy mà cô trải qua hai đời chồng rồi đó. Người như cô thiệt khó mà đi tu, vì ánh mắt cô ướt rượt như sẵn sàng tuôn giọt vắn giọt dài. Cô còn phải lăn lóc với cuộc phong trần để trả cho dứt mối oan nghiệt éo le từ tiền kiếp.

Bà Hai Lầu an ủi:

– Ðể trọn 49 ngày, tui sẽ dùng chú thuật đưa vong linh quan kinh lý ra khỏi tĩn dán bùa. Xin cô an tâm. Chừng đó, chắc chắn quan kinh lý sẽ hiện hồn báo mộng cho cô.

Khách khứa vừa ra về, bỗng cậu Tư Kim Luông hớt hơ hớt hải từ xóm ống Cống chạy tới:

– Thưa bác Hai, chẳng hiểu cớ nào mà anh Bảy Trinh Tường đang ngồi ăn sáng với cả nhà cháu, bỗng té lăn ra kêu la thống thiết. Ðó rồi ảnh ho như xé phổi và thổ huyết dầm dề.

Bà Hai Lầu liền chụp chiếc nón lá lên đầu rồi cùng cô Hai Ngọc Dung bương bả qua bên nhà bà Hai Dần. Lối xóm bu đông nghẹt. Cậu Bảy Trinh Tường nằm thiêm thiếp trên bộ ngựa bằng gỗ giáng hương. Ông Hai Dần đang hơ lửa chiếc khăn lông trên mẻ lửa than để chườm lên ngực cậu. Cậu Ba Kim Lân thì đổ từng muổng nước gừng vô miệng cậu. Bà Hai Dần và cô Hai Kim Ðiệp chỉ đứng xớ rớ, niệm Phật liên tu bất tận.

Bà Hai Lầu nhìn gương mặt xanh như tàu lá của cậu Bảy, chắc lưỡi:

– Thôi rồi, cậu Bảy nầy bị thư rồi!

Cô Hai Kim Ðiệp run lập cập:

– Cháu cũng nghĩ vậy, nhưng cháu dùng bùa Lỗ Ban để trục thư ra mà chẳng ăn thua gì.

Bà Hai Lầu gật đầu:

– Người ếm này là phù thủy cao tay lắm, bùa Lỗ Ban của cháu mà nhằm nhò gì!

Bỗng cậu Bảy mở mắt rồi co quắp người lại, một đợt máu tươi trào khỏi miệng cậu. Cậu rên rỉ:

– Trời ơi, phổi tui sao đau rát quá! Chắc tui chết mất!

Cậu lịm thiếp đi. Cô Hai Kim Ðiệp ré lên khóc hu hu, van vỉ bà Hai Lầu:

– Cháu trăm lạy bác, xin bác ra tay cứu sống anh Bảy cháu. Nếu ảnh có mệnh hệ nào, cháu làm sao sống nổi!

Bà Hai Lầu day qua bà Hai Dần, hỏi:

– Hôm nọ chị kể rằng ông đạo Hy Mã đến viếng nhà chị, có cho chị một chiếc khăn, dặn hễ nhà có xảy chuyện thì đốt khăn ra tro hoà nước uống. Chị còn nhớ không?

Bà Hai Dần tỉnh ngộ, kêu lên:

– Ðúng vậy. Ai dè tui quên lửng đi!

Bà lật đật bắc ghế, tìm chiếc hộp gỗ huỳnh đàn đặt trên bàn thờ hai bà Mẹ Sanh Mẹ Ðộ. Trong hộp là một chiếc khăn vuông vức bằng lụa bạch, có thêu chữ vạn bằng chỉ vàng ở chéo khăn. Bà Hai Lầu cầm khăn, đọc thần chú rồi bật diêm quẹt lên đốt. Sau cùng bà gom tro hoà với nước mưa, vạch miệng cậu Bảy để đổ vào. Cậu nuốt từng ngụm nhưng vẫn nằm yên không cục cựa. Mọi người xúm lại vừa bàn tán vừa theo dõi. Khoảng chừng tàn nén nhang, bà Hai Lầu kêu lớn:

– Bà con coi kìa!

Từ lỗ mũi cậu Bảy, những tia những sợi như khói đen bốc ra. Bà Hai Lầu đưa tay vớt từng tia từng sợi. Sau cùng bà xoè bàn tay ra. Mọi người xúm lại coi cho rõ. Thì ra đó là những sợi tóc ngắn cỡ lóng tay. Bà Hai Lầu giải thích:

– Họ thư tóc vào phổi cậu Bảy đó đa! Thôi, giờ đây kể như tai qua nạn khỏi rồi.

Bà Hai Dần hối hai thằng con đỡ cậu Bảy vô buồng cho kín gió đoạn mài quế Trà Bồng cho cậu uống. Sau đó mọi người tuần tự giải tán. Ông bà Hai Dần mời bà Hai Lầu và cô Hai Ngọc Dung ở lại uống nước. Ông Hai Dần than thở:

– Qua vụ vừa rồi, chẳng biết họ có thư thằng Bảy nữa hay không đây!

Bà Hai Lầu ngẫm nghĩ:

– Tro chiếc khăn lụa bạch kia sẽ làm cho mọi thư ếm, bùa ếm trở thành vô hiệu nghiệm, xin anh chị chớ lo. Riêng tui, tui lo từ đây gia đình chị Giáo Toàn, gia đình anh chị Hương bộ Khâm, gia đình anh chị đây và bên tui khó mà an ổn với họ.

Cô Hai Kim Ðiệp vô buồng, đến bên người yêu han hỏi:

– Anh thấy trong mình ra sao?

Cậu Bảy Trinh Tường mở mắt, mỉm cười:

– Tuy thổ huyết nhưng anh không thấy mệt nhọc chút nào.

Cậu cầm tay cô, thuật lại vận sự hai cuộc tiếp xúc với cô út Thiên Kim cho cô nghe. Cậu kể tới đâu, cô khóc tới đó và chỉ biết úp mặt vào ngực người yêu.

Chương 11

 

 

Từ khi cô Tư Minh Nguyệt bỏ về nhà cha mẹ và tiến hành thủ tục ly dị thì bác sĩ Hữu Thạnh đâm ra buồn chán. Ông tìm cách bán căn nhà ở Sài gòn và quyết định về Mỹ Tho mở phòng mạch, cốt để gần gũi gia đình. Gặp lúc luật sư Hữu Vượng thất tình, ông mua một căn nhà bánh ếch ở gần bến tàu, vừa dùng làm phòng mạch, vừa làm nơi cư ngụ của hai anh em. Từ đó hai anh em lấy việc chơi bời để giải sầu. Trong tứ đổ tường thì họ chuộng nhậu nhẹt và chơi bời, nhưng nhậu nhẹt thì chỉ cầm chừng, còn chơi gái thì bạt mạng, nhất là cỡ gái còn vị thành niên. Ông anh đang bỏ tiền để tìm cơ hội phá trinh cô Tám Hồng Hoa, con chú Bảy Viêm ở Vòng Nhỏ. Còn ông em thì muốn xỏ lỗ má con chị Chín Bạch Mai ở gần chùa Vĩnh Tràng, đứa con gái tên Bạch Huệ mới mười lăm tuổi, hãy còn là xử nữ. Song song với thú chơi ác đức đó, hai cậu con của ông bà Quản hạt Thất còn chuộng những cách hành dâm cầu kỳ phức tạp.

Một hôm nọ, lúc vừa chạng vạng, cả hai thả bộ xuống Hàng Còng để dạo mát và kiếm gái. Thiệt tình họ chẳng hy vọng gì gặp thứ sạch nước cản để đem về hú hí cho qua buổi tối thứ bảy nhàn rỗi, nhưng ngắm xem các ả lập lượn ở bờ rào, dưới mái hiên nhà thổ cũng là cái thú. Vui chơn, họ đi về phía Ðất Thánh đến am cô Sáu, đến các sở rẫy trồng bông huệ. Lúc đó trăng rằm đã lên đến ba sào, nằm vắt vẻ trên hàng cây trứng cá. Bên đường, một ngôi nhà bánh ếch thấp thoáng sau lớp hàng rào xương rồng và cây độc trụ. Cổng rào sơn trắng, có hai bụi trúc trồng hai bên. Trong nhà ửng sáng ánh đèn.

Từ trong sân đi ra một mỹ nhơn tay xách lồng đèn. Nàng mặc áo bà ba, quần nhiễu trắng, chơn đi đôi dỏn nhung đen thêu cườm ngũ sắc, đeo hột xoàn lẫn ngọc trai trắng sáng. Mỹ nhơn ỏn ẻn cười tình tứ, liếc thiệt lẳng:

– Tui trông hai thầy coi bộ quen quen.

Luật sư Hữu Vượng lẹ miệng, trổ mòi dê đực ra:

– Tui cũng trông cô quen quen, nếu không kiếp nầy thì chắc kiếp trước.

Mỹ nhơn cười phơi phới:

– Thôi tui nhớ rồi. Vậy hai thầy là thầy kiện Hữu Vượng và thầy thuốc Hữu Thạnh đây mà! Nửa tháng trước, tui đi dưng hương đằng chùa Vĩnh Tràng có được diện kiến quí thầy.

Quả đúng mỗi kỳ rằm, Hữu Thạnh và Hữu Vượng đều lấy cớ đi hành hương để săn gái, nhưng họ không nhớ rõ chị đờn bà xinh đẹp có vẻ đĩ thõa nầy là ai. Nhưng cần gì, họ gặp được người đẹp mà còn phong lưu tình tứ thì có khác nào chuột gặp nếp thơm, mèo gặp mỡ béo. Bác sĩ Hữu Thạnh hỏi:

– Gặp buổi thiên quang vân tĩnh như vầy sao cô không dạo một vòng để ngắm trăng trong, hứng gió mát với người ta?

Mỹ nhơn trề môi, liếc dài sọc:

– Người ta nào? Tui vốn sợ ban đêm đi ra ngoài đường ngoài sá. Ông bà mình thường nói đi đêm có ngày gặp ma, mấy thầy quên rồi sao? Thôi sẵn đây, mời hai thầy ghé vô nhà tui, tui sẽ châm một bình trà nóng, bày một dĩa bánh ngon cho hai thầy thưởng thức. Mình vừa dùng trà bánh, vừa đàm đạo chuyện nhơn tình ấm lạnh, gẫm có thú vị hơn là đi ta bà để rồi tê chưn mỏi cẳng.

Hai anh em đề huề vào nhà người đờn bà duyên dáng hữu tình kia. Cũng như mọi nhà trung lưu khá giả khác, gian phòng khách bày liễn ngói sơn son thếp vàng, bàn ghế cẩm lai. Tuy vách ván bổ kho nhưng được quét nước sơn màu xanh da trời, cột bằng gỗ căm xe.

Mỹ nhơn vào trong, lát sau bưng mâm trà bánh ra ân cần mời mọc. Nàng nói chuyện pha lửng rất mặn mòi, điệu lả lơi rất khích dục. Bác sĩ Hữu Thạnh trong lúc chuyện trò, đặt tay vào bắp vế non của nàng nhưng nàng giả bộ không hay không biết. Luật sư Hữu Vượng thả lời ong bướm luông tuồng với nàng, nàng ứng đáp thiệt hào hứng.

Lúc bấy giờ trăng đã lên cao, lồng qua cây nhãn trước sân. Hai anh em cùng xáp lá cà, ôm mỹ nhơn hun hít nựng nịu rồi đòi giao hoan. Nàng làm bộ thở dài:

– ụ hị! Tấm thân tui liễu yếu đào tơ, mấy người cùng đòi mưa dập gió vùi thì tui làm sao chịu nổi!

Nói vậy nhưng cô vẫn đưa cả hai vô buồng. Cả ba cùng hành lạc cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời. Qua đến hiệp thứ ba thì cả bọn mệt mỏi, lăn ra ngủ.

Tờ mờ sáng hôm sau, luật sư Hữu Vượng thức dậy trước. Ông ta ngạc nhiên tột độ khi thấy gian phòng ngủ sang trọng hồi tối hôm trước biến đâu mất, chỉ còn là một gian phòng bỏ hoang lâu ngày, vách sơn lem luốc, giường ngụ xịch xạc. Mùng tuyn, nệm drap trắng tinh, gối nhiễu thêu chim bướm, mền nỉ đỏ cũng biến đâu mất. Ông thấy mình và người anh nằm trên chiếc vạt tre, trải vật chiếu đậu rách te tua. Và trời đất quỉ thần ơi, mỹ nhơn nằm giữa hai anh em chỉ là cái xác chết lạnh ngắt! Ông đánh thức anh dậy, cả hai mặc quần áo vào rồi chuồn lẹ khỏi căn nhà mái dột vách thưa nằm giữa khu vườn đầy lau sậy và những cây hoang dại kia.

Khi về tới nhà, hai anh em tắm rửa kỳ cọ thiệt kỹ, đem áo quần giày vớ ra đốt sạch. Vậy mà cảm giác kinh tởm vẫn còn đeo đẳng họ suốt ngày hôm đó.

Bác sĩ Hữu Thạnh liền lân la qua xóm Hàng Còng để dọ tin thì thâu thập một mớ chi tiết của vận sự đêm gặp thây ma như sau: Số là gần am cô Sáu có ngôi nhà của cô Hai Túy Hương. Cô nầy bị một gã công tử bột ở Chợ Gạo dụ dỗ, đến lúc cô mang bầu thì hắn bỏ qua Tây du học. Buồn giận, cô treo cổ tự ải. Từ đó cô trở thành linh quỉ, thường dụ dỗ khách tìm hoa dạo mát ban đêm. Tệ hơn nữa, con quỉ đó thường nhập vào xác chết đờn bà con gái vừa từ trần để hành dâm, cho nên phụ nữ trong vùng vừa từ trần là thân nhân phải cho tẩm liệm gấp. Và khi xác họ nằm trong hòm rồi thì thầy pháp đến dán bùa ngay. Có vậy con quỉ đó mới không thể nhập vào xác chết để bày chuyện dâm bôn ô uế được.

Nhưng rủi thay, cô Tư Bột, con chú Cai tuần Xóc, vì vướng bịnh cùi nên mua thuốc phiện trộn giấm thanh tự tử. Cả nhà khám phá ra cái chết của cô thì lúc đó trời đã chạng vạng, thôn xóm vừa lên đèn. Chú Cai tuần Xóc không dám đóng hòm cho con gái vì thôn xóm cữ tiếng búa đập vào săng lúc đêm hôm. Cả gia đình thay phiên nhau ngồi canh xác cô Tư, sợ con quỉ nhập vào. Vậy mà nữ quỉ Hai Túy Hương chờ cho họ mệt mỏi, thổi một hơi gió lạnh khiến họ ngủ mê man để nó nhập vào xác cô Tư Bột rồi trốn trong bưng trong láng suốt hai ngày, hễ đói là nó vô xóm bắt gà vịt ăn bộ đồ lòng và uống huyết tươi rồi trở về nhà mình ở Hàng Còng để rù quến trai tơ. Hễ nhập vào xác người nào là nó lập tức biến hoá thành gương mặt nó, đẹp sắc sảo và mặn mòi.

Thâu thập ngần ấy tin tức, bác sĩ Hữu Thạnh kinh hoảng rụng rời. Té ra trong đêm hôm đó, hai anh em ông đã giao hoan với xác chết một cô gái cùi. Lập tức ông kể cho người em hay tự sự rồi cả hai qua bên cù lao Rồng để chích thuốc ngừa. Nhưng từ đó luật sư Hữu Vượng cứ lửng đửng lờ đờ, ngồi đâu nói lảm nhảm đó.

Xế thứ bảy tuần đó, bác sĩ Hữu Thạnh chở em về Bến Chùa thăm cha mẹ. Bà Quản hạt Thất mừng lắm. Bà đã mua sẵn bốn con cá chái thiệt mập thiệt tươi, mỗi con mang hai thỏi trứng lớn cỡ ngón tay cái. Bà truyền lịnh cho con Thiệp kho mẳn cá chái với cà chua, rau cần tàu để chan bún, đệm rau xắt ghém.

Thấy Hữu Vượng mặt mày ngơ ngáo như kẻ khật khùng, bà liền hỏi:

– Nè Hai, em con có việc gì mà coi nó tiều tụy chao vao, mặt mày sật sừ sật sưỡng vậy?

Hữu Thạnh nói trớ:

– Từ khi má con cô Sáu Thọ Huệ bỏ nó, nó rầu buồn lung lắm. Con một mặt an ủi, một mặt săn sóc thuốc men cho nó nên nó đỡ bộn rồi đó.

Rồi ông nhìn sắc mặt buồn nghiến buồn đậm của cô út Thiên Kim, hỏi nhỏ mẹ:

– Con út sao coi đau khổ như thất tình. Chuyện gì vậy má?

Bà Quản Thất lấp liếm:

– Thằng chồng chưa cưới của nó không được khoẻ nên nó lo lắng vậy mà.

Bác sĩ Hữu Thạnh chợt nhớ ra:

– Thằng Oánh coi bộ có vẻ khùng khùng. Chẳng hay nó vướng nhằm bịnh gì vậy má? Thấy cặp mắt nó đỏ ngầu mà con phát sợ.

Bà Quản chột dạ:

– Chắc là nó đau mắt. Bữa nào rảnh, con út sẽ đưa nó lên Sài gòn tìm bác sĩ nhãn khoa điều trị cho nó.

Riêng cô út, vừa nấu nồi chè thưng trên bếp cô vừa nghĩ tới vụ chiếc khăn tay của ông Ðạo Hy Mã đã trục hết chùm tóc thư trong hai lá phổi của cậu Bảy Trinh Tường.Vậy là cô hết phương trả thù rửa hận. Khi hai anh em Tà Noọt trở lại thăm, cô đã đem tự sự ra kể với họ. Nghe tới đâu, mặt họ tái ngắt chừng đó. Sau đó, họ nhứt định thu xếp ra về. Tà Noọt bảo:

– Ông Ðạo Hy Mã là bực chơn sư. Thiên Ma Ba Tuần trên từng trời Tha Hoá Tự Sự có xuống cũng chẳng làm gì được ổng huống gì tụi tui!

Ðám hỏi của cậu Bảy Trinh Tường tổ chức rất lớn. Ông Ðốc học Thông, ông Laporte, cô Hai Kim Chung, cô Sáu Thọ Huệ vốn quen biết rộng nên bữa tiệc có nhiều khách sang tới dự. Cô Hai Kim Ðiệp ăn diện theo kim thời, vàng đeo ngọc khảm không thua con gái ông phủ, ông huyện. Ðiều đó làm cô út Thiên Kim đau lòng lắm. Ði đâu cô cũng nghe thiên hạ tán tụng cô Hai Kim Ðiệp nhan sắc vượt bực, xứng đáng là một bực mỹ nhơn ở đất Ðịnh Tường nầy. Vậy là từ đây, cô không còn cách nào dan díu với cậu Bảy như cô hằng hy vọng; cô cũng không còn cơ hội nào để thực hiện cái mộng ăn không được thì đập đổ cho tan nát. Bởi cô còn thương nhớ cậu Bảy nên cô càng buồn rầu tức tối với mối ẩn tình khạc không ra mà nuốt cũng chẳng lọt kia.

Ðã không toại ý nguyện về cậu Bảy Trinh Tường, cô út Thiên Kim còn lo âu về bịnh trạng của kỹ sư Oánh. Từ nửa tháng nay, cô đã ngưng việc bỏ bùa mê cho ông ta rồi, nhưng cớ sao mắt ông vẫn cứ đỏ, bộ dạng như kẻ bị ma dựa quỉ ốp. Chu choa ôi, nếu cưới cô rồi mà ông ta vẫn giữ cặp mắt như vầy thì làm sao cô dám gần gũi, âu yếm ổng? Bà Quản Thất cũng lo sợ lung lắm, tìm cách giải bùa cho thằng rể tương lai của mình mà không xong. Lẽ nào đã thấm bùa thì mắc kẹt luôn, không ai có thể tháo gỡ hay sao?

Ðã vậy tối hôm qua, cô út Thiên Kim nằm chiêm bao thấy một ông già đầu bịt khăn đóng, mặc áo dài the đen, ngực đeo thẻ bài ngà, mày lưỡi mác, mũi bự hình trái mận, mắt có túi. Nét mặt ông ta đượm đau khổ tức tối. Ông điểm mặt cô, mắng:

– Tao là ông Huyện Thảo đây. Mầy giống con gái mẹ mầy, lòng dạ ác độc rắn rít. Mầy đã phụ rẫy cậu Bảy Trinh Tường để lấy chồng sang hòng dúc dắc với xóm làng mà còn manh tâm hại người. Ấc độc như má con tụi bây thì ngày trả quả sẽ không xa đâu. Liệu mà giữ mình!

Xế nay, bà Quản hạt Thất thấy mâm cơm chiều chỉ có món cá chái nấu ngót chan bún thì lỏng chỏng quá nên sai con Hiếu đun nước làm vịt để nấu thêm món cà ri. Bác sĩ Hữu Thạnh dọn về gần nhà nhưng gia đạo rối rắm nên bà không vui. Vong hồn kinh lý Thuận tuy còn trong tĩn dán bùa nhưng biết đâu có ngày bà sơ xuất, để vong hồn kia lọt ra khỏi tĩn. Ðã vậy, nàng dâu bà bỏ về Cai Lậy, một hai đòi ly dị. Cô đã bắn tiếng với bác sĩ Hữu Thạnh: “Tui chịu nhận mọi thiệt thòi để được ly dị. Nếu anh không chịu, ra trước toà tui sẽ khai là tui với anh không những chẳng hợp tâm hợp tánh mà còn không hợp cả về đường ân ái nữa. Tới chừng đó thì kỳ cục lắm đó!”

Chưa hết, ông Quản Thất đi bao kiện, bị thất kiện tốn hết một ngàn đồng mà còn mang tai mang tiếng. Hiện giờ ông vẫn nằm dàu dàu trong buồng. Ðã vậy sáng nay, bà đi ra chợ Mỹ Tho thăm thằng rể tương lai, lúc ghé tiệm bán đèn măng-sông thì thấy hai cặp trai gái bước ra. Khỏi cần nói bà cũng biết đó là cặp Richard Laporte và Sáu Thọ Huệ cùng cặp Chánh và Hai Thoại Hảo. Dẫu biết mẹ con cô Sáu nhả Hữu Vượng ra là điều bà mong muốn, nhưng thấy họ ăn mặc sang trọng, phong thái nhàn nhã, bà cũng phát ngứa gan ngứa phổi. Hèn gì thằng con bà chẳng buồn rầu cho được!

Bữa ăn tối hôm đó thiệt buồn thảm. Bác sĩ Hữu Thạnh khuyên em đi tắm rồi lên lầu nghỉ ngơi, xong ông xuống phòng khách để hầu chuyện cha. Riêng bà Quản thì tắm rửa sạch sẽ, chải đầu bới tóc cho gọn rồi xuống thăm con Phước Vân. Vừa thấy mí mắt sưng bụp và viền mắt đỏ hoe của nó, bà quở:

– Lóng rày mầy cứ khóc hoài. Tao nghi không phải vì tủi thân bịnh hoạn mà mầy khóc đâu, chắc là có ẩn tình chi đây!

Con Phước Vân cười gượng:

– Hễ nằm một chỗ, con cứ nghĩ đủ thứ chuyện rồi tự nhiên nước mắt trào ra chớ con nào muốn khóc lóc.

Bà Quản dặn:

– Chốc nữa, con Hiếu đem chè thưng cho mầy ăn. Nhớ uống mỗi đêm một viên Cửu Long Hoàn, đừng quên.

Lời dặn ân cần và chí thành của bà Quản làm con Phước Vân cảm động, khóc già hơn. Bà Quản Thất lắc đầu bước ra ngoài. Chính ra lúc nầy bà cũng xúc động bồi hồi nhưng bà không muốn cho nó thấy. Bà đến thăm cô út Thiên kim. Cô đang thêu đục lỗ chiếc áo gối tai bèo dưới ánh tọa đăng có cái chụp màu ngà. Bà đến ngồi cạnh cô, khuyên nhủ:

– Từ đây về sau con nên quên thằng Bảy là hơn. Má mới đi thăm thằng Oánh, thấy nó đỡ nhiều lắm rồi. Bên đàng trai đang chuẩn bị đám cưới vào tháng giêng năm tới đó.

Cô út xụ mặt:

– Không lấy được cậu Bảy, đối với con, lấy ai cũng vậy thôi. Ðời con chẳng còn hứng thú gì nữa kể từ đây!

Bà Quản hạt chau mày:

– Khéo nói xàm thì thôi! Thằng Oánh sánh gấp trăm lần thằng Bảy Tường, con đừng có dại dột thả mồi bắt bóng!

Ðêm tối bao la. Ðầu đêm, cây nguyệt quới tỏa hương bát ngát. Xa xa, trong xóm vẳng tiếng chày quết bánh phồng cắc cum. Con trăng hạ huyền hơi mòn hơi méo treo lạnh lùng trên nóc lẫm lúa.

Luật sư Hữu Vượng uống hai viên thuốc an thần xong, vào giường đợi giấc ngủ. Ông cứ nằm lăn trở mãi cho tới giữa canh hai mới chợp mắt. Trong mơ, ông thấy cô Hai Túy Hương lượn qua lượn lại, cười ngắc nga ngắc nghẻo:

– ế! ế! Hết gái sạch sẽ rồi sao mà anh em tụi bây xỏ lỗ cô gái cùi? Bởi tụi bây làm nhiều chuyện ác đức nên tao trừng trị tụi bây cho bõ ghét. Ðể rồi mầy coi, anh em bây sẽ điêu đứng, sống không được mà chết cũng không xong, thiệt khó kham khó nhẫn!

Luật sư Hữu Vượng giựt mình thức giấc, mồ hôi vã ra như tắm làm ướt bộ pyjama bằng lụa lèo màu hột gà. Từ đó ông cứ thao thức cho tới sáng bét, tâm thần dao động dữ dội. Riêng bác sĩ Hữu Thạnh đêm đó cũng nằm chiêm bao gặp vong hồn kinh lý Thận:

– Bạn đã giết tui để đoạt vợ tui, còn tàn nhẫn để mẹ bạn bắt nhốt hồn tui nhốt trong tĩn. Nay tui đã được bà Hai Lầu phóng thích, lẽ ra tui phải báo cừu rửa hận nhưng biết được hồi kiếp trước tui đã từng gây oan trái cho bạn nên thôi. Kể từ nay, giữa tui với bạn không ai còn nợ nần gì ai nữa. Tui sắp đi đầu thai rồi, chỉ khuyên bạn nên tỉnh ngộ quay về chánh đạo, bình tâm trả quả trong tương lai không mấy xa xôi. Thôi, tui chỉ khuyên bạn có bấy nhiêu lời…

Tiếng đập cửa làm bác sĩ Hữu Thạnh giựt mình tỉnh giấc. Ấnh nắng mai chiếu qua khe cửa lá sách rực rỡ. Bà Quản hạt gọi:

– Con đã thức chưa?

– Con vừa thức, để con mở cửa.

Cửa vừa mở, bà Quản tuôn vô, hớt hơ hớt hải báo tin:

– Con ơi, cái tĩn giam vong linh kinh lý Thận bể nát rồi, bùa chú văng tứ tung. Không hiểu rồi đây chuyện gì sẽ xảy ra?

Bác sĩ Hữu Thạnh thuật lại giấc chiêm bao, bà Quản tuy hết kinh hoảng nhưng lộ vẻ suy nghĩ lung lắm. Sau đó hai mẹ con bước qua phòng ăn. Ông Quản hạt Thất, luật sư Hữu Vượng và cô út Thiên Kim đã ngồi sẵn nơi bàn. Mâm cháo gà và hai dĩa bàn đựng gỏi gà trộn bắp chuối, rau dăm được bưng lên, khói bốc nghi ngút. Mặt mày Hữu Vượng có vẻ bào xào mệt mỏi chen lẫn lo sợ. Hữu Thạnh hỏi em:

– Em ngủ ngon chớ?

– Em ngủ được năm tiếng đồng hồ, tới 4 giờ sáng em thức luôn.

Ông Quản Thất khuyên cậu thứ nam:

– Con nên tạm đóng cửa văn phòng về đây tịnh dưỡng ít lâu. ễ đây có ba má và con út sẽ chăm sóc con châu đáo hơn.

Bác sĩ Hữu Thạnh tán thành:

– Lời ba dạy rất phải. Em nên tịnh dưỡng ít lâu.

Luật sư Hữu Vượng nói xuôi:

– Lời ba và anh dạy lẽ nào con không vưng.

Sau khi bác sĩ Hữu Thạnh lái xe về Mỹ Tho rồi, bà Quản dặn cô út nấu món canh rau cao kỷ với thịt gà cho cả nhà ăn giải nhiệt. Rau cao kỷ rất tốt cho giấc ngủ, bà nhắc đi nhắc lại điều này khi ngó chăm chăm vào gương mặt chao vao hốc hác của thằng thứ nam mình.

Luật sư Hữu Vượng hễ cứ chợp mắt là thấy cô Hai Túy Hương hiện về. Mười lần đủ chục, ông thấy cô Hai cõng theo xác cô gái cùi, tay chơn lở lói, nước vàng chảy nhễu nhão. Ông hét lên, tinh thần khủng hoảng, não cân căng thẳng, rồi ông cứ lầm bầm luôn miệng, chốc chốc lại khóc bù lu bù loa. Bà Quản hạt Thất tái mặt bảo chồng:

– Không chừng nó nổi điên!

*

*  *

Ngày rằm tháng chạp, ông Ðốc học Thông dắt vợ con qua am bà Hai Lầu dưng hương lạy Phật và xin bùa xin niệc. Bà Ðốc đem tặng nào bánh phồng nếp, bánh phồng khoai, bánh tráng nước cốt dừa, bánh tráng ngọt rắc mè trắng… Bà Ba Các vui lắm, nhứt định cầm gia đình ông bà Ðốc học Thông ở lại dùng cơm trưa.

Bà Hai Lầu đã cho bên bà Giáo Toàn làm đám hỏi. Ông Hai Dần đã dọ chỗ lập trại cưa. Cô Hai Kim Ðiệp mang về nhà chồng một mớ nữ trang chạm trổ kiểu kim thời đẹp sắc sảo. Cô trổ tài nữ công phụ xảo khéo léo làm lé mắt gia đình nhà chồng nên được chồng cưng lắm. Ông bà Ðốc học Thông cho dọn một căn phòng giáp lẫm lúa, cách ngôi từ đường một cái sân lót gạch tàu cho hai vợ chồng cô. ễ đó, cô có thể tự do cho cuộc sống riêng tư sau một ngày chung đụng với mọi người dưới mái từ đường.

Nhà ông bà Hương bộ Khâm tuy khá giả, nhưng mấy tuần nay họ ở trong tình trạng ứng chiến với bùa phép của Tà Noọt nên không được vui. Tuy nhiên, bà Hương bộ Khâm vẫn lui tới am làm công quả đều đều.

Mấy bực trưởng thượng, trí thức trong vùng tiếp xúc với thầy giáo Hớn, thấy thày có kiến thức sâu sắc về xã hội, về sự phối hiệp giữa đời sống và tôn giáo nên họ xúi thầy viết các bài xã luận để gửi đăng các báo. Từ hơn một tháng nay, các bài thầy viết liên tục xuất hiện trên báo, được các bực trí thức ở tỉnh Mỹ hoan nghinh lắm. Bởi đó, hễ mỗi thứ năm hay chúa nhứt, nhà thầy khách khứa lui tới nườm nượp.

Cô Hai Ngọc Dung rất tự hào về chồng chưa cưới của mình, song cô vẫn không thấy ở thầy giáo Hớn một chút gì thắp được trong tim cô ngọn lửa đam mê. Cô chỉ kính phục thầy mà thôi nhưng cô tự nguyện sẽ luôn làm mọi cách để trưởng chí thầy.

Cô Sáu Thọ Huệ, cô Hai Kim Chung, cô Tư Minh Nguyệt lóng rày tới lui thân thiết với nhau lắm. Họ đi đi về về Cai Lậy, Mỹ Tho hà rầm. Cô Hai Kim Chung khoe với bà Hai Lầu:

– Quan Chánh tham biện sắp về Pháp. Úng tính giới thiệu cháu cho một quan Chánh tham biện khác sắp đổi về đây nhưng cháu từ chối. Dì biết tại sao không? Bởi cháu đang lập tâm hườn lương đó dì. Anh Tám Cao Phi Huỳnh hứa sẽ cưới cháu. Cô Tư Minh Nguyệt cứ nói vô nên bên chị em của ảnh cũng có mòi xiêu lòng. Chèn ơi, một khi con Hai Kim Chung nầy trở thành ma-đàm Cao Phi Huỳnh rồi thì dĩ vãng nhuốc nhơ của nó chẳng những được rửa bằng sà bông sả sạch trơn mà còn được xịt dầu bông quế bông lài thơm phức nữa dì ơi!

Cô còn kể thêm:

– Cô Tư Minh Nguyệt sắp ra toà để xé hôn thú với bác sĩ Hữu Thạnh rồi. Lionel thường theo cháu đi Cai Lậy nên có dịp chuyện vãn và trò chuyện với cô Tư luôn. Hắn muốn cưới cổ, cổ cũng có mòi chịu nhưng lại sợ miệng đời dị nghị. Cháu cứ đốc thúc cổ ưng hắn cho rồi. Hắn có cổ phần trong sở trồng nho bên Pháp, giàu lắm chớ không chơi đâu. Cô Tư đã trải qua hai đời chồng, khó mà gặp một ông chồng An Nam thuộc thành phần xứng đáng với cổ.

Gia cảnh bà Hai Lầu êm ấm lắm, nhưng nhìn cậu Ba Ngọc Toản, ai cũng thấy cậu kém vui dù cậu học chiếm ưu hạng trong lớp, dù người vợ sắp cưới của cậu được mọi người quí mến. Giờ đây ngồi hầu chuyện với ông bà Ðốc học Thông, cậu có vẻ bần thần nghĩ ngợi, ai hỏi cậu mới trả lời cầm chừng. Số là từ ba đêm qua, đêm nào cậu cũng nằm mơ thấy ma quỉ đến quấy phá. Bọn họ gồm ba cặp. Một cặp tuổi cỡ ba mươi, ăn mặc lam lũ như người Triều Châu sống bằng nghề làm rẫy. Người chồng ốm yếu khô khan, người vợ mập mạp nhưng da thịt bủng beo. Cặp thứ nhì tuổi trung niên, nói tiếng Huế, người chồng cao lỏng khỏng, da mặt vàng như đau gan; người vợ thì ốm còn da bọc xương, mặt xanh lè xanh lét như bị sốt rét kinh niên. Cặp thứ ba là người Tiền Giang khoảng sáu mươi, dáng dấp khoẻ mạnh nhưng khuôn mặt thảng thốt, cái nhìn dáo dác. Ðêm đầu, cả ba cặp xúm lại níu kéo cậu, khóc lóc rên rỉ:

– Cứu ba má với nào, ba má đang khổ sở, con nỡ nào làm ngơ cho đành?

– Con ơi, con ở chỗ ấm áp, còn chỗ ba má thì lạnh lẽo tối tăm.

– Bọn ngộ đói lắm, hột cơm chui vô họng ngộ hoá thành than cháy đỏ. Cứu bọn ngộ, mau!

Qua đêm thứ hai, ba cặp đó biến thành những khuôn mặt xanh, tóc trổ đỏ, răng nanh dài sọc như nanh quỉ La Sát. Họ khóc lóc, rên rỉ trách móc cậu sao bạc ơn với họ rồi họ hăm he sẽ trừng phạt cậu. Tới đêm qua, họ xúm lại túm lấy cậu đấm đá. Người xẩm già cắn vào cườm tay cậu đau điếng. Khi tỉnh dậy, cậu cảm thấy tay chân mình mẩy đau nhức không thể tả. Nhìn lại cườm tay mình, cậu thấy có vết răng. Trút hết quần áo đứng trước tấm gương hình hột xoài gắn trên tủ áo, cậu hoảng kinh khi thấy khắp thân thể mình đầy những vết bầm tím. Sau khi bôi dầu trên những chỗ bầm, chỗ nhức, cậu định đi tìm mẹ để hỏi nguyên do nhưng vì có khách viếng thăm nên cậu chưa có cơ hội.

Mâm cơm chay hôm đó thiệt thịnh soạn, ngon lành và lạ miệng nhờ có những thứ rau cỏ nhập cảng hay chở từ Ðà lạt về. Bữa ăn vừa tàn thì hai cậu Kim Lân và Kim Luông vâng lịnh tía má mình đem hai trái bưởi đường và một trái mít nghệ tới tặng.

Thừa lúc các người lớn đàm đạo, cậu Ba Ngọc Toản rủ hai cô em, hai cậu Lân, Luông và chị em cô Hai Tố Trinh đi dạo mát trong vườn. Kìa là tre ngà trúc biếc rậm rạp. Nọ là trắc bách diệp, sứ cùi rườm rà. Ðây là những chậu cây kiểng như cằn thăng, kim quít, bùm sụm uốn tỉa ngoạn mục. Còn những thứ bông dành cho Tết Nguyên Ðán được trồng trong các giỏ tre nhờ gặp giai tiết thời hầu và chăm bón đúng mức nên thạnh phóng ê hề. Ðẹp nhứt là hòn giả sơn đặt giữa bể nước có thả rong và vài con cá bã trầu. Những cội huỳnh mai già tuổi gốc sần sùi ngoạn mục đã lặt lá, cành chi chít nụ, đợi đến ngày mồng một Tết sẽ nở hoa.

Cô Tư Ngọc Nhan đề nghị mọi người ra ao ngắm bông súng. Cô Hai Tố Trinh cùng cậu Ba Ngọc Toản ngồi dưới tàn cây bằng lăng đơm bông tím hực hỡ. Cô hỏi người yêu:

– Anh có vẻ tư lự xa vắng, sao vậy?

Cậu Ba thuật lại những cơn ác mộng của mình. Cô Hai chau mày:

– Hay là anh bị “bên đó” dùng bùa chú ếm đối?

Cậu Ba xuôi xị:

– Chắc là vậy. Ðể rồi anh sẽ kể cho má anh hay.

Cô Hai than thở:

– Nhằm lúc hai đứa mình phải gắng sức gạo bài mà cứ hết gặp nạn nọ tới nạn kia…

Ngó qua hai cô Ngọc và cậu Kim đi dạo tung tăng bên ao, cô Hai Ngọc Dung bỗng chột dạ. Chết chưa! Sao hai ả nầy bữa nay khuôn mặt đầy hắc khí, nhứt là ở chỗ ấn đường. Mặc dù cô Nhan mặc áo nhiễu màu cánh sen, cô Nga mặc áo lụa màu tía nhưng ánh đỏ của lụa, nhiễu vẫn không che át nổi cái dung quang suy kém của họ. Liếc qua hai cậu Kim, quỉ thần ơi! Mặt của hai chàng thanh niên nầy cũng suy nhược và tối hù. Bởi đó, sau khi ngoạn cảnh, cô bảo nhỏ người yêu:

– Anh hãy giữ gìn cẩn mật, và cũng nên khuyên Ngọc Nhan, Ngọc Nga, Kim Lân, Kim Luông thận trọng mới được.

Xế chiều, khi khách khứa về hết, cậu Ba Ngọc Toản thuật lại các giấc chiêm bao cho mẹ nghe. Bà Hai Lầu vạch mắt con trai quan sát, rồi bảo:

– Kỳ thiệt! Theo má thấy, con không bị bùa ngải, thư ếm gì hết. Ðây chắc là ma muốn dựa, quỉ muốn ốp con đó thôi. Tối nay con hãy siêng tụng kinh Ðịa Tạng và mỗi buổi ngọ, con phải cúng cơm cho cô hồn mới được.

Riêng hai cô Ngọc chiều hôm đó ăn uống uể oải, biếng nói biếng cười. Bà Hai Lầu quở:

– ổa lạ, sao hai con mén nầy bữa nay ăn ít vậy cà? Bộ tụi bây chê món chay không ngon hay sao?

Cô Tư Ngọc Nhan thở dài:

– Không hiểu sao bao tử con như bị trám sắt cục.

Cô út Ngọc Nga dã dượi:

– Còn con cảm thấy tay chơn bải hoải lắm.

Bà Hai Lầu dặn cô Hai Ngọc Dung:

– Tối nay con nên chưng sâm thang và nấu chè hột sen bạch quả cho cả nhà dùng. Thang và chè đều có thể giải nhiệt.

Cô Hai Ngọc Dung phàn nàn:

– Chắc hai con nầy cứ lo thêu khăn, thêu áo gối trong lúc học thi nên bị giảm sức chớ gì!

Bà Ba Các tươi cười:

– Kệ tụi nó, con à. Tụi nó muốn con có đồ tế nhuyễn đẹp lộng lạc để đem về nhà chồng đó mà.

 

Tối hôm đó, cậu Ba Ngọc Toản đốt đèn, thắp nén nhang ngọc quế và chưng hoa quả tươi trước tranh Ðịa Tạng vương rồi bắt đầu tụng kinh. Tới phẩm thứ sáu, cậu mới tỉnh ngộ khi đọc đoạn ghi những lời của đức Thích Ca Mâu Ni:

“Lại nữa Bồ Tát Phổ Quang nầy! Nếu có chúng sanh trong đời sau nầy hoặc khi chiêm bao, mơ màng thấy những quỉ thần và các hình lạ, thương khóc hay kêu van, sầu thảm hay sợ hãi ấy, đều là họ hàng cha mẹ, con cái, anh em, chị em cùng vợ chồng quyến thuộc về những tiền kiếp, hoặc một đời, mười đời, trăm ngàn đời đương bị ở các ngã ác chưa được thoát ra, không còn mong phúc lực ở đâu để cứu bạt khổ não, nên mới đến cầu cứu những người quyến thuộc kiếp xưa, khiến làm các phương tiện, cầu nguyện cho thoát khỏi ngã ác.

“Nầy Bồ tát Phổ Quang! Ông nên dùng sức thần khiến cho các quyến thuộc ấy, đều đối trước tượng chư Phật, Bồ tát, dốc lòng đọc tụng kinh Ðịa Tạng này, hoặc nhờ người đọc đủ số ba biến hay bảy biến, như vậy thì những quyến thuộc ở các ngã ác nghe tiếng tụng kinh, khi đủ số thì được giải thoát, từ đấy trong lúc chiêm bao không bao giờ còn mơ thấy như thế nữa.”

Cậu Ba Ngọc Toản tối hôm đó tụng xong quyển kinh, đi ngủ thì thấy ba cặp vợ chồng kia chỉ lảng vảng trước mặt cậu, không nói không rằng nhưng sắc mặt họ dịu lại, vẻ bất bình phẫn nộ không còn nữa. Cậu tự nhủ mình sẽ tụng cho họ bảy biến kinh để vong linh họ được thác sanh vào nẻo thiện đạo.

Cũng ngày hôm đó, hai cậu Kim về đến nhà thì đã thấy vợ chồng cô Hai Kim Ðiệp và cậu Tám Cao Phi Huỳnh qua thăm. Phe đàn ông ngồi quanh chiếc bàn tròn đặt dưới bóng mát cây mít nghệ để nhậu nhẹt chuyện trò. Còn bà Hai Dần, con Tý, cô Hai Kim Chung và cô Hai Kim Ðiệp tụ tập trong căn bếp tươi hồng ánh lửa.

Tám Huỳnh da ngăm đen nhưng hồng hào rạo rực, mình dây vai rộng, khuôn mặt hiền, nụ cười tươi thiệt là tươi. Cậu mặc chiếc sơ-mi trắng sọc nâu lợt, quần màu ô-liu đậm, đi giày vải bố trắng. Còn cậu Bảy Trinh Tường mặc quần dài, áo bà ba bằng vải xiêm đen, chơn mang guốc vông quai da, ra vẻ dân quê lắm.

Lân, Luông chào hai ông anh rể rồi lủi vô buồng, vừa học bài vừa đợi bữa ăn. Bỗng cả hai nghe tiếng phần phật như tiếng cánh buồm lộng gió ngoài cửa sổ. Không hẹn, cả hai cùng bước lại khung cửa nhìn ra khu vườn bên ngoài đang thiêm thiếp dưới ánh tà dương. Và kìa lạ chưa! Hai khối cầu lửa đỏ ké đang di chuyển trên ngọn cây chùm ruột. Vút một cái, chúng lao tới thềm rồi biến mất. Cậu Tư bảo anh:

– Anh em mình ra coi vật gì rớt ở ngoải!

Chẳng có dấu vết gì lạ cả. Ðám bông lài, bông bạch ngọc, lá nguyệt bạch vẫn sởn sơ tươi tốt, không hề có một vết cháy nám. Vừa lúc đó, cậu Bảy Trinh Tường gọi hai cậu bước lại bàn nhậu nhấm nháp cho vui. Ba Kim Lân dặn em:

– Ðừng nói gì hết, đừng để bữa nhậu mất vui.

Cả hai vừa ngồi vào bàn, cô Hai Kim Ðiệp dẹp dĩa khô cá gộc để thay bằng dĩa gỏi ngó sen trộn tôm thịt và dĩa gỏi gà rắc lá đinh lăng xắt nhuyễn. Bỗng cậu Ba Kim Lân ôm đầu rống lên:

– Trời ơi, sao mà đầu tui nhức như búa bổ vậy nè!

Cậu Tư Kim Luông trợn cặp mắt đỏ như tôm luộc, hét lên:

– Tao chém bây đứt đầu cho coi! Ðể tao đi kiếm dao!

Cậu toan chạy vào bếp thì ông Hai Dần níu cậu lại. Rồi đó hai cậu la hét như điên, nói láp dáp những câu không đầu không đuôi, kẻ nhứt định kiếm dao chém “bọn khốn nạn” kia, người đòi vác búa giết “quân cẩu trệ” đó… Phe đàn bà từ trong bếp ùa ra, thấy vậy khóc ré lên. Cô Hai Kim Ðiệp bứt tóc bứt tai:

– Rồi, tới phiên hai thằng cốt đột nhà nầy bị ếm rồi!

Cô Hai Kim Chung mặt tái mét:

– Em nói em có bùa Lỗ Ban, vậy em đem ứng dụng ngay đi, đợi chừng nào nữa?

Cậu Ba Kim Lân bỗng ré lên, chỉ tay vào đám lá:

– Ðó! Ðó! Tụi nó ở trong đám bông lài, bông nguyệt quới đó… Nó đang cầm chĩa xỉa vô đầu tui nè, bắt nó cho mau!

Cậu Tư Kim Luông phụ họa:

– Nó cũng đang lấy giàn thun bắn đạn vô đầu tui… ối trời ơi, tui chết chớ sống sao nổi nè trời…

Cô Hai Kim Ðiệp bình tĩnh đến bên thềm vẽ bùa Lỗ Ban, chơn giậm thình thịch, hô lớn:

– Ra ngay! Ra lập tức!

Từ trong đám bông lài, hai khối cầu lửa bay vút ra. Cô Hai Kim Ðiệp giơ tay túm từng trái, coi lại thì té ra hai cái bù-loong đen thui, dài cỡ gang tay, có vẽ bùa bằng sơn đỏ.

Tuy nhiên hai cậu Kim vẫn rên rỉ kêu đau đầu nhức óc luôn miệng. Ông Hai Dần sực nhớ, bảo vợ:

– Má nó có nhớ hồi ông Ðạo Hy Mã tới viếng, cho nhà mình cái hộp lớn cỡ hộp Cửu Long Hườn, dặn hễ nhà có biến thì mở ra không?

Bà Hai Dần gật đầu lia lịa, tất tả vào buồng lấy chiếc hộp gói trong giấy kiếng đỏ. Bà mở hộp thì thấy hai chiếc khăn bằng vải hồng điều có vẽ bùa. Cô Hai cầm khăn coi kỹ rồi bảo cha mẹ:

– Ðạo bùa trên hai chiếc khăn nầy y chang đạo bùa Lỗ Ban của con nhưng chính giữa có thêm chữ Vạn nhà Phật.

Cô đem khăn trùm lên đầu hai cậu. Quả nhiên hai cậu không la đau nữa, mồ hôi hết vã ra, mặt họ dần lấy lại sắc hồng hào. Ông Hai Dần và cậu Bảy Trinh Tường dìu hai cậu vào buồng để họ nằm nghỉ. Hai cậu ngủ một giấc dài.

Khi biết chắc chắn hai cậu Kim đã tai qua nạn khỏi, cả nhà vui vẻ dùng cơm tối và chuyện trò cho tới khuya lơ khuya lắc mới đi ngủ.

Sáng hôm sau, quanh mâm điểm tâm, mọi người hỏi hai cậu Lân, Luông đã thấy những gì hồi xế hôm trước, hai cậu đều lắc đầu:

– Làm sao con nhớ nổi! Ðầu con giờ đây hãy còn ê ẩm!

Chiều hôm đó, vợ chồng cô Hai Kim Ðiệp cáo từ về Xóm Tre. Cô Hai Kim Chung cùng người yêu cũng về Mỹ Tho. Bà Hai Dần nấu cháo cá giò heo để cả nhà ăn cho nhẹ bụng. Ðêm hôm đó, ông Hai Dần nằm chiêm bao thấy vong hồn mẹ về mách bảo:

– Cái con Tư Thảnh toan dùng bùa chú để hại hai thằng cháu nội của má đó, nhưng trong cái rủi lại có cái may. Bùa kia bị hai món bửu bối của ông Ðạo Hy Mã hoá giải, sẽ cuốn theo cái bợn trong óc não tụi nó. Rồi đây trí óc tụi nó sẽ sáng làu làu như gương báu, tụi nó sẽ học một biết mười cho con coi!

Sáng hôm sau, ông Hai Dần mở hộp ra xem lại hai chiếc khăn hồng điều kia, nhưng khăn đâu không thấy, chỉ thấy mớ bột đỏ mà thôi. Rồi bột từ từ hoá thành hai đợt khói hường thơm mùi nhang chà và, bay tản mạn trong không khí và mất hút.

 

Chương 12

 

 

Thiệt ra hai cậu Lân, Luông vẫn nhớ rõ mồn một những quái trạng dị hình trong lúc bị ếm đối. Trước mặt họ là hai con mụ lõa lồ, mặt mũi dữ tợn, thân hình cao lớn, mông ngực đồ sộ. Chung quanh hai y thị là những gã trai khoả thân động tình động cỡn, đang làm những hành động dâm ô tục tĩu. Một mụ cầm chĩa ba thọc vô đầu cậu Ba Kim Lân, mụ kia dùng nạng thun bắn đạn sắt vào đầu cậu Tư Kim Luông. Ðã chướng mắt trước cảnh đồi phong bại tục, lại bị hành thân đau đớn như vậy nên hai cậu mới nổi giận phát điên lên như vậy.

Trước mặt mẹ và hai chị, hai cậu không tiện kể lại, nhưng sau đó lựa lúc thuận tiện, họ đã thuật cho cha và anh rể nghe.

Cách hai hôm sau, cậu Ba Ngọc Toản đưa hai em gái qua thăm hai cậu quí tử của ông bà Hai Dần. Cô Tư Ngọc Nhan bưng rổ đựng một chục cam Cái Bè, còn cô út Ngọc Nga bưng một thố cơm rượu, quà của bà Ba Các dành cho ông bà Hai Dần và hai chàng rể tương lai.

Cậu Ba Ngọc Toản từ khi tụng kinh Ðịa Tạng được ba biến thì vong hồn những bậc phụ mẫu trong các kiếp trước của cậu hiện về tạ ơn. Tới biến thứ bảy thì họ báo mộng cho cậu biết họ sắp đi đầu thai vô các nhà lương thiện, đạo đức.

Hôm đó bà Hai Dần đi Bến Tranh ăn giỗ, còn ông Hai Dần đi ra chợ Bến Chùa coi việc xây cất trại cưa. Con Tý ân cần:

– Mời mấy cô mấy cậu ngồi chơi ngoài hàng ba, để tui ngâm mủ trôm với nước mưa cho mấy cô mấy cậu uống cho mát.

Lúc đó cỡ một giờ trưa, ai ai cũng đã ăn cơm xong. Ba Kim Lân hỏi Ba Ngọc Toản:

– Chừng nào bác Hai làm đám hỏi cho anh?

Ba Ngọc Toản cười:

– Ợt nhứt cũng phải qua rằm ngươn tiêu.

Tư Kim Luông rắn mắt:

– Ðể rồi anh coi, anh đi hỏi vợ về sẽ bị bạn bè chế nhạo tới sẩu mình mà họ cũng chưa chịu tha đâu!

Ba Ngọc Toản điềm nhiên:

– ìi ăn nhằm gì! Lũ bạn cùng lớp với tui đã đi hỏi vợ hết một nửa rồi.

út Ngọc Nga nhìn Tư Kim Luông:

– Có nhiều cậu mới vừa xong lớp đệ tam niên đã cưới vợ nữa là khác.

Tư Kim Luông choàng tay qua vai người yêu:

– Nếu ba má cưới em cho anh, anh sẵn lòng liền. Trong cuốn tự điển đời anh không có hai tiếng “mắc cỡ” đó đâu. Tụi nó càng chọc, anh càng thích chí, càng thấy hạnh phúc mình trở nên thắm đậm hơn…

út Ngọc Nga ngúng nguẩy:

– Anh liếng khỉ quá hà, chưa đủ chín chắn làm chồng, cho nên hễ còn đi học, em không ưng anh đâu! Ðợi em thôi học, anh hãy đi cưới em.

Cậu Tư Kim Luông chợt nhìn sững người yêu. Chu choa ơi, sao cô út xuống sắc thấy rõ. Mặt đã mất sắc hồng hào chói lọi, môi cũng phai màu thắm mọng. Ðây là thứ môi tro mặt bùn. Cậu nhìn qua cô Tư Ngọc Nhan lom lom. Cặp mắt long lanh sóng thu, khuôn mặt sáng làu làu gương nga của cô cũng u ám hắt hiu.

Mủ trôm ngâm trong nước mưa nở lớn cỡ bụm tay trong như gương và sáng như pha lê, điểm những phiến nước đá lóng lánh. Ðường phèn làm cho thức uống kia ngọt đằm, xua hết cái nóng hấp của buổi trưa đi đâu mất.

Sau đó, hai cô Nhan và Nga kiếu từ ra về,  cậu Ba Ngọc Toản đến nhà ông Hương bộ Khâm để thăm Xã Huề và Ba Hưởng. Cả hai đang giã bánh phồng nếp trong sân. Ba Ngọc Toản hỏi nhỏ Xã Huề:

– Anh đã thấy động tịnh gì chưa?

Xã Huề cười:

– Chưa. Nhưng mà ông Ðạo Hy Mã có cho tía má tui hai hườn thuốc bọc sáp đỏ, trên mặt sáp có vẽ bùa rồi.

Vợ Xã Huề và bà Hương bộ Khâm làm bánh tráng béo rắc mè đen và bánh tráng ngọt rắc mè trắng cho cả nhà dùng vào dịp Tết. Cao hứng, vợ Xã Huề còn đặt mua tôm và cá thác lác để làm bánh phồng tôm và bánh phồng cá. Khéo nhứt là món bánh phồng cá của chị, khi chiên báng không tanh mà còn thoảng hương vị tiêu cay. Hôm qua, ba cô Ngọc làm xong mớ bánh mứt đem tặng cậu mợ mình một ít: mứt cà chua đỏ thắm như san hô, mứt khế nhuộm nước cốt cỏ rồng xanh như cẩm thạch, mứt bí trắng như thỏi băng phiến, mứt gừng xắt chỉ tẩm đường đặc sệt màu hổ phách… rồi các loại bánh nướng, nào bánh phục linh trắng như thạch cao, bánh men có màu vôi bạch phấn, bánh gai, bánh con đuông và bánh hạnh nhân màu vàng ấm áp.

Nhà bà Ba Các chuẩn bị ăn Tết lớn hơn mọi năm. Quà cáp do bổn đạo biếu xén nhiều không biết bao nhiêu mà kể: cam tàu, quít núm, bôm, nho, xá lÿ, hồng tươi, hồng khô, trà ngon, bánh in, rượu bổ, nhơn sâm, nhục quế, yến huyết… Do đó bà Hai Lầu chia bớt phẩm vật cho các gia đình ông bà Hai Dần, ông bà Hương bộ Khâm, bà giáo Toàn. Vì quần áo mới mọi người còn nhiều nên bà Hai Lầu chỉ sắm thêm cho cậu Ba đôi giày tây màu sô-cô-la, một sợi dây nịt da rắn có khoen mạ vàng. Ba cô Ngọc thì được mỗi người một cái áo dài cẩm vân màu tím tươi, chiếc quần lụa tằm màu huỳnh cúc, chiếc quần sa-teng tuyết nhưng trắng và một quần cẩm tự đen. Sau khi đưa ông Táo, cả ba đem nữ trang ra tiệm vàng ở gần ga xe lửa để chùi bóng và nhuộm cho nước vàng đỏ au. Bà Hai Lầu nhìn ba cô con gái, cười mãn nguyện bảo em dâu:

– Phải chi chồng tui và chú Ba còn sống thì gia đình nầy còn vui tới bực nào.

Bà dặn cô Hai Ngọc Dung:

– Trưa nay có mẹ con chị giáo Toàn tới dùng cơm, con nên làm món đặc biệt.

Bà giáo Toàn và thầy giáo Hớn đến, mang theo một cân long nhãn để cúng Phật. Thầy giáo Hớn báo tin:

– Thưa hai bác, hồi sáng cháu cùng anh Bảy Trinh Tường đi Tân Hiệp, đến tiệm nước chú Dành điểm tâm thì gặp hai anh em Tà Noọt, Tà Nặc ở đó. Cháu còn nghe kể cô Tám Kim Mai ở Vòng Nhỏ bị quân gian bắt cóc hãm hiếp rồi đem vứt ở bụi tre đầu xóm. Lại có cô Hai Thiệt ở bến đò Rạch Miễu cũng bị bắt cóc và bị hãm hiếp nữa. Cho nên hai bác dặn các em gái ở đây phải đề phòng cẩn thận mới được.

Bà Giáo Toàn trầm ngâm:

– Hồi ông nhà tui còn sanh tiền, ổng thường kể rằng ở miệt Năm Non Bảy Núi có bọn phù thủy ưa bắt cóc gái trinh, một là để thái âm bổ dương, hai là để bửa sọ cô gái lấy óc luyện thiên linh cái.

Cô Tư Ngọc Nhan mặt xanh dờn, hỏi:

– Thưa bác, thiên linh cái là gì?

– Là thứ hồn ma gái trinh mà bọn phù thủy gọi là thiên linh thần, đi theo kẻ luyện để phù hộ hắn hoặc mách cho hắn biết những chuyện xảy ra ngoài ngàn dặm nhưng có liên quan tới hắn. Ngoài ra thiên linh thần còn chỉ chỗ giấu kho tàng trân bửu nữa…

Bà Hai Lầu vụt cười khó hiểu:

– Thiên linh cái có giỏi bằng xác người hồn chồn cáo không?

Bà Ba Các ngạc nhiên:

– Thời buổi nầy làm gì có chuyện con chồn chín đuôi ở mả Huỳnh Ðế hớp hồn nàng Tô Ðắc Kỷ rồi nhập xác nàng để phá tan cơ nghiệp vua Trụ?

Bà Hai Lầu nhổ xác trầu vô ống nhổ, chậm rãi đáp:

– Ðời là mộng ảo, mộng nầy chồng mộng kia trùng trùng điệp điệp, như vậy thì chuyện gì cũng có thể xảy ra. Rồi thím sẽ rõ.

Cô Hai Ngọc Dung mời hai mẹ và bà mẹ chồng tương lai ngồi bên mâm cơm chay gồm các món kho, hầm, xào, tẩm bột chiên giòn… Còn thầy giáo Hớn thì ngồi bên mâm cơm mặn với chị em cô. Mâm nầy có hai tô canh khoai tím nấu tôm quết nhuyễn rắc rau om, một dĩa sườn nướng, một dĩa sâu lòng đựng thịt cá kho chung, một tô ba khía vắt chanh trộn tỏi ớt và một dĩa măng xào tôm thịt.

Gió xuân dìu dịu thoảng qua những ruộng lúa chín vàng. Nắng xuân lóng lánh trên mặt ao bàu lung vũng nước trong như lộng gương. Bên nhà bà Quản Thất, cô út Thiên Kim dù có một khối ưu phiền đè nặng tâm can nhưng vẫn chuẩn bị bánh mứt đón Tết. Sáng hôm qua, bà Quản mua dưa hấu chất đầy bộ ngựa ở nhà sau. Gà vịt, bánh phồng, bánh tráng, cải tùa xại làm dưa đều do tá điền đem tặng. Bởi vậy bà chỉ cần o bế món dưa giá, dưa kiệu để ăn cặp với bánh tét mà thôi.

Luật sư Hữu Vượng lóng rày coi bộ yếu nhiều. Sự suy yếu tâm thần làm thể xác ông bạc nhược, ốm o. Ông không la ó, gào thét, nói sang đàng như những người điên khác. Ông chỉ cười ngu ngơ, nói lẩm bẩm, ngó mông lung. Có lần ông đòi ăn cà-rem, nhưng khi cầm cây cà-rem, ông chỉ ngó nó trân trối cho tới khi nó chảy hết thành nước, chỉ còn trơ lại cái que tre mà ông vẫn cứ cầm giữ trong tay. Lại có đêm, ông cởi quần áo nhảy ùm xuống sông lội cho tới mệt lả, lạnh run mới chịu tuôn vào nhà rên hì hì làm cả nhà lo sợ.

Hôm nay con Phước Vân lại ngã bịnh. Hành kinh nó tới sớm hơn mọi tháng trước, bà Quản hạt phải mướn thêm chị Mười Cam tới săn sóc, giặt giũ quần áo cho nó. Bà đang luyện bùa để ám hại anh em Xã Huề nên không dám vào buồng nó, chỉ đứng ở cửa buồng lớn tiếng hỏi han mà thôi. Trong khi cô út Thiên Kim lo o bế keo mắm tôm chua trộn đu đủ bào và kém mắm tôm chà sền sệt màu nâu đỏ như tương xay thì bà Quản Thất bước qua dãy đông lang moi trong tủ kiếng hai pho tượng bằng sáp cao cỡ gang tay. Mỗi pho tượng có dán tên và ngày sanh tháng đẻ của hai anh em Xã Huề. Bà thắp trước hai hình nhơn thế mạng kia một nén nhang hổ phách rồi lấy hai đạo bùa bằng giấy vàng vẽ chữ đen quấn khắp thân thể của hình nhơn. Bà đọc hai mươi mốt biến câu mật chú rồi lấy chiếc khăn bằng vải hồng điều phủ trùm các hình nhơn. Tối nay, bà sẽ đọc cho đủ 49 biến và ra tay.

Con Phước Vân từ sáng sớm được chị Mười Cam rửa ráy mình mẩy bằng nước ấm và mang tới tận giường nó tô cháo bạch quả để nó ăn với đường cát mỡ gà.

Khi chị Mười Cam khép cửa buồng ra ngoài, con Phước Vân lấy niệc đeo vào cổ. ìi, nó chỉ còn sống được mấy tiếng đồng hồ nữa mà thôi. Tối nay, bà Quản hạt Thất sẽ hạ độc thủ. Sức mạnh của đạo bùa không lộng hành được ở nhà ông bà Hương bộ Khâm, sẽ trở lộn lại đây đánh vào chiếc niệc nầy và người mang niệc sẽ chết theo. Tui có thể liệng bỏ cái niệc nầy xuống sông để bảo tồn tánh mạng rồi bỏ nhà rủ Ba Hưởng cùng trốn đi xây tổ uyên ương. Nhưng thà tui chết chớ kh2ng để mang tiếng phản phúc một kẻ mà tui coi như mẹ. Ðốt niệc nầy hay liệng nó xuống sông, sức mạnh của bùa ếm vẫn phá tan nát dãy đông lang và khu đất trồng ngải nghệ, gây cho người ơn của tui biết bao tổn hại. Thôi thì tui cam chịu chết là hơn. Có vậy tình nghĩa tui mới được vuông tròn.

Bà Quản Thất đã nhờ tới ba thầy tử vi lấy ngày sanh âm lịch đối chiếu dương lịch của hai anh Xã Huề thiệt kỹ. Ðến lúc biết chắc là đúng, bà mới ráo riết ếm đối. Thời điểm đã chín muồi. Tối nay vào giờ Tuất là bà sẽ hạ độc thủ để dứt điểm.

Trong căn buồng sáng lờ mờ, con Phước Vân sống trong giây phút chờ đợi cực kỳ căng thẳng. Ðằng nào mình cũng chết, nhưng cái chết có hung tợn, có làm mình chịu hành thân hoại thể lâu lắc hay không đây?

Thời gian từ từ trôi qua. Tối hôm đó bà Quản hạt tắm gội thiệt kỹ, hương xông xạ ướp nực nồng. Bà mặc chiết áo đạo bào màu lam, trước ngực thêu bùa bát quái bằng chỉ ngũ sắc. Bà uống một hiệp sâm chưng chung với nhục quế rồi qua dãy đông lang. Lúc đó con Phước Vân nằm nhắm nghiền mắt đợi chết. Tuy lún dần trong cơn thiêm thiếp bằn bặt, nhưng thần thức nó vẫn bám riết vào câu “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế ẽm Bồ Tát”.

Bà Quản Thất bắt đầu đọc mật chú cho đủ 49 biến rồi búng ngón tay vào hai đạo bùa. Chúng rời hình nhơn hoá thành hai đạo bạch quang bay vút lên lao về phía nhà ông bà Hương bộ Khâm. Tới cổng, đụng phải khăn thấm máu chó, chúng giảm sút ánh sáng nhưng chiếc khăn bị phát hỏa cháy sèo sèo. Một luồng lao vào cửa buồng Xã Huề, đụng chiếc khăn thấm máu đường kinh liền trở lộn ra, còn luồng kia lao vào cửa buồng Ba Hưởng cũng gặp chiếc khăn y chang như vậy bèn tháo lui… Hai đạo bạch quang lảo đảo rồi lao vút trở về nhà ông bà Quản hạt Thất, xông vô cửa buồng con Phước Vân, đâm vào chiếc niệc đeo trên ngực nó. Con Phước Vân loá cả mắt. Nhưng mà trời đất ơi, hai đạo bạch quang kia tắt rụi hườn lại hình cũ là hai lá bùa bằng giấy vàng, chữ vẽ trên bùa lem luốc như bị thấm nước. Con Phước Vân không dè cơn hành kinh ô uế xảy ra sớm kia đã hoá giải bùa ếm tối độc kia và cứu sống nó. Chiếc niệc bị cháy xém nhưng nó không hề hấn gì. Chưa kịp mừng, nó chợt nghĩ tới âm mưu của nó đã bại lộ, bà Quản Thất sẽ thẳng tay trừng trị nó và nó sẽ phải chết thảm thiết.

Trong cơn bối rối, con Phước Vân chụp chiếc áo len dầy khoác vào mình rồi vội vã chạy ra khỏi buồng, khỏi dãy đông lang. Giờ nầy cả nhà đã ngủ, chắc bà Quản hạt còn đang ở trong gian thờ Thiên Ma Ba Tuần. Ðêm tối bao la. Trên nền trời đen trong, sao sáng lấp lánh. Gió lạnh thổi từng chập. Phước Vân đi về phía cổng, rút chốt cổng để ra ngoài. Nhưng đi đâu bây giờ? Bóng đêm như mực xạ không cho nó thấy vật gì cả, trừ dòng sông bên hông nhà và dòng rạch nhỏ lượn trước nhà phản chiếu muôn ngàn vì sao trên bầu trời. Bỗng có tiếng nói nhỏ bên tai nó:

– Con hãy theo ngoại. Ngoại sẽ đưa con đến nhà ông bà Hương bộ Khâm. Tới đó, họ sẽ đưa con đi ẩn trú ở chỗ khác, xa cuộc lùng bắt của ông bà Quản hạt Thất.

Nó quay lại. Té ra là bà Thạch Thơm tay xách lồng đèn. Bà trấn an:

– Ngoại hiện hồn đưa con đi lánh nạn, con đừng sợ.

Theo ánh đèn ma, con Phước Vân bước qua cầu gỗ lót ván để ra quốc lộ. Từ đó nó đi về phía Ngã Ba Trung Lương. Phước Vân sợ sệt:

– Ngoại ôi, thân gái đêm trường mà đi qua điếm canh giờ này thì mấy chú cai tuần, mấy chú thường xuyên sẽ bắt con đưa tới thầy Hương quản Khánh, vậy thì cuộc lánh nạn của con sẽ đổ bể!

Bà Thạch Thơm lắc đầu:

– Không sao đâu con! Tụi nó bày đặt nhậu nhẹt say quắc cần câu, ngủ vùi hết ráo rồi.

Phước Vân ái ngại:

– Ngoại ôi, con ăn ở bạc bẽo phản phúc với bà Quản Thất, con phải làm sao bây giờ?

– Con ngăn cản hành động sát nhơn của bà là con đã trả ơn cho bả rồi. Về sau, mọi việc đâu vào đó, bả sẽ hiểu ra và mang ơn con, không còn oán ghét con nữa đâu.

Khi tới cổng nhà ông bà Hương bộ Khâm, bà Thạch Thơm bảo:

– Tối nay ngoại được ông chủ ngục dưới âm ty cho phép về đây giúp đỡ con. Giờ ngoại phải theo quỉ sứ về dưới đó. Con hãy kêu cổng để người trong nhà ra mở. Ðừng quên tụng kinh Pháp Hoa và kinh Ðịa Tạng để cứu ngoại khỏi chịu cực hình trong cõi âm. Nhớ nghe con!

Hồn bà Thạch Thơm biến mất. Con Phước Vân gọi lớn:

– Hai bác Hương bộ còn thức hay ngủ? Anh Ba Hưởng ơi, có em là Phước Vân đây!

Lúc đó cả nhà ông bà Hương bộ Khâm đã thức từ lâu. Bà Hương bộ và vợ Xã Huề ra mở cổng đưa con Phước Vân vào nhà. Hai đạo bùa khi xông vào khuôn viên nhà đã gây nên tiếng động chát chúa. Cả nhà thức giấc soi đèn, thấy mấy chiếc khăn thấm máu đều bị cháy xém thì biết rằng bùa ếm đã bị ba chiếc khăn nầy hoá giải rồi. Họ cứ ngồi bàn ngang tán dọc mãi, chưa chịu đi ngủ lại.

Con Phước Vân vừa lạnh vừa sợ, kể lể khúc nôi cho gia đình ông Hương bộ Khâm nghe. Bà Hương bộ than thở:

– Tội nghiệp chưa! Cháu đã cứu sống hai thằng con bác, không kể tới tánh mạng nên trời giúp cháu thoát hiểm đó đa.

Ông Hương bộ bảo Ba Hưởng:

– Ðầu canh năm, con lấy xe đạp đưa cháu đây ra nhà cô Hai Kim Chung ở ngoài Mỹ Tho. Cổ sẽ đưa cháu đi Cai Lậy ở nhờ nhà cô Tư Minh Nguyệt là an toàn. Ðể tía viết cho cô Hai và cô Tư mỗi người một bức thơ, gửi gấm cháu Vân cho họ.

Vợ Xã Huề căng ghế bố, giăng mùng cho Phước Vân ngủ. Chị lấy bộ đồ vải xiêm đen, một bộ đồ lãnh tàu gói trong lớp giấy dầu bỏ vào giỏ, dặn con Phước Vân:

– Ðể tới chỗ ở mới, em có đồ bận đỡ.

Ông Hương bộ Khâm cảm khái bảo thứ nam của mình:

– Cháu đây cứu anh em con, con phải tìm cách trả ơn cho nó thiệt xứng đáng mới là phải.

Xã Huề thấy hình vóc gầy gò bạc nhược của cô gái, ái ngại hỏi:

– Em bị bịnh chi mà ốm yếu, gió thổi cũng bay vậy?

Phước Vân vắn tắt:

– Ra khỏi chỗ luyện ngải là em sẽ có cơ hội bình phục.

Ðêm đó chẳng ai chịu đi ngủ, cứ kể lể đủ mọi chuyện. Bà Hương bộ Khâm bắt con gà mái tơ nấu cháo và trộn gỏi gà rau răm cho cả nhà và con Phước Vân ăn. Ðầu canh năm, vợ Xã Huề soạn dầu măng, dầu cù là, một mớ thuốc tễ ích khí bổ thần gói trong mo cau bỏ vào giỏ dành cho con Phước Vân. Bà Hương bộ lấy ba tờ giấy hai chục đưa cho Ba Hưởng, dặn:

– Tới chợ Cai Lậy, con nên mua sắm các món cần thiết cho cháu gái đây. Còn dư, con đưa hết cho nó để nó xài vặt.

Khi Ba Hưởng đưa Phước Vân đi rồi, ông Hương bộ Khâm mới bảo vợ và con dâu:

– Con nhỏ đó tuy bịnh hoạn nhưng ở ấn đường nó có hồng quang phát hiện, thời đen vận rủi của nó sẽ qua. Nó lại có tướng vượng phu ích tử, thằng Ba nhà nầy lấy nó cũng là chuyện tốt.

 

Ngày 26 tháng chạp, hai chị em cô Ngọc rủ nhau qua Xóm Tre thăm cô Hai Tố Trinh rồi ra Mỹ Tho thăm cô Sáu Thọ Huệ. Nhưng cô Hai Tố Trinh không có nhà vì mắc đi Gò Ðen thăm viếng bà con bên ngoại. Hai cô liền đạp xe đi thẳng lên Mỹ Tho. Trời nắng hanh, tuy có gió chướng mát dịu nhưng vì ra sức đạp xe nên thân mình họ phát hỏa. Tới nửa đường, cô út Ngọc Nga bảo chị:

– Khát nước quá chị ơi! Tụi mình ghé quán kiếm trà huế giải khát rồi nghỉ mệt chút đã.

Cô Tư Ngọc Nhan quở:

– Bữa nay sao mà em yếu như sên vậy? Mới đạp xe có ba cây số mà đã than khát nước rồi!

Tuy nói vậy nhưng cô vẫn ngừng xe trước chiếc quán lá núp dưới bóng cây da xà nằm cạnh quốc lộ. Quán gồm một gian rộng, hai chái cũng rộng, mái lợp lá xé, vách bổ kho. Chính giữa quán bày chiếc vạt tre, phía trước bàn thờ ông bà, trên bày một thùng đựng cốm chuồi; một rổ mận, ổi; một thúng trấu vùi hột vịt lộn; một thúng bánh tét nước tro, bánh ú, bánh ít… Lò nấu trà huế ở chái bên trái, còn chái bên mặt thì bày hai cái bàn tròn bằng gỗ tạp, mỗi bàn có bốn chiếc ghế đẩu vây quanh dành cho bợm nhậu.

Hai cô gái bỗng chùn bước vì thấy có hai người đờn ông trung niên, nước da sậm như người Miên đang ngồi chiếm một bàn, nhậu rượu thuốc với khô cá gộc. Nhưng đã lỡ bước vô quán, không lẽ thối lui nên cả hai ngồi trên vạt tre bảo bà chủ quán:

– Bà Bảy múc cho tụi cháu mỗi đứa một tô trà huế và bán cho hai miếng kẹo gừng.

Hai người đờn ông đưa mắt ngó nhau. Ðó là hai anh em Tà Noọt và Tà Nặc. Trong lúc hai cô nữ sinh xì xụp uống trà thì Tà Noọt mở gói thuốc rê bọc trong lớp mo cau, rút một cục vấn vô giấy quyến và bật quẹt châm lửa. Y ta hút chậm rãi. Từng sợi khói bay tản mạn dưới mái lá làm hai cô nữ sinh ngây ngất, tâm trí dật dờ phiêu diễu trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Tuy vẫn tiếp tục hớp trà nhưng hai mắt họ lộn thinh, cái nhìn như chìm đắm trong cảnh giới nào khác.

Tà Noọt hút xong điếu thuốc, nói vừa đủ cho em mình nghe:

– Tụi mình nên đi trước, tụi nó sẽ theo sau.

Tà Nặc hỏi nhỏ:

– Anh coi hai con nầy còn là xử nữ hay không?

– Tao không rõ. Ðể rồi coi. Gái trinh thì tính theo gái trinh. Gái mất trinh không lẽ bỏ hay sao? Từ hồi nào tới giờ, tao chưa gặp đứa nào có bóng sắc chói chan như hai con nầy.

Nói rồi hai tên phù thủy bước ra khỏi quán, men theo lối đi đắp đất để khuất vào khúc quẹo băng qua xẻo lá dừa nước. Hai cô nữ sinh liền vội vã theo sau bọn hắn, quên trả tiền trà và bỏ lại hai chiếc xe đạp trong sân. Hai cô như bị một sự thúc giục huyền bí, đi tới khúc quẹo, ở đó hai anh em tên phù thủy đã đứng chờ sẵn dưới gốc cây vông đơm hoa đỏ rực. Chúng thổi vào mặt hai cô làm cho cả hai càng thêm ngây dại rồi dắt hai cô xuống chiếc ghe mui ống, lủi vào lạch nước bên kia sông. Cô út Ngọc Nga trong khi mê lú tâm thần, đã để chiếc khăn san bằng the đỏ của mình tuột khỏi cổ, bay theo gió và vưóng vào cành sung ở đầu lạch nước.

Ghe theo dòng nước đến một chòi chăn vịt bỏ hoang, nơi hai anh em Tà Noọt tạm dùng làm nơi trú ẩn để đem gái về hãm hiếp.

Tà Nặc đề nghị:

– Tui muốn dùng một con để luyện thiên linh cái, còn con kia thì dành cho anh luyện thái âm bổ dương. Anh hành lạc chán chê rồi thì giao lại cho tui.

Tà Noọt gật đầu:

– Mầy bàn nhằm lẽ lắm. Nhưng hôm nay anh em mình chưa làm gì được đâu. Muốn luyện thiên linh cái hay thái âm bổ dương phải đợi tới bốn ngày linh trong tháng là mồng bảy, mười bốn, hăm mốt, hăm tám.

Tà Nặc gãi đầu:

– Bọn gái tân thời tân học như hai con nầy chẳng biết còn trinh hay không đây!

Tà Noọt mở túi vải lấy chiếc hộp vàng bằng đá Ðại Lý săm soi rồi rút ra chiếc kim vàng và một hũ đựng chất cao sền sệt có màu ngà ngà. Hắn đắc chí:

– Ðể tao lấy thủ cung sa thử coi.

Tà Noọt lấy chiếc kim vàng vít lên cườm tay mặt mỗi cô rồi bôi chất cao lên. Trên nền da trắng như mỡ đọng của cườm tay mỗi cô, một vết son tươi thắm hiện ra. Tà Nặc mừng rỡ:

– Té ra hai con nầy còn trinh, tốt lắm!

Tà Noọt cười sung sướng:

– Phải đợi thêm hai ngày nữa anh em mình mới động thủ. Bây giờ thì tụi mình tạm để yên tụi nó ở đây, cho tụi nó ăn uống tử tế.

 

Nói về nhà bà Ba Các, từ khi hai cô Ngọc đi chợ Mỹ Tho mãi cho tới đúng ngọ mà chưa về thì họ trông đứng trông ngồi. Tới hai giờ trưa thì hai má con cô Sáu Thọ Huệ và cô Hai Kim Chung lái xe đến viếng am. Hỏi ra thì từ sáng tới giờ họ nào gặp hai cô nữ sinh. Ðang lúc mọi người lo lắng thì bà Bảy ớt, chủ quán trà huế, đến thưa với bà Hai Lầu:

– Tui trình am chủ rõ, hồi sáng có cô Tư và cô út ghé quán uống trà ăn kẹo gừng. Rồi đó hai cổ đi theo hai người đờn ông Miên ra bờ sông sau nhà rồi mất biệt, hai chiếc xe đạp của hai cổ còn dựng trong sân quán tui.

Bà Hai Lầu giựt mình:

– Ðúng là anh em thằng Tà Noọt dùng bùa rù quến con Tư và con út rồi. Hèn gì từ sáng tới giờ con mắt bên trái của tui cứ giựt giựt.

Bà giục cậu Ba Ngọc Toản đi mời thầy giáo Hơn dắt chó tới, đồng thời bà sai cô Hai Ngọc Dung đi mời Xã Huề, Ba Hưởng và thầy Hương quản Khánh. Khi họ tới đông đủ, bà phát cho mỗi người một đạo bùa đeo ở cổ. Bà bảo thầy giáo Hớn:

– Cháu giỏi võ nghệ, có thể đương đầu cự địch với hai anh em Tà Noọt được, còn con chó nầy sẽ đánh hơi tìm hai con cháu của bác.

Khi mọi người tới quán bà Bảy thì đã 4 giờ chiều. Nắng còn chói chang khắp nơi. Bà Hai Lầu kê hai chiếc áo lót của hai cô Ngọc vô mũi con chó và giục nó đi. Nó nương theo con đường đất đắp bên hông quán ra tới bờ sông. Bây giờ nước đã ròng, sông phơi hai lườn bùn mịn mát. Xã Huề chỉ chiếc khăn the đỏ vướng trên cành sung ở đầu ngọn rạch bên kia sông, hỏi bà Hai Lầu:

– Thưa bác, phải khăn của hai cô đó không?

Bà Hai Lầu gật:

– Khăn của con Ngọc Nga đó. Vậy là tụi nó đưa hai con cháu tui xuôi theo ngọn rạch nầy đi sâu vô vùng đất kia sông.

Ba Hưởng sốt sắng:

– Cháu có người bạn tên Tám Thời làm nghề chài lưới, cất vó câu tôm vùng nầy, để cháu tới mượn chiếc ghe lườn.

Chừng giập bã trầu, Ba Hưởng trở về với chiếc ghe lườn thiệt lớn. Cả bọn và con chó cùng xuống ghe. Ba Hưởng chèo qua bên kia sông, ghé vào vàm rạch và xuôi theo dòng nước tiến sâu vô vùng đất mọc đầy lau sậy. Khi ghe tới chòi chăn vịt bỏ hoang giữa đám ruộng khô thì con chó sủa rối rít.

Ba Hưởng lật đật cho ghe tấp vào. Ghe chưa kịp ngừng, Ba Ngọc Toản đã nóng lòng nhảy ùa xuống nước chạy tuôn về phía chòi. Thầy giáo Hớn cũng chạy theo bén gót. Con chó cũng chạy kế bên chủ.

Lúc đó hai anh em Tà Noọt đang váng vất vì say rượu. Nghe tiếng chó sủa, bọn hắn biết chỗ ở của mình đã bị bại lộ, bèn gắng gượng ngồi dậy mở cửa chạy ra. Nhưng chung quanh chòi là đồng trống nên ai nấy đều thấy rõ. Thầy giáo hớn và Ba Ngọc Toản lật đật đuổi theo. Thuật phi hành của chúng quả thiệt xuất chúng, con người không sao theo kịp. Chỉ có con chó là vẫn tiếp tục đuổi nà.

Tà Noọt bảo em:

– Cứ chạy tuôn vô xóm. Tụi mình vượt qua được đầu sông là thoát.

Con chó vừa rượt theo hai anh em tên phù thủy vừa sủa rối rít. Chó trong xóm nghe tiếng cũng ùa ra sủa theo. Khi cả hai chạy tới gốc cây da xà bên bờ sông thì có hai con chó hoang chực sẵn, lông chúng rụng xơ xác, mắt đỏ ngầu, lưỡi thè ra, nước dãi chảy ròng ròng. Hai con chó nhảy phóng tới, cắn bắp chân mỗi tên một miếng rồi cút mất. Hai gã liều mạng nhảy xuống sông lội qua bên kia, lẩn vào đám lá dừa nước. Con chó của thầy giáo Hớn đành bỏ cuộc, chạy về chòi.

Tại căn chòi, mọi người thấy hai cô Ngọc Nga, Ngọc Nhan nằm thiêm thiếp trên bộ vạt tre, quần áo bèo nhèo, mặt mày lem luốc, tóc tai rối tung. Bà Hai Lầu bước ra hàng ba thấy lu nước, bèn múc một gáo nước, niệm chú rồi phun vào mặt hai cô. Hai cô tỉnh dậy. Bà Hai Lầu trấn an:

– Hai con chớ sợ, có má Hai và mọi người đây!

Cô Tư Ngọc Nhan cố nhớ mọi việc:

– Mới nãy tụi nó cho con ăn cháo. ân xong, tụi con nằm ngủ cho khoẻ, không dè càng ngủ càng nhức đầu.

Ba Hưởng lo lắng hỏi:

– Hai em có nhớ tại sao hai em tới đây không?

Cô út Ngọc Nga nhíu mày:

– Em chỉ nhớ lờ mờ rằng tụi nó rủ em đi chùa Vĩnh Tràng dưng hương cầu phước… Không dè tụi nó đưa em tới đây lấy thủ cung sa, không biết để làm gì!

Cô chìa cườm tay có in vết son ra. Bà Hai Lầu nhìn hai vết son trên cườm tay hai cô cháu gái, chợt nghĩ ra:

– Vậy thì tụi nó chưa xúc phạm tới hai đứa bây. Bọn phù thủy nầy dù có luyện thiên linh cái hay thái âm bổ dương gì gì đi nữa thì cũng phải chọn ngày, phải làm lễ long trọng. Vậy cũng là nhờ phước đức tổ tông mình vậy.

Khi mọi người về tới nhà thì trời vừa tắt nắng. Bà Hai Lầu ân cần mời thầy Hương quản Khánh, thầy giáo Hớn, Xã Huề và Ba Hưởng ở lại dùng cơm tối.

Ngồi ngắm hai cô cháu cưng, bà Hai Lầu cứ băn khoăn tự hỏi: “Hai con nầy vừa tai qua nạn khỏi mà sao mặt mày tụi nó vẫn cứ u ám? Vết đen ở ấn đường đã chịu biến mất đâu!”

Cô Hai Ngọc Dung tuy mừng thấy hai em tai qua nạn khỏi nhưng chiều nay ra ao gánh nước, cô thấy nước ao hơi đục lại lo. Bởi bà Hai Lầu vừa trải qua một ngày căng thẳng nên cô không dám báo tin ngay. Giờ đây cô mới tỉ tê thuật chuyện cho mẹ biết.

Bà Hai Lầu có vẻ suy nghĩ:

– Hồi sáng nay má có ra bờ ao hái bông trang bông điệp thì thấy nước ao tuy mờ đục nhưng quanh ao không có dấu bùa ếm. Tuy nhiên mới nãy đây má thấy hai em con hãy còn sắc diện u ám và hắc khí ở ấn đường chưa tiêu. Như vậy nhứt định hai cái ao nầy bị ếm vì hai ao ấy cũng là mệnh căn của hai con Nhan, Nga. Ngặt nỗi má tìm chỗ ếm không ra thì mới biết làm sao đây!

 

Tờ mờ sáng hôm sau, cô Hai Ngọc Dung thức dậy lo sửa soạn bữa điểm tâm. Cô kho nấm tràm với nước tương để dùng với củ cải dầm tương bên mâm chay. Cô nấu cháo trắng, chấy mặn tôm trứng, kho tiêu cá lòng tong để bày cùng dưa mắm bên mâm mặn. Còn thím Chín Hiệp lo hương đăng trà quả trên bàn Phật.

Bà Ba Các bước vào thiền phòng báo tin:

– Con Tư, con út trúng nắng hay sao mà tụi nó nóng mê man.

Bà Hai Lầu sốt sắng:

– Thím đưa hai con đó qua đây để tui săn sóc.

Ngồi quan sát kỹ sắc diện hai cô, bà Hai Lầu buồn rầu:

– Rõ ràng tụi nó bị bùa ếm đây mà!

Bà lấy chiếc mền nỉ đỏ đắp cho hai cô, xức dầu cù là trên ót, hai bên màng tang và ở mi tâm hai cô, đoạn bà ngắt cái đuôi hai lá trầu vàng dán lên mi tâm của họ. Bà quay qua em dâu:

– Tui chỉ chận được sự phát tác lộng hành của bùa ếm chớ không thể nhổ bứng hết bùa. Chắc là tui phải cầu thỉnh sư phụ tui chớ biết làm sao hơn!

Hai bà lững thững bước qua phòng khách. Tại đây cậu Ba Toản đang pha trà. Cậu thưa:

– Thưa hai má, hồi hôm con nằm chiêm bao thấy một ông già trạc sáu chục tuổi xưng là Hương cả Trần Văn Ðường, nội tổ của con. Úng biểu con nên ra bến sông vẽ bùa Lỗ Ban để nhổ cọc ếm cứu hai em.

Bà Ba Các giục:

– Vậy ba má con mình ra bến sông ngay đi.

Bà Hai Lầu ngăn:

– Việc gì gấp vậy? Phải đợi tới giờ Tị là lúc thiếu dương mới được. Thím chớ nóng ruột. Tui đã bắt ấn và dán đuôi lá trầu vô mi tâm tụi nó rồi, bùa êm không phát tác thêm được đâu.

Sau khi ăn chay và tụng kinh với hai bà mẹ xong, tới 11 giờ trưa, khi mặt trời sắp leo lên đỉnh ngọ, cậu Ba Ngọc Toản theo hai bà ra bến sông trước nhà. Nước trong vắt đã leo ngập bờ. Cậu Ba Toản cầm khúc cây nhọn vẽ bùa trên mặt đất mềm rồi dậm chân bảy cái. Kia kìa, cạnh bờ có bảy chỗ sôi ục ục, tỏa bọt trắng ngần. Cậu tuần tự thò tay xuống nhổ lên bảy cọc sắt có vẽ bùa bằng sơn đỏ.

Bà Hai Lầu lầm thầm niệm Phật rồi bảo:

– Vậy là hai em con đã hoàn toàn tai qua nạn khỏi rồi.

Trong nhà, hai cô Nhan, Nga vụt tỉnh cơn mê sảng, đòi chị cho uống nước. Thấy con chỏi hỏi, bà Ba Các mừng lắm. Cậu Ba ra vườn hái lá thơm để thím Chín Hiệp nấu nước cho hai cô tắm rửa, gội đầu.

Xế hôm đó, hai cậu Kim tới chơi. Bà Hai Lầu vui lắm, cầm họ lại ăn cơm chiều. Bà bảo em dâu:

– Thím coi đó, bây giờ gương mặt hai con đó sáng làu làu, môi thắm má đỏ lộng lạc khác thường.

Cô Hai Ngọc Dung thở một hơi dài khoan khoái:

– Có vậy nhà mình ăn Tết mới ngon. Mai con sẽ kho thịt, kho cá, hầm giò heo. Mốt con gói bánh tét và luộc đầu heo.

Cậu Ba Ngọc Toản cười vui vẻ:

– Còn tụi con sẽ làm pháo nồi và đặt một cái tên thiệt kêu: Bình địa nhứt lôi thanh.

 

Chương 13

 

 

Cái Tết tưng bừng trôi qua. Khách hành hương viếng am tấp nập cho nên thầy giáo Hớn hầu như suốt ngày ở bên am để tiếp khách. Ông Hương bộ Khâm, Xã Huề, cậu Bảy Trinh Tường cũng phụ giúp mọi việc trong ngoài cho bà Hai Lầu.

Ðến mồng mười, bà Ba Các cho cúng tất. Cây nêu được hạ xuống. Nhịp sống thường nhựt cứ như vậy mà xuôi chèo mát mái. Bà Ba Các và cô Hai Ngọc Dung chuẩn bị đường, đậu, bột nếp, bột gạo để làm xôi bánh cúng rằm ngươn tiêu. Sau đó vài ngày là đám hỏi của cô Hai Ngọc Dung.

Phía bên gia đình ông bà Quản hạt Thất, không có cái Tết nào buồn thảm bằng cái Tết nầy. Luật sư Hữu Vượng càng thêm ngơ ngẩn si ngốc. Kỹ sư Oánh thì lúc tỉnh lúc điên. Bà Quản định bụng qua rằm sẽ thỉnh thầy bùa Kim Sang đến giải bùa cho chàng rể tương lai.

Từ khi con Phước Vân bỏ nhà ra đi, đồng thời bùa ếm của bà nhắm vào anh em Xã Huề không có kết quả, bà cứ suy nghĩ lung tung, không hiểu hai sự việc kia có liên quan với nhau hay không! Cho nên bà sai bọn tôi tớ, nha trảo ra công dò xét. Vắng con Phước Vân, bà buồn rầu lung lắm. Bà đã nuôi dưỡng, yêu thương nó như con ruột, nay nhứt định nó lìa bỏ bà thì bà tránh sao khỏi đau đớn? Cuối cùng bà cũng biết tin con Phước Vân được cô Tư Minh Nguyệt chứa chấp; lúc đó bác sĩ Hữu Thạnh và cô Tư cũng đã ly dị xong.

Vợ chồng cậu Bảy Trinh Tường đã ra riêng. Ông Hai Dần cho cô trưởng nữ một mẫu đất để lập vườn. Nhờ cô Hai Kim Chung mà cậu Bảy được ông hiệu trưởng trường Le Myre de Vilers cho dạy học.

Ðám cưới của cặp Sáu Thọ Huệ – Richard Laporte và cặp Hai Thoại Hảo – Huy Chính được tổ chức đơn sơ. Bởi mẹ con cô có tì vết nên không dám làm đám cưới rình rang, sợ thiên hạ đàm tiếu.

Cô Tư Minh Nguyệt tuy có cảm tình với Lionel nhưng ngại tiếng thị phi, dùng dằng chưa quyết. Cô Hai Kim Chung khuyên:

– Cô là gái có phẩm hạnh, nhưng số phận cô chẳng ra gì, duyên nợ đã lỡ làng hai keo rồi. Cô khó mà tìm được người đồng chủng xứng đáng và thiệt bụng yêu thương cô. Lionel tuy là kẻ dị chủng nhưng nó chơn chất, tâm địa tốt. Ðã vậy nó lại là người trí thức, có tiền của, rất bảo đảm cho tương lai hậu vận cô.

Thế là cô Tư Minh Nguyệt xiêu lòng. Lionel bèn về Pháp để thu xếp mọi việc, hẹn năm sau sẽ trở qua Việt Nam để lập cơ sở và kết hôn với cô.

Lật bật mà tới lễ Phục Sinh. Am xây cất đã xong, nhưng ông Hương bộ Khâm còn khuyên bà Hai Lầu nên cất thêm nhà ngang dãy dọc theo hình chữ môn ở phía sau vào năm tới. Bà Hai Lầu cười:

– Vậy thì đây là cái chùa chớ đâu phải cái am!

 

Một sáng sớm, bà Hai Dần đang ép bún, con Tý xay bột, còn cô Hai Kim Ðiệp đang nấu món suông trong bếp thì Ba Hưởng đến, ngỏ ý:

– Cháu tới rủ Lân, Luông đi Cai Lậy thăm chị Hai Kim Chung và cô Tư Minh Nguyệt.

Bà Hai Dần mừng rỡ:

– Cháu tới đúng lúc quá, ở đây ăn tô suông rồi hẵng đi.

Bà Hai Dần có bổ một mớ thuốc tễ chuyên trị điều hoà kinh nguyệt cho cô Hai Kim Chung; cô Hai Kim Ðiệp cũng gởi cho người chị họ xâu chuỗi hổ phách và tấm tranh Nam Hải Quan ẽm. Cuộc đi Cai Lậy của Ba Hưởng và hai cậu Lân, Luông thiệt hợp thời đúng lúc.

Món suông dọn lên, trong bữa ăn cậu Bảy Trinh Tường cho mọi người biết:

– Nghe nói thầy bùa Kim Sang đang ở bên nhà bà Quản hạt Thất, không hiểu để làm gì!

Cô Hai Kim Ðiệp trấn an:

– Em tin rằng dẫu họ có làm gì đi nữa thì mấy gia đình bên mình cũng an toàn; bởi lẽ trước đây ông Ðạo Hy Mã đã cho mình bửu bối đề phòng, anh quên rồi sao?

Cô Hai Kim Chung đã về ở chung với Tám Cao Phi Huỳnh. Cô không còn ăn mặc huê mỹ, phấn trét son tô, đầu chải chín lượn mười mồng nữa. Cô ăn bận giản dị, tóc chải bảy ba, mặc bộ đồ lụa lèo màu hột gà coi thiệt thanh tao kiều diễm.

Ba Hưởng và hai cậu Kim sau đó ghé thăm cô Tư Minh Nguyệt. Cô đã tìm lại niềm vui sống. Còn con Phước Vân giờ tuy vẫn mảnh khảnh nhưng sắc mặt hồng hào, môi tươi thắm, ánh mắt rạng rỡ khác thường.

Gặp lúc không có ai, con Phước Vân thỏ thẻ với Ba Hưởng:

– Hôm qua cô Tư Minh Nguyệt đưa em đi chợ Mỹ Tho mua vải sồ, thuốc tây. Vừa ở tiệm vải bước ra, em thoáng ngó thấy cô út Thiên Kim, em lủi chỗ khác nhưng không kịp. Cổ kêu tên em và nói với: “Mầy đi chung với chị Tư Minh Nguyệt, tao biết hết trọi rồi!”

Ba Hưởng gãi đầu, than:

– Thế nào hai mẹ con họ cũng trả thù. Trước hết họ sẽ dọ hỏi vì sao em ở nhà cô Tư. Phăng được đầu giây mối nhợ, họ sẽ tìm cách ám hại gia đình anh, cô Tư và em cho coi.

Ðiều Ba Hưởng đoán quả y chang. Cùng ngày hôm đó, thầy bùa Kim Sang đến viếng bà Quản hạt. Bà than thở:

– Tui nuôi con Phước Vân, ai dè nó tư ước với thằng Ba Hưởng, hoá giải hết bùa ếm của Tà Noọt rồi trốn đi ở chung với con dâu cũ của tui. Thầy có cách chi để tàn hại gia đình Hương bộ Khâm, đứa con dâu vô nghì Tư Minh Nguyệt cùng con đĩ phản chủ nọ giùm tui không?

Thầy bùa Kim Sang cười:

– ễ miệt Năm Non Bảy Núi nầy, có ai giỏi bùa hơn anh em Tà Noọt, vậy mà họ hại không nổi mấy người đó thì tui đây mà nhằm nhò chi! – Nhưng tuy nói vậy mà thầy vẫn tiếp tục lôi ra một cái thùng thiếc trắng, cười bí mật và nham hiểm: Tuy nhiên, hễ còn nước thì còn tát!

Thầy mở thùng. Bà Quản hạt Thất cúi đầu dòm vô, la lên:

– Mèn ơi, hai con rít!

Hai con rít nầy lớn cỡ ngón cẳng cái, dài cỡ sải tay. Chúng không có màu nâu đỏ giống màu gỗ giáng hương như những con rít bình thường mà đen như huyền giồi. Thầy Kim Sang đắc chí:

– Hai con độc trùng nầy được nuôi bằng bùa đó đa. Chỉ cần một chút xíu nọc nó thả vô lu nước là giết được nguyên nhà.

Bà Quản Thất vui vẻ:

– Nên thả vô hàng lu hũ của nhà Hương bộ Khâm trước đã, sau đó mình tính tới mấy gia đình kia.

– Phải đặt lá bùa vô lu nào thì hai con độc trùng nầy mới nhả nọc vô lu đó.

– Khó gì việc đó! Ðể tui sai bọn tá điền trà trộn vô nhà họ.

Bà sai con Thiệp mổ gà làm cơm đãi khách. Sau đó bà cho đòi con Cưỡng, chị ruột thằng Bụng, dặn:

– Mầy đặt lá bùa nầy vô lu nước mưa nào mà cả nhà đang lấy nước uống cho tao.

Con Cưỡng gãi đầu:

– Thưa bà, làm sao con biết được lu nào họ đang lấy nước uống?

Bà Quản Thất nhét hai tấm giấy năm đồng vô túi nó, nói:

– Mầy ngu quá! Tới nhà họ, mầy giả bộ khát nước, xin nước mưa để uống. Hễ họ chỉ lu nào thì đó là lu mà tao nhắm tới. Thừa lúc không có ai, mầy nhét lá bùa nầy giữa hai cái lu đó là xong!

Trời buổi xế, nắng uôi uôi. Sau khi con Cưỡng xách đít đến nhà ông bà Hương bộ Khâm, giả đò mua mắm cá cơm để tìm cơ hội nhét bùa ếm, cô út Thiên Kim, do lời thúc giục của mẹ, sửa soạn ra chợ Mỹ Tho thăm kỹ sư Oánh. Thiệt tình cô chán ông ta quá chừng chừng, nhưng giờ đây cậu Bảy Trinh Tường đã yên bề gia thất rồi, cô còn hy vọng gì nữa đâu! Bởi vậy nên khi đi thăm vị hôn phu, cô không thiết trang điểm choáng lộn nữa, chỉ mặc chiếc áo lụa trắng, đeo trân châu, không chải đầu mồng, không son phấn, không xức dầu thơm.

Bà Phủ Trạch, mẹ kỹ sư Oánh, thấy cô út tới viếng, mừng lắm. Bà mời cô ở lại ăn cơm tối và hứa sẽ cho tài xế lái xe đưa cô về Bến Chùa. Bà cho biết:

– Thằng Oánh độ rày có vẻ tỉnh táo hơn. Nó bắt đầu đọc sách như xưa, tối ngủ cũng thẳng giấc. Ðể má kêu nó ra tiếp chuyện con.

Quả nhiên kỹ sư Oánh hôm nay có vẻ thơ thới khoẻ mạnh. Ông mặc bộ đồ lục soạn trắng ủi thẳng nếp, tóc chải rẽ, râu ria cạo nhẵn nhụi. Vừa thấy cô út, ông mừng đến ứa nước mắt làm cô cũng cảm động. Ông mời cô ngồi ở bàn uống nước và tự tay pha nước cam, gọt trái cây mời cô. Cô út Thiên Kim mừng khấp khởi bảo bà Phủ Trạch:

– Má nói đúng đó, anh Oánh con đỡ nhiều rồi.

Bà Phủ Trạch bùi ngùi:

– Hổm rày nó có bụng trông con, cứ nhắc tới con hoài.

Bà vào trong để cả được tự do. Kỹ sư Oánh kể cho cô mọi việc xảy ra hàng ngày, giọng chậm rãi, sắc mặt điềm đạm, hiền từ. Bỗng một luồng gió lạnh thổi tới. Ông nhìn cô út trừng trừng. Quỉ thần ơi, trước mặt ông nào phải vị hôn thê xinh đẹp duyên dáng mà ông hằng tưởng nhớ! Ðây là một quỉ mặt xanh nanh bạc, hơi thở ngùn ngụt khói đen, cái nhìn dọa dẫm xoáy vào ông. Cơn điên làm đầu óc ông nóng rực. Ông chụp con dao gọt trái cây rạch vô mặt con quỉ, miệng mắng chửi liên hồi:

– Ðồ yêu tinh ma quái! Mầy vô nhà tao làm chi? Tao phải giết mầy để trừ hậu họa!

Cô út Thiên Kim kinh hoảng la bài hải, kêu cứu lạc cả giọng. Tới khi mọi người trong nhà đổ xô ra thì kỹ sư Oánh vẫn còn cầm dao, mắt đỏ ngầu, miệng sùi bọt. Còn cô út Thiên Kim đứng nấp trong góc phòng, đưa tay bưng mặt, máu chảy chan hoà nhỏ giọt.

*

*  *

Trong lúc cả nhà ông Quản hạt Thất lăng xăng vì vết thương trên mặt cô út Thiên Kim thì bên nhà ông Hương bộ Khâm cũng chộn rộn vì đám giỗ của bà cụ thân mẫu ông trong vòng hai hôm nữa. Con Cưỡng đã nhét bùa vô kẽ lu. Tối hôm nay, thầy bùa Kim Sang sẽ thả cặp rít để chúng nhả nọc vô lu nước.

Tối hôm đó, bà Hương bộ Khâm, vợ Xã Huề và đứa con gái đầu lòng của Xã Huề đến am bà Hai Lầu nghe kinh và ngủ luôn ở đó để sáng hôm sau đi viếng các am phía bên Rạch Miễu.

ễ nhà, ba cha con ông Hương bộ Khâm buồn tình, mong khách đến chơi. Quả nhiên khi trăng lên khỏi bụi trúc đầu ngõ thì thầy giáo Hớn tới:

– Buồn tình, cháu đi chơi trăng, vui chơn đi ngang đây ghé thăm bác, anh Xã và cậu Hưởng.

Xã Huề niềm nở:

– Bác Hai Dần vừa cho tía con tui nửa cân hồng khô và vài lượng chà là. Ðể tui nấu nước châm trà để bà con mình thưởng thức món mứt của mấy ông Ba Tàu.

Thầy Hớn vừa ngồi xuống trường kỷ thì Ba Hưởng vào trong lấy đèn măng-sông ra bơm hơi, thắp sáng. Nhà ông Hương bộ Khâm đang hồi khá giả nên dẹp bàn ghế bằng gỗ thao lao để thay bằng gỗ trắc, gỗ cẩm lai. Mấy tấm liễn kiếng sản xuất ở Lái Thiêu được thay bằng liễn máng xối sơn son thếp vàng lộng lẫy. Bàn thờ đức Quán Thế ẽm ở giữa nhà với bức tượng thếp lụa Tô Châu vàng óng. Còn bàn thờ ông bà hai bên được khảm xa cừ, bày lư hương và chân đèn chùi sóng bóng như vàng diệp.

Trong nhà, ánh đèn măng-sông trắng như nước suối. Ngoài hàng ba, ánh trăng trong vắt lồng qua cành lá đám cây ăn trái, rọi lóng lánh trên lá rau bồ ngót, rau diếp quăn ở vạt đất trồng rau. Mới đầu canh một. Văng vẳng đâu đó tiếng chày giã gạo cắc cum, thỉnh thoảng điểm từng tràng chó sủa trăng ăng ẳng.

Xã Huề ra lu múc nước đổ vô ấm trong khi Ba Hưởng bày rề-sô đốt lửa nấu nước. Ông Hương bộ Khâm bày khay chén pha trà. Cuộc trò chuyện thập phần tương đắc.

Ba Hưởng đang ăn trái chà là, bỗng than:

– Tối nay gió mát trăng trong, bà con mình uống trà ăn mứt coi bộ không nồng mặn rồi đa!

Ông Hương bộ cười:

– Nhà có rượu, có đồ làm mồi nhắm, nhưng má con và chị dâu con đi khỏi, tía biết nhờ cậy ai?

Ba Hưởng hăng hái:

– Thì có con đây chi! Con luộc trứng bắc thảo, nướng khô cá gộc là xong.

Xã Huề bàn:

– Ðể con xách gào-mên đạp xe xuống Ngã Ba Trung Lương. Mới giữa canh một, tiệm ăn còn mở cửa, con mua thêm mấy món đồ xào là bữa nhậu tươm tất ngay.

Ông Hương bộ Khâm gật đầu khen phải. àm trà vừa rồi không gây phản ứng gì ở thể chất các ẩm khách. Chẳng hiểu có phải nước sôi đã làm nọc rít mất sức tác hại hay không!

Khi Xã Huề đạp xe đi mua đồ nhắm thì ông Hương bộ Khâm dẹp rề-sô và bộ đồ trà để thay thế bằng bộ nhạo, chung và chai rượu thuốc. Chừng nửa giờ sau, mâm đồ nhắm thịnh soạn dọn ra. Cả bốn uống cạn chai rượu thuốc cỡ một lít. Ông Hương bộ bảo Ba Hưởng:

– Con ra hàng ba múc cho mỗi người một tô nước mưa để chữa lửa. Tía cảm thấy cháy cổ khô họng rồi đây.

Bốn tô nước mưa được bưng vào đặt trên bàn. Ông Hương bộ mở tủ lấy thêm chai rượu thuốc nữa. Ông cầu kỳ rửa nhạo và chung vì đây là thứ rượu khác, phải dùng nhạo và chung sạch để không bị thứ rượu cũ làm hư mùi vị. Trong lúc ông loay hoay lau rửa thì thầy giáo Hớn và hai người con ông uống nước mưa. Bỗng thầy giáo Hớn gục xuống bàn, rên rỉ:

– Trời ơi, sao tui đau bụng nhức đầu quá vậy nè!

Ba Hưởng cũng ngã xuống đất, dãy đành đạch. Xã Huề mắt lộn thinh, mặt nhăn nhó, miệng sùi bọt quáp rồi ngã lăn bất tỉnh. Ông Hương bộ lanh trí hiểu rằng có cái gì đó độc hại trong tô nước mưa nên vội mở tủ chè lấy chiếc hộp giấy cứng đựng hai hườn thuốc tễ mà ông Ðạo Hy Mã tặng hồi lúc trước ra. Ông lấy cái tô sứ, múc nước trong lu bầu đạy nắp đặt dưới bếp rồi bóp bể lớp sáp bọc, hoà thuốc trong tô. Thuốc sủi bọt, tan mau lẹ. Ông chia nước ra làm bốn phần, uống một phần rồi cạy miệng từng nạn nhơn một để đổ thuốc vào.

Ông Hương bộ dẹp chén bát, ngồi bó gối chờ sự công hiệu của thuốc. Ông cảm thấy sôi bụng và mắc cầu. Khi từ cầu tiêu bước ra, ông cảm thấy dễ chịu hẳn.

Thầy giáo Hớn và anh em Xã Huề theo nhau tỉnh dậy. Mỗi người đều mửa một đống nhớt và đi cầu để xổ hết độc tố. Khi ai nấy đã tỉnh mỉnh, ông Hương bộ Khâm bảo:

– Tía con mình nên ra lu nước mưa coi thử!

Xã Huề đốt đèn Huê kỳ rồi cùng cha và em bước ra hàng lu dự trữ nước mưa. Tiên nhơn tổ đường ơi! Một lớp váng mỏng sáng lóng lánh nổi trên mặt nước. Ông Hương bộ Khâm kinh hãi:

– Thiệt tía nghi đâu trúng đó! Nước trong lu nầy có thuốc độc!

Ba Hưởng tiếp tục rọi khắp dãy lu, sau cùng khám phá ra đạo bùa nhét ở kẽ lu. Ông Hương bộ ngẫm nghĩ:

– Lá bùa nầy chắc có liên quan tới chất thuốc độc bỏ vô lu chớ chẳng không.

Ông cùng hai người con bưng lu đổ hết nước rồi vô nhà. Thầy giáo Hớn đã chỏi hỏi. Ông Hương bộ Khâm dã lã:

– Xui quá! Chẳng mấy thuở thầy giáo tới đây cụng ly, chẳng ngờ gặp nạn!

Thầy giáo Hớn tươi cười:

– May mà bác chưa kịp uống tô nước dành riêng cho bác.

Ba Hưởng nhìn về phía chợ Bến Chùa, hằn học:

– Ngày nào họ còn ở đây thì bà con mình khó mà an ổn!

Xã Huề lo quét dọn lau chùi nền gạch tàu. Ba Hưởng rửa chén dĩa chung nhạo để xếp vô tủ. Lúc đó trống vừa điểm canh năm, ông Hương bộ Khâm bảo Ba Hưởng nấu một nồi cháo đậu xanh để giải rượu và giải độc.

*

*  *

Bà Quản Thất biết tin ba tía con ông Hương bộ Khâm thoát nạn nọc rít, nhưng không quan tâm lắm. Bà đang bận lo lắng cho vết thẹo của cô út và cơn điên của luật sư Hữu Vượng. Thầy bùa Kim Sang trước khi từ giã về Trà Vinh, có trao cho cô út một lá bùa, dặn cô dán đủ 21 ngày rồi hẵng bóc ra.

Ấc nghiệt thay, khi lá bùa được gỡ ra, cô út thấy ngay vết thẹo thâm tím và nổi cộm vắt qua gò má. Mặt cô vốn không hiền, vết thẹo ghê gớm kia làm cho phần da chung quanh nhăn nhúm khiến khuôn mặt cô trở thành dữ tợn kỳ cục. Nhìn vào kiếng, cô hét lên rồi xỉu dài. Lúc đó cô mới nhớ lại lời vong hồn ông ngoại cô đã báo trước về cái ác quả mà cô sẽ phải gặt. Cô cứ nằm trong buồng khóc rấm rứt, không biết tính sao cho trơn, làm gì để vượt qua được chặng đời khó khăn này. Cô sai thằng Bụng ra Mỹ Tho dọ tin thì mới hay kỹ sư Oánh trở điên nặng hơn. Lòng cô bỗng gợn lên một tình cảm se sắt. Hơn lúc nào hết cô vụt quên vết thẹo quái ác trên mặt cô mà chỉ nghĩ tới chứng điên loạn của vị hôn phu do mẹ con cô gây ra. Rồi cô nhìn lại người anh thứ của mình. Trời ơi, có phải ác báo hiện hành, ác quả chín mùi đã đến với gia đình cô đó chăng?

Rồi một hôm, cô út Thiên Kim ra chợ Mỹ Tho để viếng ông bà Phủ Trạch. Cô nhìn bức tranh A Di Ðà Tam Tôn thờ ở trung đường, ánh sáng tâm linh bỗng rọi vô tâm thức cô. Cô bùi ngùi cảm khái, chắp tay bảo ông bà Phủ Trạch:

– Anh Oánh con nếu không hết bịnh thì con cũng nguyện ở vậy chăm sóc ảnh tới trọn đời.

Giải quyết được vấn đề đang đè nặng lương tâm, cô cảm thấy lòng đỡ bị vò xé. Ðêm đó cô chiêm bao thấy một người đờn ông tuổi cỡ bốn mươi ngoài, mặt mũi khôi ngô, dáng dấp tao nhã, vui vẻ nói:

– Lành thay! Lành thay! Chỉ một thiện niệm đưa vào tâm niệm, một khi gặp duyên lành sẽ thành thiện chủng, sẽ biến tâm độc thành tâm từ bi rồi thành tâm bồ đề vậy!

Riêng bà Quản hạt Thất từ bao tháng qua bắt đầu suy nghĩ về mọi việc bà đã làm. Mỗi khi ngồi vào mâm cơm, nhìn nét mặt khờ khạo của luật sư Hữu Vượng và vết sẹo quái ác trên mặt cô út Thiên Kim, bà cảm thấy mình đang phải đối đầu với cái oan nghiệt mà có lẽ bà phải gánh vác suốt quãng đời còn lại.

Ðã vậy, mỗi khi bà cùng cô út đi chợ mua sắm, tụi con nít còn hát những câu đồng dao đau điếng:

Ông kia đi cưới cô Tư,

Mặt cô có thẹo, ổng trừ đôi bông.

ìi, kỹ sư Oánh đâu còn tỉnh táo để cưới vợ! Mà nếu cô út muốn lấy được chồng thì bà phải dùng tiền của ruộng đất để bù cái thẹo của cô chớ đôi bông mà đàng trai trừ đi nào có nhằm nhò chi!

Luật sư Hữu Vượng càng ngày càng suy nhược. Suốt ngày ông ngồi thừ người, ban đêm không chịu ngủ, ban ngày không đòi ăn. Ðược cái là khi mắc tiêu tiểu, ông còn biết vào nhà cầu. Ông cũng không la hét, không nói nhảm, đập phá… nhờ vậy cả nhà không bận bịu nhiều vì ông.

ìi tiền của mà chi, quyền cao tước trọng mà chi! Nếu giàu có cỡ muôn vạn hộ mà không cứu vớt nổi hai đứa con như hai núm ruột của bà thì cuộc đời cũng chẳng có nghĩa lý gì nữa!

Một buổi sáng, bác sĩ Hữu Thạnh từ Mỹ Tho lái xe về chơi. Tuy nhà có chuyện buồn, bà cũng sai con Hiếu ra chỗ cất vó mua tôm, sai con Thiệp làm gà để nấu món ngon đãi thằng trưởng nam.

Lựa lúc chỉ có hai mẹ con, bác sĩ Hữu Thạnh tâm sự:

– Má ôi, con mắc bịnh cùi!

Câu nói như sét đánh ngang tai! Bà nhìn khuôn mặt sần sùi và đỏ ửng của con mà lao đao muốn xỉu. Bác sĩ Hữu Thạnh kể lại cái đêm hai anh em giao hiệp với hồn quỉ nhập xác gái cùi, rồi ngậm ngùi:

– Thằng Hữu Vượng tuy không lây bịnh nhưng vì khủng khiếp quá nên thần kinh nó mới thác loạn như vậy… Tội này là bịnh tội phước báo ứng đó má à!

Khi bác sĩ Hữu Thạnh trở về Mỹ Tho thu xếp mọi việc thì bà Quản Thất gọi con gái lại thuật đầu đuôi mọi chuyện và khóc lóc nỉ non. Cô út Thiên Kim điềm nhiên khuyên bảo mẹ:

– Má à, đây không phải là lúc má con ta khóc lóc than thở nữa. Mình đã gieo nhơn ác, giờ phải gặt quả ác, đó là lẽ công bình! Má cùng con phải rèn luyện can đảm và ý chí để kham nhẫn, tìm cách giải bớt ác nghiệp. Nếu không, kiếp sau mẹ con mình còn phải lận đận trả quả nữa.

Bà Quản Thất bệu bạo:

– Tao phải đi Sóc Trăng tìm hai anh em Tà Noọt, Tà Nặc để dùng bùa trị bịnh cho hai thằng anh mầy, cùng là trị vết thẹo gớm ghiếc của mầy. Còn nước còn tát, mầy chớ nản lòng.

Cô út buồn rầu:

– Bịnh thì có bùa phép, y phương dược liệu để trị. Nhưng chẳng có bùa phép, y dược nào trị được cái ác báo hiện hành!

Rồi cô thuật giấc mộng của mình cho mẹ nghe. Bà Quản hạt tuy biết con mình nói phải, nhưng không lẽ bà khoanh tay ngồi coi vi trùng cùi đục khoét thân thể thằng con lớn, coi cơn điên hành hạ tâm trí thằng con thứ và ngó vết thẹo trên mặt cô út bày ngày này qua ngày nọ trước mắt bà?

Trong lúc cậu Ba Ngọc Toản và cô Hai Tố Trinh vừa đậu bằng thành chung, cả nhà mổ heo ăn mừng. Bà Quản Thất cùng con Hiếu lần mò xuống Sóc Trăng. Sau ba ngày đi hết đò máy, xe đò rồi xuồng ba lá, bà đặt chơn tới nhà anh em phù thủy gốc Miên kia. Một người đờn bà Miên mặc áo đen, bịt răng vàng bước ra tiếp. Y thị khóc lóc thảm thiết:

– Hai anh tui bị chó điên cắn mà không lo chữa trị. Tới lúc bịnh phát tác, họ ngộp nước rồi tru rống như chó cả bảy ngày rồi chết, đau đớn không sao kể xiết!

Nghe tới đó, bà Quản hạt ngã ngửa chết giấc, báo hại người đờn bà Miên và con Hiếu phải phun nước lạnh, giựt tóc mai kêu bà lai tỉnh. Khi tỉnh dậy, bà khóc kể om sòm. Bà tiếc thương hai tên phù thủy kia có một, nhưng thương cho hoàn cảnh bi đát của lũ con bà tới mười.

Thế rồi hai chủ tớ lặn lội ra về. Vì đau buồn thái quá, bà Quản Thất ngã bịnh nằm mê man. Khi bà tỉnh dậy thì thấy cô út Thiên Kim đang đổ từng muỗng trà sâm vô miệng bà, năn nỉ bà ăn chén cháo nấu với bạch quả. Bác sĩ Hữu Thạnh, nước mắt đoanh tròng, thưa với mẹ:

– Má ôi, đây không phải là lúc cả nhà mình ngồi bó gối khoanh tay mà nhìn cái ác quả hiện hành rồi than khóc nỉ non nữa. Trọn đời con, con tạo tác ác nghiệp khá bộn: hại bạn để đoạt vợ, lường gạt gái nhẹ dạ để phá trinh, tạo con rơi con rớt rồi bỏ bê. Con phải tìm cách bù đắp cho lũ em Kinh lý Thận, giúp đỡ các cô gái mà con đã dụ dỗ và nhứt là tìm lũ con rơi về đây cho ba má nuôi dưỡng. Có vậy dòng họ mình mới khỏi tuyệt tự và con mới yên lòng vào trại cùi bên cù lao Rồng.

Cô út Thiên Kim cũng rưng rưng nước mắt:

– Dù vết thẹo con có lành, con cũng nguyện ở vậy một khi anh Oánh chưa hết điên để săn sóc ảnh.

Ông Quản hạt Thất năn nỉ vợ:

– Mình ôi, mình hãy vì con vì tui mà rán sống. Mình mà chết đi thì tui biết cậy ai? Thằng Ba đang cần tới mình.

Bà Quản hạt Thất chỉ biết cầm tay chồng, tay con mà khóc hu hu. Thằng Kiếp dìu luật sư Hữu Vượng tới. Nụ cười ông ngây ngô hiền hậu. Không hiểu nghĩ gì trước cảnh tượng cả nhà bi lụy mà ông cầm tay mẹ:

– Ðừng khóc! Ðừng khóc! Con đau lòng lắm!

Bà Quản hạt ôm chầm thằng thứ nam, khóc thêm một chặp nữa.

Hôm đó, bịnh bà thuyên giảm thấy rõ. ụ chí tranh thủ, quật cường làm bà hồi sinh. Bà sẽ không dùng ý chí đó để tranh danh đoạt lợi hay hãm hại kẻ khác nữa mà nương tựa vào nó để đem thiện trị ác, đem ánh sáng kham nhẫn soi rọi vào nỗi bất hạnh của gia đình bà kể từ đây.

Bà hỏi han bác sĩ Hữu Thạnh về tông tích các hòn máu bỏ rơi của con mình. Bà cũng dẹp bỏ bàn thờ Thiên Ma Ba Tuần để thay bằng gian thờ Phật. Chưa bao giờ bà cảm thấy khoẻ khoắn, ham sống hơn. Sống để chuộc tội, sống để đem thiện nghiệp hoá giải ác nghiệp.

Bà bảo chồng:

– Mấy đứa nhỏ đó lẩn quẩn ở gần đây. Ông nên cho người tới rước tụi nó về.

Ông Quản hạt Thất cười:

– Hai đứa con gái giống cô út của tụi nó quá chừng chừng. Còn thằng Phú thì giống chú Ba tụi nó như đúc. Thằng Phát không giống tía nó mà giống má nó nên trắng trẻo đẹp trai lắm!

Hai vợ chồng nhìn nhau, cảm thấy mình đã đi một phần chặng đường hành hương. Bà Quản hạt cảm xúc:

– Khi nào hội đủ lũ cháu nội về đây, tui sẽ trường trai và thọ giới cận sư nữ.

Ông Quản hạt nhìn vợ, dè dặt:

– Mình nghĩ có nên cầu huề với vợ thằng Hai Lầu và vợ thằng Ba Các không?

Bà Quản hạt cười:

– Tui sẽ nhờ anh chị Hai Dần nói giúp. Mình mà nhích tới gia đình hai đứa em cùng cha khác mẹ của mình thì lẽ nào tui dong xa gia đình người anh cùng cha khác mẹ của tui hay sao! Tui tin rằng ba gia đình mình sẽ có cơ hội hàn gắn tình cảm với nhau.

 

Chương cuối

 

 

Năm năm sau.

Một buổi sáng, bà Quản hạt Thất từ vườn bước vào nhà, tay cầm trái mãng cầu xiêm mập núc thì hai cô gái nhỏ cỡ mười tuổi từ trong buồng chạy ra. Tuyết Mai, mặc áo đầm đỏ rắc bông trắng, rối rít:

– Nội ơi, anh Phát và anh Phú thi đậu vô trường Le Myre de Vilers rồi.

Tuyết Nga, mặc áo đầm trắng rắc bông xanh, nhấn mạnh:

– Anh Phát đậu hạng tư, anh Phú đậu hạng chín lận đó nội.

Bà Quản Thất mừng rỡ:

– Có vậy hay sao? Mà hai thằng anh bây đâu rồi?

Tuyết Mai:

– Mấy ảnh không dè bữa nay yết bảng, may là sáng nay anh Tráng, bạn mấy ảnh, đạp xe vô báo tin nên mấy ảnh đón xe thổ mộ ra ngoài trường rồi.

Bà Quản bảo cháu:

– Tuyết Nga, con dắt em con ra lò heo, kêu thằng Bảy Vận vô đây cho nội dạy việc.

Dặn xong, bà Quản đi xuống bếp. Cô út Thiên Kim đang sửa soạn cơm trưa. Cô xắt mực tươi và lóc thịt cá thác lác. Cô ngửng lên nhìn mẹ:

– Tụi thằng Phát, thằng Phú học không miệt mài thái quá mà vẫn đậu cao.

Bà Quản Thất cười:

– Trải qua bao tai biến mà hồng phước nhà mình vẫn còn, má cũng mừng. Hai con Tuyết cũng thông minh sáng dạ.

Cô út không nói gì, trưa trờ trưa trật rồi, cô phải làm thúc làm riết cho xong. Bà Quản bảo con gái:

– Ðể má làm bếp tiếp cho, con ra ngoài nhà thủy tạ coi chồng con và anh Ba con làm gì ở ngoải.

– Có vợ chồng con Phước Vân ngoài đó rồi, má cứ an tâm.

Bà Quản nhắc nhở:

– Con nhớ làm thịt chà bông và chấy tôm trứng cho anh Hai con, đừng quên.

Khi cô út đi ra ngoài nhà thủy tạ, bà Quản Thất bảo con Hiếu đang sắp mâm dọn chén:

– Lát nữa mầy thay bông khắp bàn Phật, nhớ đơm mận, cam, quít ở các dĩa quả tử. Tối nay có bà Hai Lầu tới giảng kinh đó, nhớ lo trà bánh và nấu cho tao nồi cháo chay.

Năm năm qua, trên con đường trở về cứu chuộc, gia đình ông bà Quản hạt Thất đã đi được ba phần tư. Hai ông bà đã gom về dưới mái nhà này lũ con rơi của bác sĩ Hữu Thạnh, đã giúp vốn mẹ chúng hoặc bên ngoại chúng cơ hội làm ăn. Bác sĩ Hữu Thạnh qua ở trại cùi bên cù lao Rồng bên kia sông Mỹ Tho, có nhờ cô Tư Minh Nguyệt đem phần ba gia tài của ông giúp đỡ các em quan kinh lý Thận. Trước sự thành tâm cải hối của bác sĩ Hữu Thạnh, cô Tư Minh Nguyệt nối lại sự giao hảo với gia đình ông bà Quản hạt. Cô đã đẹp duyên với Lionel Laporte, sinh cho chàng hai cậu con trai kháu khỉnh nhưng vẫn viết thư thăm hỏi, an ủi chồng cũ đều đều.

Con Phước Vân từ Cai Lậy trở về. Bà Quản Thất gả nó cho Ba Hưởng và thâu dụng cả hai làm quản gia. Ba Hưởng giúp ông Quản Thất đắc lực, còn con Phước Vân tận tụy giúp cô út Thiên Kim săn sóc luật sư Hữu Vượng và kỹ sư Oánh.

Luật sư Hữu Vượng lần lần lai tỉnh. Bùa mê thuốc lú trải qua năm năm cũng mất hết tác dụng với kỹ sư Oánh, nhưng họ không thể hoàn toàn bình phục nên khó ra đời để sanh cơ lập nghiệp. Bà Phủ Trạch nói với bà Quản Thất:

– Miễn là con tui tỉnh táo. Nhà tui có tiền, có ruộng, để mai sau con dâu tui coi sóc và thâu huê lợi.

Kỹ sư Oánh lấy cô út Thiên Kim, quyết ở Bến Chùa chớ không về Mỹ Tho. Ông bám vợ như sam, hễ cô út vắng nhà hơi lâu là trông đứng trông ngồi. Còn luật sư Hữu Vương không chịu lấy vợ. Ông thưa với cha mẹ:

– Hồi xưa con sưng quai bị mà không săn sóc kịp lúc nên nếu có vợ cũng sẽ chẳng thể có con được. Vả lại trải qua tai biến, lửa dục con đã tắt, chẳng thà ở vậy săn sóc ba má và lũ cháu mà phải hơn.

Về phần cô út, sau một thời gian, vết sẹo trên mặt cô không còn nổi cộm, thâm tím nữa mà lì xuống. Tuy nó không mất hẳn nhưng chỉ còn mờ mờ. Từ khi quyết tâm cải ác tùng thiện, dung quang cô trở nên rạng rỡ khác thường, không mấy ai còn để ý đến vết thẹo kia nữa.

Bệnh cùi của bác sĩ Hữu Thạnh tuy không phát tác nhưng cũng không chịu hết. Với thành tâm, ông tình nguyện phụ giúp các bác sĩ, y tá trông nom, an ủi các bịnh nhơn khác không nề gớm ghiếc, cực khổ. Còn thì giờ rảnh, ông đọc sách, viết nhật ký và tham khảo kinh kệ. Tuy xa nhà nhưng ông vẫn nhận được thư và ảnh của gia đình nên không hề cảm thấy cô đơn, tuyệt vọng.

Gia đình ông bà Quản hạt Thất nhờ hoạt động hăng say vào các công cuộc lợi tha mà quên đi nỗi bất hạnh của gia đình mình. Qua ông bà Hai Dần, bà Quản Thất tiếp xúc với bà Hai Lầu, bà Ba Các, bà Hương bộ Khâm, bà Giáo Toàn. Tấm lòng thành của bà lần lượt gột rửa thành kiến và nghi kÿ của họ đối với bà.

Một hôm, một người khách đen đúa, cao lớn đến nhà bà Quản Thất. Ông ta tự xưng là Kim Ba, em ruột của thầy bùa Kim Sang. Ông kể:

– Anh tui có nuôi hai con rít bằng ngải, nọc rất độc. Bữa kia ảnh say rượu, mở nắp thùng thiếc, tụi nó chui ra cắn ảnh sùi bọt quáp, mắt lộn thinh, chết tươi thiệt dễ sợ!

Bà Quản chỉ biết thở dài, an ủi Kim Ba và tặng ông ta ít tiền.

Anh em Tà Noọt, thầy bùa Kim Sang đã ra người thiên cổ, cắt đứt bà Quản Thất khỏi cuộc đời bùa chú, ngải nghệ. Do sự khuyên bảo của bà Hai Lầu, bà tụng kinh Kim Quang Minh cho các tinh linh ngải nghệ và bà Hai Lầu giảng Thập Nhị Nhân Duyên cho chúng nghe. Cho đến một hôm, các cây ngải nghệ đều chết rũ, gốc teo tóp. Ðêm đó bà nằm mơ thấy những hình sương dáng khói mơ hồ đến chào và cảm ơn để bước sang cõi khác.

Tưởng nhớ đến cựu tình với anh em Tà Noọt và thầy bùa Kim Sang, bà Quản Thất cũng tụng kinh hồi hướng công đức cho vong linh họ. Bà còn giúp Phước Vân bỏ tiền in kinh, trì tụng kinh Pháp Hoa và kinh Ðịa Tạng cầu cho bà Thạch Thơm được đầu thai nơi nhà lương thiện. Trên con đường hoá giải ác nghiệp, giúp đỡ người sống lẫn người chết đã vì gia đình bà chịu bao oan nghiệt, bà Quản Thất được sự chung lưng đấu cật của cả chồng và con nên bà không thấy tai ương bất hạnh đáng kinh sợ nữa.

Bà đang suy nghĩ lan man thì ông Quản hạt cùng hai thằng cháu nội về tới. Phát năm nay được 12 tuổi, lớn vóc, nước da đen dòn, mặt mũi vui vẻ, có duyên, cười có lúm đồng tiền bên khoé miệng. Phú cũng khá lớn vóc, trắng trẻo, mặt mũi thanh tú, đẹp trai hơn anh nhưng không mặn mòi bằng.

Ông Quản hạt sai thằng Bụng ra xe lấy các món vô nhà rồi về buồng thay đồ mát. Ông chỉ hộp trà Thiết Quan ẽm và chai rượu Cointreau, bảo vợ:

– Của cô Sáu Thọ Huệ và con Hai Thoại Hảo tặng đó.

Bà Quản nhìn chồng, sửng sốt. Ông cười, giải thích:

– Tui ăn điểm tâm ở tiệm nước gần rạp thầy Năm Tú thì gặp vợ chồng cô Sáu với vợ chồng con Hai. Họ ân cần mời tui viếng nhà họ chơi cho biết. Tới đâu tui cũng được tặng quà. Họ hứa sẽ đưa chồng tới thăm bà đó.

Bà Quản hạt hỏi:

– Mình nghĩ coi có tiện hay không?

– Có gì đâu mà không tiện? Chuyện ngang trái hồi năm sáu năm về trước qua rồi, giờ họ có gia đình đàng hoàng nên muốn lấy tấm lòng thành, lấy cảm tình để kết giao thì mình cũng nên tiếp đãi họ như thượng khách mới phải.

Bữa cơm dọn ra, bà Quản tuy ăn chay nhưng cũng ngồi chung bàn. Mọi người ăn uống, cười nói vui vẻ. Phước Vân thưa với bà Quản hạt:

– Con đã soạn bốn phần quà để mai mốt mấy đứa nhỏ về thăm mẹ, thăm ngoại tụi nó.

Như giao ước, cứ mỗi tháng đầu kỳ bãi trường, ông bà Quản hạt Thất cho bốn đứa nhỏ về thăm mẹ hoặc bên ngoại tụi nó. Nhờ số vốn khá bộn mà ông bà Quản hạt tặng cho mỗi gia đình, họ có cơ hội lập cơ sở nho nhỏ để sanh nhai.

*

*  *

Thời gian từ từ trôi. Các cậu các cô thanh niên thiếu nữ ngày nào nay đã con bồng con ẵm, tạo dựng gia đình, nghề nghiệp vững chắc. Bà Hai Lầu quyết lòng tu niệm, xuống tóc, thọ giới tì kheo ni, lấy pháp danh là Hương Vân; bao nhiêu tiền bạc cúng dường đều do một tay bà Ba Các nắm giữ. Bà Ba tánh tình chất phác, đôn hậu nên không dám tơ hào mảy may. Bà dùng tiền đó xây thêm toà ngang dãy dọc, thiền phòng thiền viện, biến ngôi am vân thành ngôi phạm vũ nguy nga tráng lệ.

Một hôm trời nắng tốt, không khí trong trẻo nhẹ nhàng, bà Hai Lầu ngồi ôn lại chuyện xa xưa, bàn chuyện sắp tới với em dâu. Bà tâm sự:

– Mới đây thầy tui, ông Ðạo Hy Mã, có hiện về cho tui biết ổng đang tu theo đạo Bồ Tát, quyết định mai sau sẽ thành bực chánh đẳng, chánh giác. Còn tui đây chưa chứng được Tu Ðà Hườn, chưa thuộc vào hàng Nhập Lưu, bởi vậy tui tính ít năm nữa sẽ theo dấu chơn thầy lần hồi tìm về núi Tuyết Sơn để tu vĩnh viễn trên đó.

Bà Ba Các hỏi:

– Còn cái am nầy, ai sẽ trông coi, thừa kế chị?

Bà Hai Lầu trầm ngâm:

– Trưởng pháp tử của tui rồi cũng sẽ về núi Tuyết Sơn nên tui tính giao am cho chị Quản hạt Thất. Chính chị ta sẽ trở thành bực đạo cao đức trọng mai sau. Thím phải làm kẻ trợ tu cho chỉ cũng như thím đã trợ tu cho tui tự bấy lâu nay.

Bà nhìn về hướng Bến Chùa, ngậm ngùi bảo em dâu:

– Thím coi đó, một kẻ cay nghiệt ác đức như chị Quản hạt một khi ngộ được lẽ vô thường rồi, giốc lòng tinh tấn tu hành. Trong cái lớp vỏ quỉ La Sát, quỉ Cưu Bàn Trà vẫn còn cái thượng căn là vậy. Có nhiều kẻ hiền đức, ăn chay niệm Phật nhưng đâu được cái thượng căn như chỉ. Việc đời biết sao mà lường! Hồi chỉ cầu huề với chị em mình, tui cũng giốc lòng chữa trị cho thằng Hữu Vượng và thằng Oánh hết điên, nhưng mà tui chỉ chữa được bịnh chớ làm sao chữa được ác nghiệp! Chính cái thành tâm giải nghiệp của cả nhà họ là phương thuốc trị liệu bịnh tâm thần tốt nhứt, tuy chậm mà chắc.

Tối hôm đó, bà Hai Lầu giảng kinh Pháp Cú. Các bà sẽ tới nghe kinh xong ngủ luôn ở đây.

Trời vừa tắt nắng, khách lần lượt tới. Bà Quản Thất tới sớm nhứt. Cùng đi với bà có con Hiếu bưng hai quả bánh hấp như bánh bò, bánh da lợn, bánh thuẫn, bánh qui, xôi vị.

Bà Ba Các thăm hỏi:

– Em nghe lối xóm nói lóng rày thằng Ba và chồng con út đã đỡ nhiều lắm, phải không chị?

Bà Quản Thất cười hiền lành:

– Tạ ơn thập phương chư Phật, tụi nó đỡ nhiều. Thằng Ba muốn thọ giới ưu bà tắc, tu tại gia. Chồng con út thì đang tham khảo kinh Ðại Thừa, đọc tới đâu nó chắc lưỡi hít hà khen tới đó. Ðược vậy tui cũng mừng.

Bà Hai Lầu dịu dàng:

– Em đã dùng thần chú Mật Tông để trị bịnh cho cháu Hai, ngặt vì nghiệp của cháu sâu dày, phước huệ của cháu cạn mỏng nên khó lòng dứt bịnh. Tuy nhiên bịnh sẽ không phát tác nữa, xin chị an tâm.

Bà Quản hạt Thất ngậm ngùi:

– Tạo ác nghiệp thì má con tui phải lo trả cho xong kiếp nầy, đợi kiếp sau mới trả dứt… thì lôi thôi phiền phức quá! Kể như tui mất một đứa con nhưng lời được bốn đứa cháu nội.

Bà Hai Lầu bắt lảng qua chuyện khác:

– Em đã dọn giường cho chị cùng buồng với em. Mời chị rửa mặt nghỉ ngơi rồi cùng ăn cơm với tụi em.

Bà Quản Thất xách giỏ trầu vô buồng. Chừng một giờ sau, các bà Hương bộ Khâm, bà Hai Dần, bà Ðốc học Thông và hai bà ở Xóm Chùa lần lượt tới. Mọi người cùng ngồi vào bàn. Bà Hai Lầu bảo hai cô Tư Ngọc Nhan và út Ngọc Nga:

– Bây về ăn cơm tối với bọn kia đi, để hai sư cô đãi trà bánh và dọn dẹp được rồi.

Bên nhà bà Ba Các, các cô đang chiên xào kho nấu coi có vẻ rộn ràng lắm. Các cậu thì ngồi ở bàn ăn vừa uống bia vừa trò chuyện vui vẻ.

Trăng rằm từ từ lên cao tới lưng chừng trời, sáng đẹp nguy nga, tỏa ánh rạng rỡ khắp nơi. Mùi hương nguyệt quới thoang thoảng tản mạn đó đây. Dưới sông, ghe thương hồ đi lại. Trên đường tráng nhựa nối Mỹ Tho và Sài gòn, lác đác người đi chơi trăng, tiếng cười giỡn văng vẳng.

Dưới mái am, bà Hai Lầu bắt đầu thuyết pháp cho tới gần giữa canh ba. Sau đó mọi người dùng cháo chay và trà bánh.

Lúc đó, bên nhà bà Ba Các, mâm bánh trái cũng được đem lên. Bà Quản hạt lẳng lặng bước qua sân nhà bà Ba, đứng nấp sau cây cột nhìn hoạt cảnh vui tươi đầm ấm của đám trẻ. Bà chạnh nghĩ tới đám con bà, tới phần đời huyễn hoặc mà gia đình bà đã từng tạo tác gây tổn hại cho kẻ khác để thoả mãn tự ái. Giờ đây những kẻ đó gia đạo vững vàng, công việc làm ăn phát đạt. Nghĩ tới thằng trưởng nam đang ở cù lao Rồng, lòng bà bỗng đau đớn như kim châm muối xát. Nhưng trong một thoáng, tiếng chuông mõ bên am vọng qua, đưa bà trở về niềm bình an mà bà quyết tâm thiết lập cho mình…

Bỗng một bàn tay đặt nhẹ lên vai bà, một giọng nói êm dịu và ngập tràn cảm thông rót vào tai bà:

– Thím Ba Các bên am đang chờ chị về để cùng tụng kinh Phổ Môn đó.

Bà Quản hạt Thất quay lại, cười:

– Tui đứng đây ngắm lũ cháu mà chợt nhớ thuở hai thằng con trai tui vừa mới ra trường. Lụi hụi mà cũng gần hai mươi năm rồi đó…

Bà Hai Lầu ôn tồn:

– Hai mươi năm! Biết bao là dâu bể hưng phế! Rồi đây sẽ có một ngày em đi xa. Am này sẽ nhờ chị trông nom. Chị hãy thâu đồ chúng để họ cùng chị hoằng pháp, và xin chị nhớ chuyện vua Nghiêu thuở xưa, truyền ngôi cho vua Thuấn vốn là kẻ cày ruộng chớ không truyền ngôi cho con trai mình, để rồi khi chị sắp viên tịch thì nên vì em mà truyền hiền chớ đừng nên truyền tử ngôi phạm vũ nầy.

HẾT

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here