Nguyễn Đức Phương

LỜI NÓI ÐẦU

Với mục-đích phác họa một cách chính-xác hơn cuộc chiến-tranh Việt-Nam trên bình-diện quân-sự đồng thời để nói lên sự chiến-đấu anh-dũng của Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa (QLVNCH), tác-giả đã tập trung lại trong quyển sách nầy các trận đánh tiêu biểu của chiến tranh Việt-Nam kể từ năm 1963, thời điểm CS bắt đầu đưa chiến tranh sang một giai-đoạn mới, cho đến khi Miền Nam hoàn toàn lọt vào tay Cộng-Sản năm 1975. Theo sự hiểu biết của tác-giả thì hiện chưa có một quyển sách nào liệt kê theo thứ tự và chi tiết các trận đánh trong khoảng thời gian vừa kể, nhất là các trận đánh có liên quan nhiều đến QLVNCH. Căn-cứ vào cường-độ chiến-tranh và mức độ tham chiến của hai phía Quốc Cộng, khoảng thời-gian nầy có thể chia ra làm ba giai-đoạn. Quyển sách do đó gồm có 4 chương.

Chương đầu tiên tóm tắt Bối Cảnh Lịch-Sử để độc giả có một ý niệm tổng quát về những biến chuyển có liên quan đến cuộc chiến tranh Việt-Nam trong khoảng thời gian từ năm 1963 đến năm 1975. Cũng trong chương đầu tiên nầy, những tên hoặc địa danh được in đậm nét và gạch dưới tượng trưng cho một trận đánh hay một cuộc hành quân sẽ được mô tả chi-tiết theo thứ tự trong các chương II, III và IV. Chương hai ghi lại các trận đánh trong hai năm 1963-64 khi Cộng-Sản Bắc-Việt (CSBV) bắt đầu phát-động chiến-tranh xâm-lược tại Miền Nam. Chương Ba mô tả giai-đoạn VNCH và đồng-minh chống Cộng-Sản xâm-lược. Giai-đoạn nầy bắt đầu năm 1965 khi VNCH nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của các quốc-gia đồng-minh và kéo dài đến mùa hè năm 1972. Chương sau cùng bắt đầu với sự rút lui của quân-đội đồng-minh theo hiệp-định Ba-Lê năm 1973. VNCH phải đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm-lược cho đến khi CSBV cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam vào năm 1975.

Với độc giả không phải là quân-nhân hoặc không quen thuộc với cách tổ-chức các đơn-vị quân-đội, 6 phụ bản tóm lược những điểm căn bản được đặt ở phần cuối của quyển sách. Phụ-bản A sơ-lược sự hình thành và phát-triển của QLVNCH. Phụ-bản B giải-thích cơ-cấu tổ-chức của các đơn-vị quân-đội Mỹ tham chiến tại Việt-Nam. Tương tự như vậy, Phụ-bản C dành cho quân-đội CSBV và Việt-Cộng. Phụ-bản D liệt kê một số quân-cụ tiêu biểu được xem như đã ảnh hưởng nhiều đến bộ mặt của chiến-trường Việt-Nam. Nói đến chiến-tranh Việt-Nam trong giai-đoạn nầy, sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến hai văn-kiện lịch-sử. Hiệp-định Genève năm 1954 sáng lập ra nước Việt-Nam Cộng-Hòa và Hiệp-định Ba-Lê năm 1973 đưa đến sự cáo chung của Miền Nam Việt-Nam. Văn-bản chính của hai Hiệp-định nầy được ghi lại trong các Phụ-bản E và G.

Về tài-liệu tham-khảo, tác-giả đã cố gắng sưu tập từ cả hai phía Tư-bản và Cộng-Sản với hy-vọng đưa được đến độc-giả một cái nhìn tổng thể. Tiếc thay, nguồn tài-liệu của VNCH rất hạn chế so với các tài-liệu của CSBV hiện đang được lưu giữ tại các thư-viện nước ngoài, lấy Anh-quốc như một thí-dụ điển hình. Ngoài ra hầu hết các tài-liệu của CS thường mang nhiều tính chất tuyên truyền. Hai yếu tố sử liệu và chính xác do đó cần phải được đối chiếu và thẩm định thật kỹ-lưỡng. Các sách vở của phương Tây thì rất nhiều nhưng phần lớn lại mang tính-cách phiến diện, kém vô tư. Các điểm vừa đề-cập nằm trong những lý do đã khiến cuộc chiến-tranh Việt-Nam thường được người ngoại-quốc nhận xét một cách sai lầm. Gần như tác-giả chưa tìm thấy được một quyển sách nào viết về chiến-tranh Việt-Nam lại không chứa đựng ít nhiều những điểm không chính-xác. Cũng vì vậy, không chắc quyển sách nầy sẽ là một ngoại lệ!

Về nội-dung, tác-giả cố-gắng trình bày một cách trung thực những sự kiện đã xảy ra. Vết hằn của những năm tháng tù cải-tạo đã được thời-gian che mờ. Qua một phần tư thế-kỷ cùng với sự sụp đổ của chủ-nghĩa Cộng-Sản đã đủ để chứng-minh tất cả. Ðể gia tăng mức độ chính-xác trên phương-diện sử liệu, tác-giả đã liên-lạc với một số cựu quân-nhân thuộc QLVNCH, những chứng nhân của lịch-sử, hầu ghi lại hoặc kiểm chứng những phần có liên hệ. Ngoài ra có hai điểm không được đề cập đến một cách chi-tiết trong quyển sách nầy. Ðầu tiên là các cuộc oanh-tạc Miền Bắc cũng như chiến-tranh trên các thủy lộ tại Miền Nam. Các chi-tiết liên-quan nầy có lẽ phải cần đến hai quyển sách riêng biệt mới có thể mô tả được đầy đủ. Ðiểm thứ nhì là các nguyên-nhân sụp đổ của VNCH. Các nguyên-nhân nầy rất nhiều và phức-tạp, liên-quan cả Việt-Nam lẫn Hoa-Kỳ do đó cũng không được nói đến một cách chi-tiết. Nếu cần, qua tài-liệu tham-khảo của các trận đánh sau cùng, độc-giả có thể tự suy luận ra được các nguyên-nhân vừa kể. Hơn nữa, sự thành-công hay thất-bại của từng trận đánh riêng lẻ được mô tả ở đây tự nó không thể nào đưa đến sự sụp đổ của VNCH năm 1975.

Trên phương-diện hình thức, các tài-liệu tham-khảo và bản đồ liên hệ được đặt ở phần cuối của từng trận đánh để độc-giả có thể tra cứu một cách dễ dàng và nhanh chóng. Phương-pháp trình bày độc-lập nầy cũng sẽ giúp cho sự cập nhật hóa, nếu có, không gây ra sự xáo trộn cho toàn thể quyển sách. Các con số được in trong ngoặc đơn là số thứ tự của tài-liệu tham-khảo.

Ðể theo sát từ-ngữ dùng trong các tài-liệu tham-khảo, một số đơn-vị đo-lường theo hệ-thống Anh Mỹ đã được sử-dụng. Một dặm Anh (mile) dài 1.609 cây-số (km). Một thước Anh (yard) dài 0.914 mét và một bộ (foot) bằng 0.305 mét. Một cân Anh (pound) nặng khoảng 0.454 kg. Một ga-lông (gallon) có dung-tích 3.785 lít. Một hải-lý (nautical mile) tương đương với khoảng cách 1.852 cây-số. Một gút (knot) tương đương với vận-

 

 

tốc 1.85 cây-số/giờ trên sông, biển hoặc trên không.

Một số địa danh với thổ ngữ đã được đề cập đến trong quyển sách. Ý nghĩa tổng-quát được tóm lược như sau:

. Tiếng Bà-Na: Dak là nước, suối hay sông. Kon là núi

. Tiếng Gia-Rai: Plei hay Plé là làng. Chu là núi. Ia là nước hay sông

. Tiếng Rha-Ðê: Buôn là làng. Chữ hay Chu là núi. Ea là suối

. Tiếng Mnông và Stiêng: Bù là làng. Dak là nước hay sông.

Do đó, thung-lũng Ia Drang có nghĩa là thung-lũng sông Drang. Trại Lực-lượng Ðặc-biệt Bù Ðốp tức trại LLÐB làng Ðốp.

 

Mặc dù đã cố-gắng cũng như được sự giúp đỡ của khá nhiều thành viên thuộc QLVNCH, nhưng với tuổi đời, thâm niên quân-vụ cũng như kiến-thức có giới-hạn, chắc chắn quyển sách nầy còn nhiều thiếu sót. Tác-giả do đó rất mong muốn và sẵn-sàng đón nhận những ý-kiến phê-bình, đóng góp của độc-giả. Mọi liên-lạc thư tín xin gửi qua địa-chỉ của nhà xuất-bản.

 

 

Nguyễn Ðức Phương

     Anh-quốc

2000

 

 

 

LỜI GIỚI-THIỆU

 

 

Dân tộc Việt Nam có một quá khứ rất lâu dài, và đã trải qua bao biến chuyển thăng trầm, trong giòng lịch sử triền miên đó.

Nhưng quãng thời gian sôi động, tang tóc và đau thương nhất, hẳn là giai đoạn từ năm 1946 đến nay, lúc mà dân tộc phải sống với đại họa Cộng Sản, qua cuộc chiến tranh đẫm máu do chính CS gây nên, và qua sự thống trị dày xéo đất nước, của tập đoàn xâm lược.

Ðây là thời gian mà dân tộc ta phải hy sinh nhiều triệu sinh linh, phải gánh chịu bao là bi ai thống khổ ! Cũng trong thời gian nầy, Quân Lực VNCH được giao phó sứ mạng bảo vệ đất nước quê hương, bảo vệ an sinh cho đồng bào.

Chiến sĩ Quân Lực VNCH đã luôn luôn thi hành sứ mạng với tất cả nhiệt tình, và đạt bao chiến công anh dũng trước địch quân. Bình Long An Lộc – Quảng Trị – Ðông Hà – Cửa Việt – Khe Sanh – Tchépone – Huế (Mậu Thân) – Kontum – Pleime – Ðức Cơ – Daktô – Bồng Sơn Ðỗ Xá – Sa Huỳnh – Tống Lê Chân – Long Khánh Xuân Lộc – U Minh Ðồng Tháp – Svay Riêng – Snoul – Ba Thu – Mimot v.v. là những địa danh lẫy lừng, khắc ghi chiến thắng vẻ vang của chiến sĩ VNCH, đồng thời cũng đánh dấu những thất bại chua cay của CS xâm lược.

Không ai có thể chối cãi, là người chiến sĩ VNCH đã chấp nhận mọi hy sinh, và luôn luôn tuyệt đối nhiệt tình, để thi hành sứ mạng được giao phó. Nhưng tiếc thay, vì hoàn cảnh chính trị quốc tế, quốc nội, và nhất là vì sự thất tín của Ðồng minh, mà Quân Lực VNCH đã không hoàn thành được sứ mạng của mình, khiến cho đất nước và đồng bào phải rơi vào cảnh điêu linh, thống khổ ngày nay!

Toàn dân, và hơn ai hết, người chiến sĩ ngày đêm bị ray rứt dằn vặt và khổ đau tận cùng, trước vận nước khắc nghiệt và đắng cay nầy! Dù sao, một điều tối quan trọng là những hy sinh cao cả, những công lao to lớn của các chiến sĩ anh hùng – những người con yêu của Tổ Quốc – Không thể bị rơi vào quên lãng, mà trái lại, phải được – Biết ơn – Vinh danh, và Khắc ghi – vào sử sách của dân tộc.

Quyển sách Chiến-Tranh Việt-Nam toan-tập: Từ Trận Ðầu (Ấp Bắc 1963) Ðến Trận Cuối (Sài-Gòn 1975) vừa được ra đời do tác giả Nguyễn Ðức Phương biên soạn.

 

Ðây là một công trình quý báu, và là một cố gắng rất đáng ngợi khen.

Trong lời nói đầu, tác giả có lưu ý, về những khó khăn trên phạm vi sử liệu tham khảo. Phía VNCH, tài liệu có phần khan hiếm. Phía CS, luôn luôn có xu hướng phóng đại, để thỏa mãn nhu cầu tuyên truyền. Sách báo của Tây phương, thường mang tính chất cục bộ và phiến diện. Ða số lại đầy thành kiến và kém vô tư, vì vậy không tránh khỏi gây ngộ nhận về tính chất của cuộc chiến, hoặc hiểu lầm về vai trò đích thực của người trong cuộc.

Ưu điểm quan trọng nhất, là quyển sách nầy mang tính chất toàn bộ, phủ trùm thời gian từ năm 1963-1975, bao gồm tất cả các giai đoạn: – Giai đoạn Cộng-Sản Bắc-Việt phát động chiến-tranh xâm-lược – Giai đoạn VNCH và đồng-minh chống Cộng-Sản xâm-lược – và Giai đoạn VNCH đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm-lược.

Tác giả đã chu đáo nêu rõ: – Bối cảnh lịch sử quốc tế và của VN – Nguyên nhân của cuộc chiến – Lý do về sự can thiệp của Hoa Kỳ và Ðồng minh – Chiến lược, chiến thuật và những bước ngoặt, lệ thuộc vào những thay đổi về chính trị hoặc cục diện của chiến trường – Tình hình kinh tế và xã hội của từng giai đoạn cũng được phân tích kỹ lưỡng.

Yếu tố tâm lý trong nhân dân VN, nhân dân Hoa Kỳ, cũng như trên thế giới, do ảnh hưởng của truyền thông và báo chí quốc tế, vốn thiếu vô tư (hữu ý hay vô tình), hoặc do sự bưng bít của phía bên kia, sự tuyên truyền nhất loạt và mạnh mẽ của hệ thống CS quốc tế gây ra, cũng được đặc biệt lưu ý.

Sự chênh lệch về quân số trong nhiều trường hợp, do chiến thuật biển người được địch áp dụng một cách tàn bạo. Sự chênh lệch về phẩm, lượng, cũng như về thời gian tính của các phương tiện cần thiết cho việc hiện đại hóa Quân Lực VNCH. Hậu quả của cuộc rút quân nhanh chóng của Hoa Kỳ, mang lại sự thiếu hụt trầm trọng về yểm trợ mọi mặt cho VNCH, cũng được nhấn mạnh …

Với một văn phong giản dị, tác giả đã ghi lại rất mạch lạc và đầy đủ những chiến trận của Quân Lực VNCH và Ðồng minh trên khắp 4 Quân Khu.

Ðặc biệt là sau phần Diễn tiến, tác giả còn thêm phần Hậu quả và Nhận xét. Qua mục nầy, ngoài những phân tách, nhận xét riêng của chính mình, tác giả còn bổ túc bằng những lời chứng, từ mọi phía, của – các giới chức hữu trách cao cấp về chính trị và quân sự, – các viện khảo cứu, – các nhân chứng đã tham gia chiến trận, – các quan sát viên uy tín và kinh nghiệm, – các ký giả và phóng viên chiến trường v.v.

Xuyên qua những lời chứng nầy, tuy thường có nhiều khác biệt về diễn tiến, con số, và ý kiến … Nhưng người đọc vẫn có yếu tố để so sánh, suy luận, và tìm được một ý niệm sát với sự thật hơn.

Ðiều đáng lưu ý hơn cả, là tác giả đã thực hiện công trình với nhiều nhiệt tình, và nhất là cố gắng đặt cao tính chất trung thực và khách quan để cho vấn đề được trong sáng.

Ðây là một biểu lộ chân thật cho sự “Biết ơn và Vinh danh”. Ðây cũng là một “Nghĩa vụ về Ký ức” đối với các anh hùng đã hy sinh tất cả, cho Tổ Quốc và Dân Tộc.

Hy vọng quyển sách nầy, sẽ là một đóng góp hữu ích cho sự thật lịch sử, và là ấn triện về những hy sinh thần thánh và những công lao cao cả của chiến sĩ, trong tâm khảm đồng bào, thuộc thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai.

 

 

 

  Cựu Trung Tướng Trần Văn Trung

Nguyên Tổng Cục Trưởng

Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH

Paris 15-XII-1999

 

 

 

Cảm tạ

 

 

 

Tác-giả chân thành cám-ơn quí-vị cựu tướng lãnh, sĩ-quan QLVNCH và hội-đoàn sau đây đã đọc duyệt, đóng góp ý kiến và cung-cấp tài-liệu, tạo dễ-dàng và tin-tưởng cho tác-giả trong khi soạn thảo quyển sách nầy:

Cố Trung-tướng Nguyễn-Xuân-Thịnh đã đọc trận An-Lão và Phụ-bản A – Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa (phần Pháo-Binh) chỉ một thời-gian ngắn trước khi ông mất.

Trung-tướng Trần-Văn-Trung đã có nhã ý viết lời giới-thiệu và giúp ý-kiến tổng-quát trên toàn bản-thảo.

Trung-tướng Vĩnh-Lộc đọc các trận Ðức-Cơ, PleiMe và Ia Drang cũng như đã cho phép trích một số chi-tiết từ hai quyển sách Why PleiMe? và Thư Gửi Người Bạn Mỹ.

Thiếu-tướng Bùi-Ðình-Ðạm đã giúp tác-giả rất nhiều ý-kiến bổ-ích trong khi soạn-thảo quyển sách nầy.

Thiếu-tướng Nguyễn-Duy-Hinh đọc trận Thượng-Ðức và cung-cấp nhiều chi-tiết để tác-giả viết lại Cuộc Lui Binh của Quân-Ðoàn I một cách chính xác hơn.

Thiếu-tướng Lê-Minh-Ðảo đọc Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (mặt trận An-Lộc), trận Xuân-Lộc và Chiến-Dịch Hồ-Chí-Minh.

Chuẩn-tướng Lý-Tòng-Bá đọc trận Ấp Bắc, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (mặt trận KonTum), Phụ-Bản A (phần Thiết-Giáp) và Phụ-Bản Ð – Một số chiến-cụ thông-dụng tại chiến-trường Việt-Nam; cũng như đã cho phép trích một số chi-tiết từ quyển sách Hồi Kí 25 Năm Khói Lửa của Một Tướng Lãnh Cầm Quân tại Mặt Trận.

Chuẩn-tướng Trần-Quang-Khôi đã gửi tặng hai tài-liệu về các hoạt-động của Lữ-đoàn 3 Kỵ-binh và Lực-lượng Xung-kích Quân-đoàn III.

Chuẩn-tướng Lê-Quang-Lưỡng đọc Hành-Quân Lam-Sơn 719, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (hai mặt trận Quảng-Trị và An-Lộc) và trận Thượng-Ðức.

Chuẩn-tướng Mạch-Văn-Trường đọc Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (mặt trận An-Lộc).

Chuẩn-tướng Phạm-Duy-Tất đọc trận PleiMe và Cuộc Lui Binh Trên LTL-7B cũng như đã dành nhiều thì giờ giúp tác giả tìm hiểu chi tiết về binh chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt.

Phó Ðề-đốc Hồ-Văn Kỳ-Thoại đọc trận Vũng Rô và Cuộc Lui Binh của Quân-Ðoàn I.

Ðại-tá (BB) Phạm-Bá-Hoa đã bỏ rất nhiều công giúp tác-giả hoàn-chỉnh Phụ-Bản A cũng như cho phép trích một số chi-tiết từ quyển sách Ðôi Dòng Ghi Nhớ.

Ðại-tá (BB) Hứa-Yến-Lến đọc trận Xuân-Lộc và Chiến-Dịch Hồ-Chí-Minh.

Ðại-tá (QN) Hồ-Văn Di-Hinh giúp ghi lại những chi-tiết về tổ-chức của ngành quân-nhu QLVNCH.

Ðại-tá (CB) Nguyễn-Thiện-Nghị giúp ghi lại những chi-tiết về tổ-chức của binh-chủng công binh.

Ðại-tá (TT) Bùi-Trọng-Huỳnh giúp ghi lại những chi-tiết về tổ-chức của binh-chủng truyền-tin.

Y-sĩ Ðại-tá Hoàng-Cơ-Lân giúp ghi lại những chi-tiết về tổ-chức của ngành quân-y và một số kiến-thức nền tảng về giai-đoạn hình thành của QLVNCH.

Ðại-tá (Dù) Vũ-Thế-Quang giúp tác-giả có một cái nhìn sâu rộng hơn về trận Ban-Mê-Thuột qua việc nghiên-cứu nhiều tài-liệu khác nhau về cuộc chiến tại cao-nguyên VNCH năm 1975.

Ðại-tá (Dù) Nguyễn-Thu-Lương đã gửi cho tác-giả đúng 50 trang giấy dài, rất lâu sau khi chiến-tranh chấm dứt với nhiều chi-tiết lịch-sử sống động. Những tài-liệu nầy dùng để bổ-túc cho Hành-Quân Lam-Sơn 719, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, trận Thượng-Ðức và nhất là trận Phan-Rang, nơi ông đã đứng lại, cho đến giờ phút chót.

Ðại-tá (TQLC) Tôn-Thất-Soạn đọc trận Ba Gia và Hành Quân Kampuchia.

Ðại-tá (TQLC) Hoàng-Tích-Thông đọc các trận Ðức-Cơ, Phụng-Dư và Hành-Quân Lam-Sơn 719 cũng như đã có nhã ý gửi tặng hồi ký Cuộc Ðời Tôi và cho phép trích một số chi tiết từ quyển sách nầy.

Ðại-tá (TQLC) Ngô-Văn-Ðịnh đọc các trận Ðầm Dơi, Phụng-Dư, Hành-quân Kampuchia và Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (mặt trận Quảng-Trị).

Ðại-tá (BÐQ) Nguyễn-Hiệp đọc Hành Quân Lam-Sơn 719.

Ðại-tá (BÐQ) Nguyễn-Văn-Huy đọc trận kênh Thác Lác.

Ðại-tá (BCD) Phan-Văn-Huấn giúp tác-giả có được một cái nhìn tổng-quát về binh-chủng cũng như đã cung-cấp những tài-liệu liên-quan đến các hoạt-động của Biệt-Cách Dù tại A-Shau và An-Lộc.

Ðại-tá (BCD) Từ-Vấn đọc hai trận Vũng Rô và PleiMe

Ðại-tá (TG) Nguyễn-Trọng-Luật giúp ý-kiến tổng-quát về các trận xa-chiến tại Hạ Lào cũng như đã có nhã ý gửi cho tác-giả bài viết của chính ông về trận Ban-Mê-Thuột.

Ðại-tá (TG) Hà-Mai-Việt đọc Phụ-Bản A (phần Thiết-Giáp).

Ðại-tá (TG) Trần-Văn-Thoàn đọc trận Ðức-Cơ và Hành-Quân Kampuchia.

Ðại-tá (TG) Dư-Ngọc-Thanh đọc hai trận Ðức-Cơ và PleiMe.

Hải-Quân Ðại-tá Nguyễn-Ngọc-Quỳnh đọc Phụ-Bản A (phần Hải-Quân).

Trung-tá (BB) Lò-Cầm-Bảo cung-cấp nhiều chi-tiết và dữ-kiện về tỉnh Phú-Bổn.

Trung-tá Nhạc trưởng Lê-Như-Khôi, Dược-sĩ, Hội-viên S.A.C.E.M. Paris, đã giúp tác-giả ghi lại sự hình thành và tổ-chức của binh-chủng Quân-nhạc QLVNCH.

Mũ Ðỏ Bùi-Ðức-Lạc đọc Phụ-Bản A.

Trung-tá (Dù) Nguyễn-Hữu-Nghiêm cung-cấp chi-tiết về trận Thượng-Ðức.

Trung-tá (Dù) Bùi-Quyền cung-cấp chi-tiết về trận Ðức-Cơ.

Trung-tá (TQLC) Nguyễn-Ðăng-Hòa đọc Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (mặt trận Quảng-Trị) và Phụ Bản A (phần TQLC) cũng như đã cho phép trích một số chi-tiết từ hai tập sách Cơn Lốc Dài và Vẫn Còn Niềm Tin.

Trung-tá (KQ) Diệp-Ngọc-Châu đọc Phụ Bản A (phần Không-Quân).

Thiếu-tá (QC) Hoàng-Thụy-Long cung-cấp tài-liệu về binh-chủng Quân-Cảnh.

Thiếu-tá (Dù) Lâm-Văn-Rớt đọc trận Ðồng Xoài.

Thiếu-tá (Dù) Trương-Dưỡng, cung-cấp tài-liệu về binh-chủng và đã cho phép trích một số chi-tiết từ hai quyển sách Một Cánh Hoa Dù và Ðời Chiến Binh.

Thiếu-tá (TQLC) Trần-Ngọc-Toàn đọc trận Bình-Giã và đã cho phép trích một số chi-tiết từ quyển sách Vào Nơi Gió Cát.

Thiếu-tá (TQLC) Phạm-Văn-Tiền đọc trận Cửa Việt.

Thiếu-tá (BÐQ) Nguyễn-Văn-Nam đọc Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 (hai mặt trận Quảng-Trị và An-Lộc).

Thiếu-tá (BÐQ) Quách-Thưởng đọc trận Sa-Huỳnh.

Trung-úy (BÐQ) Trần-Thy-Vân cung-cấp nhiều chi-tiết để tác-giả viết lại trận Sa-Huỳnh một cách chính xác hơn cũng như đã cho phép trích một số chi-tiết từ quyển sách Anh Hùng Bạt Mạng.

Tổng-hội BÐQ cung-cấp tài-liệu về binh-chủng.

 

Chỉ một vài quí-vị là niên-trưởng của tôi. Tuy nhiên tất cả quí-vị đều đã cho tôi tình chiến-hữu, huynh-đệ chi-binh của QLVNCH; một quân-đội mà tôi hằng yêu mến. Yêu mến từ ngày chập-chững bước vào quân-trường cho đến những ngày tù CS và ngay cả bây giờ, những năm tháng sống lưu vong nơi xứ lạ quê người. Tù đày đã khiến tôi có dịp đối diện với các cấp chỉ-huy của đối-phương. Việc biên soạn quyển sách nầy cho tôi cơ may tiếp xúc với quí vị. Sự kính trọng và niềm hãnh-diện trong tôi về QLVNCH càng thêm mạnh-mẽ. Một lần nữa xin cám ơn tất cả.

Ngoài ra xin gửi lời cám ơn đến PL, người bạn đã cho nhiều hơn nhận, đã tận tình giúp đỡ, cố-gắng cung-cấp cho tác-giả những tài-liệu khó tìm.

Sau cùng, người viết xin cám-ơn chung các tác-giả, nhà xuất-bản trong việc trích dịch các tài-liệu và sách vở. Với số-lượng tài-liệu tham-khảo tương-đối khá nhiều của quyển sách nầy, lời cám ơn riêng rẽ khó có thể thực hiện được.

Tất cả lỗi lầm hoặc thiếu sót, nếu có, vẫn hoàn toàn thuộc trách-nhiệm của tác-giả.

 

    

   Nguyễn Ðức Phương

Anh Quốc

2000

 

 

 

 

 

Bối-cảnh lịch-sử

 

 

 

 

Ðiện-Biên-Phủ thất thủ (7.5.1954), hội-nghị Genève 1954 đã đưa đến việc chia cắt tạm thời đất nước Việt-Nam làm hai, lấy vĩ-tuyến 17 làm ranh-giới. Thỏa ước đình-chiến nầy cũng đã đưa đến việc quân-đội Pháp phải rút ra khỏi vùng phía bắc vĩ-tuyến 17, tập kết các lực-lượng CS tại phía nam dưới sự giám-sát của Ủy-hội Ðình-chiến để tiến đến tổng tuyển cử thống-nhất đất nước được dự định tổ chức trước ngày 20.7.1956.

Chính-phủ Mỹ với nỗ lực ngăn chận sự bành trướng của Trung-Cộng sau hai thành-công của CS tại Hoa lục (1949) và Triều-Tiên (1950) đã trực tiếp viện-trợ miền Nam VN. Ðồng thời Mỹ cũng kêu gọi thành-lập Tổ-chức Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á (SEATO) với mục-đích ngăn cản sự bành trướng của CS. Tổ-chức Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á chính thức ra đời ngày 8.9.1954 tại Manila, thủ-đô Phi-Luật-Tân với các hội viên gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Úc-Ðại-Lợi, Tân-Tây-Lan, Hồi-quốc, Thái-Lan và Phi-Luật-Tân. Do các giới-hạn của Hiệp-định Genève, VNCH, Lào và Kampuchia không thể trở thành hội-viên của minh-ước. Tuy nhiên như ngoại-trưởng Mỹ J.F. Dulles đã xác nhận, Tổ-chức Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á có thể bao gồm cả ba nước Ðông-Dương (1).

Mục-đích của Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á theo bản tin báo chí của ngoại trưởng Mỹ là (2): “Chúng ta đoàn-kết vì một mối nguy-hiểm chung, sự nguy hiểm đến từ CS quốc-tế với tham vọng vô bờ bến. Chúng ta đã biết rằng bất cứ nơi nào họ thắng-lợi, thí dụ như tại Ðông-Dương, thì những thắng-lợi nầy sẽ không dừng lại, như một giải pháp chung cuộc, mà chỉ là đầu cầu để từ đó tiến đến các sự chiếm hữu trong tương-lai. Sự kiện nầy khiến chúng ta phải quan tâm đến những gì đang xảy ra tại một nơi nào đó. Hiểm nguy được thể hiện dưới nhiều hình thức. Một trong các hình thức nầy là xâm-lăng bằng vũ-lực. Chúng ta có thể giảm thiểu được hiểm họa đó bằng cách minh định rằng một cuộc tấn-công vào địa phận của minh-ước sẽ đối đầu với một sự đoàn-kết, rất mạnh-mẽ và hữu-hiệu để khiến kẻ gây hấn sẽ bị thiệt hại nhiều hơn là thắng-lợi. Do đó tổ chức của chúng ta là liên-hệ các thành-viên để phát-triển khả-năng đơn-phương cũng như hợp-đồng hầu chống lại các cuộc tấn-công bằng vũ-lực”.

Ngày 16.1.1950, Trung-Cộng nhìn nhận chính-phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa, Nga

công nhận ngay sau đó. Hơn 60 quốc-gia không CS trên thế-giới do đó đã mau lẹ nhìn nhận chính-phủ Bảo-Ðại tại miền Nam VN. Ngày 11.5.1950, quốc-hội Pháp chấp thuận việc thành-lập Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam (3).

Ngày 7.7.1954, nội các Ngô-Ðình-Diệm được thành-lập. Sau đó hai tướng Mỹ E.G. Lansdale (6.1954) và J.L. Collins (12.1954) được gửi sang Sài-Gòn để cố-vấn cho chính-phủ VNCH. Ngày 23.10.1955, quốc-trưởng Bảo-Ðại bị truất phế do cuộc trưng cầu dân ý. Thủ-tướng Ngô-Ðình-Diệm trở thành Tổng-thống. Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam chính thức mang tên Quân-lực Việt Nam Cộng-hòa (3).

Tại Miền Nam VN, chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm phải đối đầu với các khó khăn về giáo phái và Bình-Xuyên. Lực-lượng Bình-Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu bị dẹp tan trong tháng 5.1955. QLVNCH đã mở chiến-dịch Hoàng-Diệu (21.9-24.10.1955) để tảo thanh tàn quân của Bình-Xuyên tại khu Rừng Sát. Tiếp theo là các chiến-dịch Ðinh-Tiên-Hoàng (23.5-12.1955), Nguyễn-Huệ (1.1-31.5.1956), Thăng-Long (11.3-24.3.1956) để tảo-thanh các lực-lượng Hòa-Hảo, Cao-Ðài và Cộng-Sản (3).

Trong khi đó thì tại Miền Bắc, chính-phủ CS đứng trước các khó khăn về kinh-tế và an-ninh chính-trị. Chiến-tranh Việt Pháp đã tàn phá miền Bắc khá nhiều và quan-trọng hơn cả là lúa gạo không còn được tiếp tế từ miền Nam như trước nữa. Năm 1955, gạo phải nhập cảng từ Miến-Ðiện với viện-trợ của Nga (4). Phong-trào cải-cách ruộng đất được tiến hành cùng trong năm với hậu quả là hàng ngàn người đã bị giết, hàng ngàn người khác bị giam cầm (4). Ngày 2.11.1956, dân làng Quỳnh-Lưu thuộc tỉnh Nghệ-An nổi dậy chống lại chính-quyền CS và đã bị đàn áp một cách dã-man. Tuy nhiên các tin tức từ Quỳnh-Lưu đã bị che mờ bởi các biến động đang xảy ra tại Poznan, Ba-Lan; cuộc nổi dậy của nhân-dân Hung-Gia-Lợi và biến-cố kinh đào Suez tại Ai-Cập.

Cả hai chính-phủ Nam và Bắc đều gặp những khó khăn nội bộ ở buổi ban đầu. Ðây cũng là lý do đã khiến kế-hoạch xâm chiếm Miền Nam của CSBV chưa được để ý đến. Các tài-liệu ngoại-quốc cho rằng chính-sách đàn áp đối-lập của chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm đã khiến các đối thủ chính-trị phải dùng đến bạo-lực vũ-trang (4-6). Tuy nhiên không ai so sánh để thấy rằng những đàn áp chính-trị đều đã xảy ra ở cả hai miền. Hoạt-động đắc lực của bộ máy tuyên truyền CS cũng như sự bưng bít của bức màn sắt khiến không ai biết được những gì xảy ra tại Miền Bắc. Ngay chính Trương-Như-Tảng, một cán-bộ cao cấp của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam vẫn tin tưởng rằng những đàn áp chính-trị tại Miền Bắc chỉ là tin đồn, không xác thực (6). Một thí dụ điển-hình là cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại miền Bắc đã được giáo-sư phản chiến G. Kolko mô tả lại như sau (7): “Cuộc cải-cách ruộng đất đã huy động những nông dân nghèo khó để tạo thành một chiến thắng quân-sự, và đến cuối năm 1954 sản-lượng nông-phẩm cũng như hiệu quả đã tăng cao. Ðến năm 1957, hệ-thống đất đai phía Bắc vĩ-tuyến 17 đã được phân chia một cách đồng đều, và những nông-dân nghèo hay những người không có đất đã cải tiến vị-thế của họ một cách khả-quan, ngay cả những nông-dân trung-lưu cũng đã có thể mở rộng đất đai của họ”. Trong khi đó thì cũng chính ông lại viết về kế-hoạch dinh-điền của miền Nam như sau (7): “Các giới hạn về canh-nông của ông Diệm gồm hai giai-đoạn. Ðầu tiên ông bao vây và tiêu-diệt đối lập kể cả các hội-đồng-xã. Năm 1955, các cuộc bắt bớ hàng loạt và đe dọa bắt đầu, chủ yếu là chống lại các giáo phái. Các buổi hội thảo được tổ-chức khắp nơi để công-khai lên án Cộng-Sản. Bốn mươi ngàn người đã bị lên án như vậy chỉ trong vòng năm tuần lễ tại một tỉnh ở phía Nam vùng châu thổ”.

Tình hình chính-trị tại Miền Nam chỉ là một cái cớ để CSBV phát-động chiến-tranh. Ðường lối cai-trị của ông Diệm có tốt đến đâu chăng nữa thì CSBV, sau khi chỉnh-đốn lại nội tình Miền Bắc vẫn sẽ tiến-hành âm mưu thôn tính Miền Nam. Bằng cớ điển hình là từ năm 1958, CS đã bắt đầu thi-hành kế-hoạch khủng-bố phá hoại tại Miền Nam VN (8). Theo J. Race thì từ các tài-liệu bắt được cũng như cung từ của một tù-binh CS cao cấp cho thấy CS không hy vọng sẽ có một cuộc tổng tuyển cử để thống-nhất đất nước. Do đó họ đã chuẩn-bị một kế-hoạch thống nhất đất nước bằng bạo-lực vũ-trang (9). Chỉ-thị cho các cán-bộ ở lại miền Nam sau cuộc tập kết đã ghi một cách rõ ràng (10): “Hướng dẫn chính cho người ở lại là sẽ không có những vi phạm thỏa ước (Genève) một cách công khai. Chúng tôi giả dạng duy trì một cách hợp pháp như những công dân bình thường. Các tổ chức được duy trì một cách tối thiểu; bất cứ vì lý do nào cũng không được sử dụng những văn kiện hay tài liệu thành văn. Mục tiêu là hoàn toàn bí mật … Chúng tôi được cho biết rằng Diệm có thể tôn trọng hoặc không tôn trọng thỏa ước nầy. Tuy nhiên trong bất cứ trường hợp nào chúng tôi vẫn phải tiếp tục hoạt động, giữ niềm tin cho mọi người cũng như tổ chức được tồn tại. Trên thực tế nếu có tổng tuyển cử thì chúng tôi có thể nắm vững được tình hình nếu hệ thống vẫn hoạt động. Trong trường hợp không có tổng tuyển cử thì chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh. Bất cứ trường hợp nào, Ðảng sẽ không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng”.

Một quyển sử của CS cũng đã thú nhận các âm mưu chuẩn bị đấu tranh vũ trang trong tương-lai như sau (11): “Ðồng Tháp Mười là nơi được lệnh bí mật của cấp trên chôn lại nhiều hầm vũ khí, đạn dược, máy móc binh công xưởng. Riêng huyện Mộc Hóa có bốn hầm bí mật ở Kinh Bùi, Nồi Gọ, Thạnh Phước và Thủy Ðông với hơn 300 súng lục các loại, hai hầm ở Tân Hóa và Cà Dâm (Mỹ Phước) toàn là súng tốt. Các huyện, xã của Tân An, Chợ Lớn và Mỹ Tho mỗi nơi cũng chôn giấu lẻ tẻ vài khẩu súng, phần lớn là súng ngắn, có một ít súng trường. Theo chủ trương chung, xã đội và du kích ở lại, bộ đội đi hết nhưng nhiều cán bộ đại đội, tiểu đoàn và cả trung đoàn, huyện đội và cả tỉnh đội và các cán bộ quân sự khu trên đường về Cao Lãnh hoặc đã tới khu tập kết cũng được lệnh bí mật quay trở lại địa phương. Anh em ở lại khu 8 được tổ chức thành ba tiểu đoàn của khu. Các tỉnh Tân An, Chợ Lớn, Mỹ Tho mỗi tỉnh một khung đại đội phân tán về sống trong dân để khi cần có thể tập trung thành đơn vị”.

Có hai nguyên-nhân khiến CSBV phải trì hoãn đến năm 1959 mới phát động bạo-lực vũ-trang. Lý do đầu tiên là chính quyền CS đang gặp phải khó khăn trong chiến-dịch cải cách ruộng đất. Trong hai năm 1955-56 đã có đến khoảng 50 ngàn người bị hành-quyết và gấp đôi con số nầy đã bị bắt để tập-trung cải tạo (12). Theo học-giả Hoàng-Văn-Chí thì đã có đến nửa triệu người là nạn-nhân của các cuộc đấu tố nầy (13). Lý do thứ hai là do Trung-ương Ðảng CS nhận-xét tình hình Miền Nam chưa đúng lúc để phát-động vũ-trang. Thay vào đó đảng CS chủ-trương tiến-hành các hoạt-động khủng-bố và ám-sát các công-chức và nhân-viên xã ấp. Theo các con số thống-kê từ năm 1959 đến năm 1961 thì số nạn-nhân bị giết đã tăng từ 1200 người mỗi năm lên đến 4 ngàn người mỗi năm (14). Trước những hoạt-động khủng-bố, chắc chắn chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm sẽ phản-ứng. CS sẽ lợi-dụng cơ-hội như vậy để phát-động vũ-trang. Cuối năm 1958, Lê-Duẩn bí mật vào Nam để thẩm định tình hình. Báo cáo của ông đã được đệ trình lên đại-hội lần thứ 15 gồm các ủy-viên Trung-ương Ðảng trong tháng Giêng năm 1959. Ðại-hội đã ra chỉ-thị thành-lập các đơn-vị vũ-trang tại miền Nam VN.

Hai địa danh thường được CS cho là đánh dấu phong-trào Ðồng-Khởi của giai-đoạn nầy là Trà-Bồng thuộc tỉnh Quảng-Ngãi và Bến-Tre thuộc tỉnh Kiến-Hòa. Ngày 28.8.1959, xã Trà-Châu, quận Trà-Bồng đã nổi loạn. Cuộc nổi dậy sau đó đã lan sang các xã khác thuộc các quận Sơn-Hà, Ba-Tơ và Minh-Long. CS đã thành-lập được khu giải-phóng tại vùng rừng núi phía tây tỉnh Quảng-Ngãi. Ngày 17.1.1960, Thường-vụ Tỉnh-ủy tỉnh Bến-Tre đã lãnh-đạo cuộc nổi dậy tại ba xã Ðịnh-Thủy, Phước-Hiệp và Bình-Khánh; thiết-lập tòa án nhân-dân, tịch-thu tài-sản của địa-chủ, … Ngày 24, QLVNCH đã dẹp tan các cuộc nổi loạn tại đây.

Tiếp theo đó, đại-hội đảng lần thứ ba nhóm họp tại Hà-Nội trong tháng 9.1960 đã công khai tuyên-bố ủng hộ bạo-lực vũ-trang tại Miền Nam VN. Ðến cuối năm, Mặt-trận Dân-tộc Giải-phóng Miền Nam Việt-Nam ra đời.

Tại Miền Nam VN, chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm được xem như thành-công trong ba năm đầu (1956-58) trên các mặt an-ninh (15) cũng như về uy-tín quốc-tế (14). Tuy nhiên chế-độ gia-đình-trị, phân biệt tôn-giáo, tiêu-diệt các đảng-phái đối-lập đã làm mất lòng dân cũng như làm suy yếu các nỗ-lực chống Cộng (14). Ngày 26.4.1960, một số các trí thức, chính-trị-gia tại Sài-Gòn đã ra tuyên-ngôn chỉ-trích và khuyến-cáo chính-phủ. Bản tuyên-ngôn nầy thường được gọi dưới tên là tuyên-ngôn Caravelle, là tên khách-sạn nơi ra mắt. Ngày 11.11, các đơn-vị nhảy dù đảo-chánh nhưng bất thành.

Ngày 6.1.1961, Thủ-tướng Nga Nikita Khrushchev tuyên-bố ủng-hộ chiến-tranh giải-phóng trên toàn cầu. Ngay sau đó, CSBV đã chính thức tuyên-bố ủng-hộ Mặt-trận Dân-tộc Giải-phóng Miền Nam. Chiến-tranh bắt đầu lan rộng. Tỉnh Kiến-Hòa bị tấn-công ngày 1.4.1961. Công-trình thủy-điện Ða-Nhim bị phá hoại (14). Ðến tháng 9, Việt-Cộng tràn ngập tỉnh-lỵ Phước-Vinh chỉ cách Sài-Gòn khoảng 40 dặm về phía bắc (16). Lực-lượng VC tại Miền Nam được phỏng-định đã gia tăng từ 5500 người vào đầu năm 1961 lên đến 25000 người vào khoảng cuối năm.

Chính-phủ Kennedy do đó đã gửi Phó Tổng-thống L.B. Johnson (5.1961); phái-đoàn do Tiến-sĩ kinh-tế-học E. Staley, nguyên giám-đốc viện nghiên-cứu Stanford (6.1961) rồi đến Tướng M.D. Taylor và cố-vấn chính-sách đối-ngoại và quốc-phòng W. Rostow sang Việt-Nam (10.1961) để xem xét tình hình tại chỗ. Mặc dù Tướng Taylor đã đề-nghị gửi quân Mỹ sang tham chiến tại VN, Tổng-thống Kennedy chỉ đồng ý cho gia tăng quân-số của QLVNCH từ 170 ngàn lên 200 ngàn (17). Số cố-vấn Mỹ cũng đã được gia tăng đến 3200 người (16). Ba đại-đội trực-thăng H-21 của bộ-binh Mỹ, 16 phi-cơ vận-tải C-123 được gửi sang VN (18). Hai chi-đoàn thiết-vận-xa M-113 cũng đã đến VN trong tháng 4 và được đặt dưới quyền sử-dụng của hai sư-đoàn 7 và 21 BB/QLVNCH. Ngày 8.2.1962, Phái-bộ Cố-vấn và Viện-trợ Quân-sự tại VN (MAAG) được đổi tên thành Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) và do Tướng P. Harkins cầm đầu.

Ngày 27.2.1962, hai Trung-úy phi-công Phạm-Phú-Quốc và Nguyễn-Văn-Cử ném bom Dinh Ðộc-Lập. Cả hai phi-cơ đều bị trúng đạn phòng không của các chiến hạm đang cập bến Bạch-Ðằng. Phi-cơ của Trung-úy Quốc rơi xuống sông Sài-Gòn, ông bị bắt. Trung-úy Cử bay sang Cao-Miên và phải đáp bằng bụng. Ông xin tị-nạn chính-trị tại đây.

Với chiến-thuật và vũ-khí mới, QLVNCH đã đạt được nhiều thắng-lợi trong năm 1962. Nhận-xét về giai-đoạn nầy, Tướng D.R. Palmer viết (16): “Theo năm tháng, phiến loạn đã bị làm chậm lại, ngưng đọng để sau cùng giảm thiểu đi. Các cố-vấn Mỹ đã đốc thúc họ (QLVNCH) bao vây và tiêu-diệt địch-quân, với ưu-thế về di-động do thiết-xa và trực-thăng mang lại, các đơn-vị của QLVNCH đã dần dần chiếm ưu-thế. Vì chưa tìm được phương cách đối-phó với di-động-tính và hỏa-lực của quân-đội chính-phủ, quân du-kích phải chịu những thiệt-hại nặng-nề. Dẫu một đôi khi, họ có thể chống lại một cách hiệu quả. Tuy nhiên những cơ-hội như vậy càng ngày càng xa. Rõ ràng, Hà-Nội không thể nào thay thế được những thiệt-hại bằng các cán-bộ miền Nam. Cuối năm 1962, nguồn nhân-lực nầy gần như đã kiệt quệ. Giật mình vì sự can thiệp bất ngờ của Mỹ và ngạc nhiên bởi sự hồi sinh của quân-đội miền Nam, quân phiến-loạn bắt đầu mất tinh-thần”.

Tiếc thay những thắng-lợi sơ-khởi nầy đã không được khai-thác đúng mức. Chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm với những lỗi lầm vừa kể đã làm hỏng mất cơ-hội chiến-thắng quân CS xâm-lược. Ðúng như R. Shaplen đã viết trong The New Yorker năm 1962 (8): “Cả Việt-Nam và Mỹ đều đồng ý rằng, trên tất cả mọi mặt, năm sắp đến sẽ là một năm quyết định để đi đến kết-quả của cuộc chiến-tranh nầy. Viện-trợ quân-sự Mỹ có lẽ đã giúp chính-phủ có được thời-gian để củng-cố lại sau những thất-bại trong mùa Thu rồi. Nhưng về cả hai mặt xã-hội và tâm-lý, kết-quả vẫn còn đáng nghi ngờ. Chính-phủ phải tạo được niềm tin cho người dân đang sinh sống tại mảnh đất nầy. Ðiều nầy đã thực-hiện được tại một số địa-phương, tuy nhiên vẫn chưa làm được với đại đa số dân chúng. Ðánh bại Việt-Cộng ra khỏi căn-cứ của họ là một việc, nhưng thay thế vào trái tim của dân chúng lại là một việc khác. Về lâu về dài, Cộng-Sản tin rằng thời gian và không gian thuộc về họ. Bất cứ điều gì xảy ra, chính-phủ không thể nào tuần tiễu được cả quốc-gia. Khả-năng để chính-phủ có thể kiểm-soát bằng cách chiếm được sự ủng-hộ của dân-chúng tùy thuộc vào sự kiện chính-phủ có thể trưởng thành được hay không về phương-diện chính-trị cũng như về xã-hội và kinh-tế”.

Bàn luận về giai-đoạn nầy, một vị lãnh-đạo tinh-thần viết (19): “Sự thật không đơn giản như vậy. Việc từ-chối thực hiện tổng tuyển-cử đã vi-phạm hiệp-định Genève và là một yếu-tố đáng kể khiến chiến-tranh bùng nổ trở lại. Tuy nhiên người ta nghi ngờ rằng chiến-tranh có thể bùng nổ trở lại nếu ông Diệm có khả-năng kiến tạo một miền Nam Việt-Nam dân-chủ pháp-trị cũng như một chính-phủ không Cộng-Sản với những kết-quả tốt đẹp về cải-cách xã-hội. Với một số người Việt-Nam, Hồ-Chí-Minh là anh-hùng dân-tộc. Tuy nhiên với nhiều người khác kể cả các lãnh-tụ quốc-gia đã chiến-đấu chống Pháp, họ vẫn còn giữ được những ký ức sống động về sự tàn nhẫn mà bộ máy Cộng-Sản của ông Hồ đã trừ khử những đồng-minh không Cộng-Sản ngay khi chiến-tranh vừa chấm dứt năm 1945 rồi lần nữa năm 1954. Họ là những người đã bị đánh bại trong hai cuộc tranh-đấu với Cộng-Sản trong cố-gắng xây-dựng một chính-phủ liên-hiệp dưới sự lãnh-đạo của ông Hồ. Nhiều người trong số nầy sẽ hoan nghênh một cơ-hội để xây-dựng một chính-quyền dân-chủ không Cộng-Sản hùng mạnh tại miền Nam Việt-Nam, bởi vì đây chính là những gì mà họ đã đi tìm từ năm 1945: một căn-bản để từ đó có thể thương-thảo với Cộng-Sản miền Bắc một thỏa thuận liên kết trong đó quyền-lợi của họ cũng như các nguyên-tắc dân-chủ được bảo-đảm. Do ông Diệm không thực hiện được như vậy, thay vào đó lại thiết-lập một chế-độ đàn áp, trừ khử một cách tàn-nhẫn nhiều nhóm cũng như cá-nhân có thể giúp đỡ ông, dung dưỡng hay khuyến-khích các hình thức bất-công xã-hội, khiến Việt-Cộng có thể lôi cuốn được sự yểm-trợ để tạo thành một mũi tấn-công đáng kể vào chế-độ của ông ta”.

Trong kế-hoạch bình-định lãnh-thổ, những khu trù-mật được thiết-lập vào những năm cuối của thập niên 50 đã được chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm, với sự cố-vấn của Sir Robert Thompson biến thành những ấp chiến-lược. Tuy nhiên địa hình Mã-Lai khác xa với Việt-Nam. Thiểu-số Hoa-kiều tại Mã-Lai cũng dễ-dàng phân biệt với người Mã-Lai bản xứ. Tình tự dân-tộc gắn liền với nơi chôn nhau cắt rốn, mồ mả tổ tiên và lũy tre xanh đã khiến người dân quê Việt-Nam khó lòng chấp nhận việc di dân vào các ấp chiến-lược. Bên cạnh đó, Ðại-tá Phạm-Ngọc-Thảo, người phụ-trách toàn bộ quốc sách ấp chiến-lược là một cán-bộ CS nằm vùng khiến quốc sách sau cùng đã thất-bại.

 

  1. CSBV phát-động chiến-tranh xâm-lược

 

Tháng 5.1962, Bộ-trưởng quốc-phòng McNamara trong dịp thăm viếng VN lần đầu tiên đã phát biểu (20): “Tôi chỉ nhìn thấy được sự tiến-triển và những dấu hiệu hy-vọng về các tiến-bộ trong tương-lai”. Hai tháng sau, một phụ-tá của McNamara là R. Hilsman trong một cuộc phỏng-vấn của báo-chí đã cho rằng sự trợ giúp của Hoa-Kỳ đã mang lại một niềm tin mới cho Miền Nam VN. Trong khi đó thì thất-bại tại vịnh Con Heo (CuBa) vào tháng 4.1961 đã khiến Tổng-thống Kennedy củng-cố thêm lập-trường của ông về thuyết Domino khi tuyên-bố (21): “Trên thế-giới chúng ta đã bị đối-kháng bởi những âm-mưu độc-tài và tàn-nhẫn, những thế-lực nầy chủ yếu dựa vào các hành-động bí-mật để bành-trướng ảnh-hưởng – lén lút xâm nhập thay thế cho xâm-lược, lật đổ chính-quyền thay vì bầu cử tự-do, sự tự-do chọn lựa phải nhường chỗ cho đe-dọa, du-kích về đêm thay vì chủ-lực ban ngày. Ðây là một hệ-thống đã trưng-dụng một khối nhân-sự và tài-nguyên to tát để xây-dựng một bộ máy chặt chẽ và hữu-hiệu … Chúng ta có ý định học hỏi bài học nầy. Chúng ta sẽ nghiên-cứu và định hướng lại tất cả các lực-lượng của chúng ta – Chiến-thuật cũng như các chủ-trương đường lối của cộng-đồng nầy. Chúng ta sẽ gia tăng nỗ-lực cho một cuộc tranh-đấu với nhiều hình-thức khó khăn hơn một cuộc chiến-tranh thông thường”.

Với quan-niệm như vậy, chính-phủ Mỹ bắt đầu một hình-thức chiến-tranh mới, phối-hợp các hoạt-động quân-sự, kinh-tế cùng các chương-trình cải-cách xã-hội được gọi dưới tên là Chiến-tranh Chống Phiến Loạn CTCPL (Counter-Insurgency) hay Chiến-tranh Ðặc-biệt. Các nhân-viên bộ ngoại-giao Mỹ bắt đầu phải thụ-huấn một khóa học sáu tuần về CTCPL. Cơ-quan Trung-ương Tình-báo (CIA), Cơ-quan Phát-triển Quốc-tế (AID) và Cơ-quan Thông-tin Mỹ (USIA) đều tập-trung nỗ-lực cho kế-hoạch CTCPL nầy. Lực-lượng Ðặc-biệt thuộc lục-quân Mỹ được chính thức mang mũ nồi xanh. Không-quân thành-lập các phi-đội không-kích (Air Commando). Hải-quân bắt đầu huấn-luyện các đơn-vị người nhái (SEAL). Trung-tâm Nghiên-cứu Chiến-tranh Ðặc-biệt được tài trợ dồi-dào hơn trước đồng thời một đường dây liên-lạc trực tiếp được nối liền với Bạch-cung (22).

Tiến-sĩ W. Fishel đã hướng-dẫn một nhóm chuyên-viên ngành khoa-học xã-hội thuộc đại-học Michigan đến VN để tổ-chức lại hệ-thống hành-chánh công-quyền và lực-lượng cảnh-sát. Tướng M. Taylor khẳng định VN là một thí-điểm cho Chiến-tranh Ðặc-biệt khi viết (23): “Chúng ta đã có một phòng thí-nghiệm tại VN nơi mà âm-mưu nổi dậy để lật đổ chính quyền, học-thuyết Hồ-Chí-Minh, đã được áp-dụng dưới nhiều hình thức. Ðây chẳng những là một sự thách đố cho các lực-lượng vũ-trang mà còn cho nhiều cơ-quan chính-quyền khác, vì các cơ-quan nầy đều liên-hệ ít nhiều đến VN. Tuy nhiên, trên lãnh-vực quân-sự chúng ta đã nhận thấy tầm quan-trọng của khu-vực nầy như một thí điểm. Tại đây chúng ta đã có những toán để tìm hiểu các nhu-cầu về dụng-cụ cho chiến-tranh du-kích. Chúng ta đã lần lượt gửi các sĩ-quan cao cấp đến đó để trao đổi kinh-nghiệm với mọi người cũng như để thu thập kinh-nghiệm thực tiễn trong nhiều tuần, do đó tuy không hoạt-động thường trực tại VN, họ đã mang theo về cơ-quan của họ các kinh-nghiệm nầy”.

Một đảng viên CS cao cấp đã định-nghĩa ba đặc điểm của chiến-tranh đặc-biệt trong giai-đoạn nầy như sau (24):

. Phối hợp các hoạt-động quân-sự và không quân-sự với hoạt-động quân-sự đóng vai trò chính … Ðế-quốc Mỹ tìm cách lừa gạt nhân-dân Miền Nam VN bằng những ý đồ chính-trị và kinh-tế để tranh thủ nhân tâm.

. Chúng đã bành trướng quân ngụy và gia tăng di-động-tính của bọn tai sai nầy … ép buộc người dân lương thiện vào hàng ngũ của ngụy quân đồng thời huấn-luyện quân-sự cho  mọi người.

. Dùng ấp chiến-lược như một phương tiện chính cho kế-hoạch không quân-sự, là các trại tập-trung trá hình với mục-đích cắt đứt các quan-hệ anh em giữa lực-lượng tự-vệ vũ-trang và nhân-dân ta.

Nằm trong kế-hoạch phản-công Chiến-tranh Ðặc-biệt của Mỹ, tiểu-đoàn 514 VC đã

 

đánh bại cuộc hành quân của sư-đoàn 7 BB tại Ấp Bắc. Trước biến cố nầy Bộ Tham-mưu Liên-quân Mỹ đã gửi một toán nghiên-cứu gồm sáu tướng lãnh và một đô-đốc sang VN để thẩm-định tình hình. Tuy nhiên với những báo cáo đầy lạc-quan của các cấp chỉ-huy Mỹ tại VN và hào-nhoáng vĩ-đại của nước Mỹ còn đọng lại sau chiến-tranh thế-giới lần thứ hai, người Mỹ không tin rằng họ có thể bị đánh bại bởi một nhóm du-kích CS. Một sĩ-quan QLVNCH đã nhận-xét về thất bại tại Ấp Bắc như sau (13): “Phân tách về thảm bại Ấp Bắc cũng như về những thất bại của quân lực VNCH trên toàn lãnh thổ vào giai đoạn đó, ta thấy rằng yếu tố kỹ thuật và khả năng tác chiến chỉ là hệ quả tất nhiên của chính sách chọn lựa và sử dụng nhân tài sai lầm của dinh Ðộc Lập”.

Mặc dù thiếu sót sự nhận định về phía Mỹ, một sĩ-quan Mỹ đã nhận xét nhược điểm của VNCH như sau (16): “Trên thực tế, những sự ồn ào về chiến thắng hay chiến bại đều đã che mờ điểm chủ yếu. Binh-sĩ trên chiến-trường thông thường chiến-đấu giỏi vì họ đã được chỉ-huy như vậy. Sự khác biệt trên thực tế là do ở chính sách cao cấp, đặc biệt từ dinh Ðộc Lập tại Sài-Gòn, đã ngăn cản sự thống-nhất chỉ-huy; đồng thời không nhận chân được rằng phải có sự đánh đổi mới tạo được chiến-thắng. Hà-Nội sẵn sàng mua chiến-thắng bằng máu, Sài-Gòn lại không. Ðơn-giản như vậy”. Ông đã nhận-xét hơi sớm và thiếu sót về phía Mỹ vì chỉ khoảng bảy năm sau, ngay cả lúc quân-đội Mỹ đang trên tiến trình rút quân, bất bình trước sự lo sợ các giá phải trả bằng máu của quốc-hội  Mỹ, Sir Robert Thompson đã viết (25): “Với số thương vong trong 10 năm lên đến 50 ngàn và một sự chi-tiêu to tát, người Mỹ đã lý luận: Chúng ta không chắc là đã làm đủ rồi sao? Ðây không phải là một câu hỏi đáng được đặt ra bởi một tín-đồ, cha mẹ, bạn hữu hoặc đồng-minh. Người Anh đã không đặt câu hỏi nầy với Pháp sau khi thiệt mất 60 ngàn quân (19 ngàn người bị thiệt-mạng) chỉ trong một ngày tại Somme năm 1916 khi giải vây Verdun. Tuy nhiên có lẽ Anh nên đòi hỏi như vậy ở người Mỹ năm 1942. Nghi-vấn nầy không nên xuất phát từ một quốc-gia mà chỉ mới vài năm trước đây đã tuyên-bố sẽ trả bất cứ giá nào cho tự-do. Ðiều nầy cũng là một tiên-đoán tệ hại từ một quần chúng chưa được thử thách bởi những hy-sinh chủ yếu”.

Với những yểm-trợ nhân sự và vũ-khí từ Miền Bắc, các lực-lượng VC tại Miền Nam ra sức phá-hoại quốc-sách ấp chiến-lược bằng cách tấn-công đánh phá các đồn bót, căn-cứ quân-sự bảo-vệ các ấp nầy. Một trận đánh tiêu biểu cho giai-đoạn nầy là trận Ðầm Dơi hay đúng ra là trận Ðầm Dơi Cái Nước. Lần đầu tiên, một chi khu quân-sự tại vùng 4 Chiến-thuật bị quân CS đánh chiếm.

Ðể huy-động các sắc tộc thiểu-số chống lại CS, Cơ-quan Trung-ương Tình-báo Mỹ (CIA) tổ-chức kế-hoạch Dân-sự Chiến-đấu (Civilian Irregular Defence Group) gọi tắt là CIDG. Các quân-nhân Lực-Lượng Ðặc-Biệt (LLÐB) Mỹ với kinh-nghiệm hoạt-động cùng với các bộ-lạc Mèo và Kha tại Lào được sử-dụng làm nồng cốt cho kế-hoạch nầy. Lúc bấy giờ tỉnh Darlac là nơi chịu áp-lực nhiều nhất của CS và sắc-tộc Rhadé sống tại đây được xem là sắc-tộc thiểu-số tiến-bộ nhất nên buôn Enao nằm tại phía đông bắc thành-phố Ban-Mê-Thuột được chọn làm thí-điểm cho kế-hoạch CIDG (14.2.1962). Sự thành-công tại buôn Enao khiến Mỹ cho phát-triển kế-hoạch sang các buôn kế cận. Dần dần thành hình một hệ-thống các trại LLÐB. Tuy nhiên đến gần một năm sau, CS mới tấn-công các trại nầy. Ngày 3.1.1963, VC tấn-công trại Plei Mrong gần Pleiku nhưng dưới sự yểm-trợ của pháo-binh cơ-hữu, VC phải rút lui. Các hoạt-động của CS chống lại những trại LLÐB tăng dần theo thời-gian. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1963 đã có đến 372 lần chạm địch trong các cuộc tuần tiễu của LLÐB, 94 cuộc pháo-kích vào các trại và 11 tổ-chức nội-tuyến bị khám-phá. Ngày 24.11.1963, trại Hiệp-Hòa thuộc tỉnh Hậu-Nghĩa là trại LLÐB đầu tiên bị CS đánh chiếm.

Bên cạnh thất-bại về quân-sự, chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm còn thẳng tay đàn áp Phật-giáo. Hình ảnh tự thiêu của các tu-sĩ Phật-giáo khiến dân-chúng Mỹ bất bình. Tuy đây không phải là nguyên-nhân duy nhất nhưng cũng đã là một trong những nguyên-nhân chính đưa đến cuộc đảo-chính ngày 1.11.1963 để lật đổ Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm.

Những cuộc chỉnh-lý hoặc đảo-chính liên tiếp sau đó khiến tình hình chính-trị tại Miền Nam thêm hỗn-loạn. Tính đến khi hai Tướng Thiệu và Kỳ lên cầm quyền năm 1965, miền Nam VN đã có đến sáu lần thay đổi chính-phủ: Nguyễn-Ngọc-Thơ, Nguyễn-Khánh, Trần-Văn-Hương, Nguyễn-Xuân-Oánh, Phan-Huy-Quát và Nguyễn-Cao-Kỳ. Các cuộc biểu tình của sinh-viên, Phật tử đồng thời với bão lụt tại miền Trung và cuộc nổi loạn của bốn trại LLÐB Thượng tại tỉnh DarLac khiến cả hai phía CS và Mỹ cho rằng Miền Nam sắp sụp đổ. CS do đó đã gia tăng các hoạt-động quân-sự. Quân-đội CSBV được chính thức ghi nhận xâm nhập vào Nam từ mùa hè năm 1964 (8). Hai trung-đoàn 271 và 272 được đôn cấp thành sư-đoàn 9 VC, sư-đoàn đầu tiên thoát thai từ chiến-tranh du-kích tại Miền Nam.

Ngày 3.2.1964, VC tấn-công các đơn-vị của QLVNCH tại Tây-Ninh và căn-cứ Mỹ tại KonTum. Bốn ngày sau, rạp hát Kinh-Ðô bị nổ tung vì bom của VC. Ba quân-nhân Mỹ bị thiệt mạng cùng với hơn 50 người khác bị thương. Ngày 2.5, VC đặt thủy-lôi đánh chìm tàu chuyên chở trực-thăng USS Card trên sông Sài-Gòn. Ngày 14.5, một cuộc hành-quân từ trại LLÐB Suối Ðá đã đưa đến trận đánh đẫm máu tại Bàu Cối giữa quân chính-qui CS và chủ-lực quân VNCH. Ngày 4.7, VC tấn-công và tràn ngập trại LLÐB Polei Krong ở phía bắc tỉnh Kontum. Hai ngày sau, một tiểu-đoàn VC đột-kích trại Nam-Ðồng tại phía bắc tỉnh Thừa-Thiên nhưng phải rút lui vào sáng ngày hôm sau. Ðại-úy R.H. Donlon chỉ-huy toán A 726 LLÐB tại trại nầy là sĩ-quan Mỹ đầu tiên tại chiến-trường VN được ban thưởng Danh-dự Bội-tinh (Medal of Honor), huy-chương cao quý nhất của quân-đội Hoa-Kỳ.

Ngày 2.8, trong khi đang hải-hành dọc theo duyên-hải Miền Bắc VN, khu-trục-hạm Maddox của hải-quân Mỹ bị hải-quân CSBV tấn-công. Hai ngày sau, các phi-cơ của hải-quân Mỹ đánh phá nhiều nơi tại Miền Bắc để trả đũa. Sau đó, lưỡng-viện quốc-hội Mỹ đã biểu-quyết chấp-thuận nghị-quyết vịnh Bắc-Việt (Tonkin Gulf Resolution) trao toàn quyền hành-động về quân-sự cho Tổng-thống Johnson.

Ngày 1.11, VC pháo và đột-kích phi-trường Biên-Hòa khiến 5 lính Mỹ bị thiệt mạng cùng với 76 người khác bị thương. Năm oanh-tạc-cơ B-57 bị phá hủy cùng với tám chiếc khác bị hư hại. Tuy nhiên Mỹ không có phản-ứng nào, một phần vì lo ngại phản-ứng của Trung-Cộng, phần khác vì đã gần đến ngày bầu cử Tổng-thống Mỹ (3.12.1964). Ngày 7.12, VC mở mặt trận tại thung-lũng An-Lão. Trận đánh kéo dài trong nhiều ngày. Thấy không thắng, VC rút lui. Phía VNCH cũng bỏ rơi quận An-Lão do áp-lực địch cũng như vị-trí xa xôi, hiểm trở. Một ngày trước Giáng-Sinh, VC dùng 113 ký plastic phá nổ khách-sạn Brink tại Sài-Gòn khiến 2 người Mỹ bị thiệt mạng và 65 người khác bị thương. Bốn ngày sau, VC tấn-công và chiếm giữ làng Bình-Giã thuộc tỉnh Phước-Tuy. Sư-đoàn 9 VC sau đó đã phục-kích và đánh tan các lực-lượng của QLVNCH đến giải vây. Chiến-tranh VN đã qua một bước ngoặc mới với sự tham chiến của các đơn-vị CS cấp trung-đoàn. VC cũng đã thay thế chiến-thuật du-kích, đánh và rút nhanh bằng chiến-thuật chính-quy, đánh và giữ chiến-trường trong nhiều ngày. Cũng trong tháng Chạp, tin tình-báo xác-nhận lần đầu tiên một trung-đoàn chính-quy của CSBV đã xâm nhập vào tỉnh Pleiku.

Nhận-định về thất-bại nầy, Tướng Westmoreland viết (26): “Cuộc biểu-dương của VC tại Bình-Giã trong tháng Chạp năm 1964 cho thấy họ bắt đầu giai-đoạn ba theo lý-thuyết của Mao-Trạch-Ðông, đó là chiến-tranh diện-địa”. Chuẩn-tướng D. Palmer cũng đã nhận-xét thời điểm đánh dấu sự chuyển biến của chiến-tranh như sau (16): “Gửi các lực-lượng chủ-lực vào chiến-trường Miền Nam, nơi mà trước đây thường được mô tả là nội chiến, Hà-Nội đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc chiến-tranh. Ðây là một quyết-định chỉ-đạo then chốt”.

Trước tình hình đen tối tại Miền Nam VN trên cả hai phương-diện chính-trị lẫn quân-sự, Tổng-thống tân cử Johnson đã yêu cầu hội-đồng an-ninh quốc-gia cứu xét tình hình đồng thời tìm biện-pháp đối-phó. Kết-quả là một chính-sách dùng áp-lực tiệm tiến ra đời. Chính-sách nầy đã chỉ-đạo tất cả các hoạt-động quân-sự của Mỹ từ lúc bấy giờ cho đến khi chấm dứt chiến-tranh và được mô tả như sau (27): “Cân nhắc một cách cẩn-thận áp lực để có thể mang lại các phản ứng thích-hợp và tiên-đoán được từ phía Hà-Nội. Ðe-dọa tối-thiểu và gián-tiếp nhưng gia tăng áp-lực một cách chậm-chạp để hy-vọng một cách tối hậu rằng Hà-Nội sẽ phải đi đến bàn thương-thuyết trong những điều-kiện thuận-lợi cho Hoa-Kỳ”.

 

  1. VNCH và Ðồng Minh chống Cộng Sản xâm lược

 

Ngày 3.2.1965, VC tấn-công trại Holloway, căn-cứ của tiểu-đoàn 52 Hàng-không Dã-chiến tại Pleiku khiến 7 quân-nhân Mỹ bị tử thương cùng với hơn 100 người khác bị thương. Ðể trả đũa, một cuộc oanh-tạc mang tên Flaming Dart I được các phi-cơ Mỹ từ hàng-không mẫu-hạm USS Ranger thực-hiện ngày 7.2. Ba ngày sau, VC lại đặt bom chung-cư Mỹ tại Qui-Nhơn. Ngày 11.2, chiến-dịch Flaming Dart II được không-quân Việt và Mỹ thực-hiện tại phía nam lãnh-thổ Bắc-Việt.

Ngày 13.2, Tổng-thống Johnson chính-thức chấp-thuận một kế-hoạch oanh-tạc dài hạn Miền Bắc VN lấy tên là Rolling Thunder. Chiến-dịch nầy kéo dài từ tháng 3.1965 đến tháng 11.1968 mới chấm dứt khi Tổng-thống Johnson ra lệnh đình chỉ oanh-tạc Miền Bắc. Phi-cơ Mỹ đã thực hiện tất cả 304 ngàn phi-vụ chiến-thuật cùng với 2380 phi-vụ B-52 và đã thả khoảng 643 ngàn tấn bom lên Miền Bắc VN (18). Tính đến ngày 22.10.1968, khoảng 77% các nơi dự-trữ  đạn dược, 65% các căn-cứ tồn trữ nhiên-liệu, 59% các nhà máy phát điện, 55% các cầu cống cùng với 39% các cơ-sở bảo-trì xe hỏa đã bị phá hủy. CSBV phải điều động hơn 600 ngàn dân quân vào các công-tác sửa-chữa và phòng-không (28). Chiến-dịch nầy đã được thực-hiện với ba mục-đích chính là nâng cao tinh-thần chiến-đấu của quân và dân Miền Nam, trừng phạt các hành-động xâm-lược của CSBV và làm suy giảm cường-độ xâm nhập người và vũ-khí vào Miền Nam đồng thời chứng tỏ cho cấp lãnh-đạo CSBV thấy được giá đắt mà họ phải trả để buộc họ đi đến bàn hội-nghị. Tuy nhiên kết-quả cho thấy là sau hơn ba năm, chiến-dịch oanh-tạc đã không mang lại kết-quả như ý. Một phi-công Mỹ phải thú nhận (29 : “Không-lực đơn thuần không thể nào mang lại chiến-thắng tại Việt-Nam”. Chi-tiết về các hoạt-động không-quân trên vòm trời Bắc-Việt có thể phải cần đến nhiều bút mực, do đó đã đi quá phạm-vi của quyển sách nầy.

Ngày 16.2.1965, một phi-cơ trực-thăng tản thương phát-giác được tàu lạ tại Vũng Rô. Hải, lục, không-quân VNCH phối-hợp tiêu-diệt được tàu địch. Lần đầu tiên việc chuyển-vận quân-cụ, vũ-khí xâm nhập vào Miền Nam bằng đường biển của CSBV bị QLVNCH khám-phá.

Ðể ngăn ngừa CS trả đũa các cuộc oanh-tạc bằng cách đánh phá các phi-trường nơi xuất phát các phi-vụ oanh-tạc Miền Bắc, chính-phủ Mỹ chấp-thuận đề-nghị của Tướng Westmoreland gửi các đơn-vị TQLC Mỹ sang VN để bảo-vệ các phi-trường nầy. Ngày 8.3, lữ-đoàn 9 TQLC Mỹ đổ bộ vào Ðà-Nẵng. Ðến tháng 8, bốn trung-đoàn 3, 4, 7 và 9 TQLC Mỹ đã có mặt tại quân-khu 1. Ngày 5.5, lữ-đoàn 173 Dù đến Biên-Hòa. Ðến tháng 7, sư-đoàn 101 Dù đến bảo-vệ căn-cứ Cam-Ranh. Hai tháng sau, sư-đoàn 1 Kỵ-Binh Không-Vận đến đồn trú tại An-Khê. Ngày 23.10, sư-đoàn 1 BB Mỹ được tăng-cường cho quân-khu 3. Theo sau là sư-đoàn 25 BB Mỹ trong tháng Chạp. Quân-số của Mỹ từ 23 ngàn giữa năm 1964 đã tăng lên đến hơn 184 ngàn vào cuối năm 1965.

Trong khi quân-đội Mỹ ồ ạt đổ vào Miền Nam thì tại Miền Bắc, các đơn-vị quân-đội Trung-Cộng cũng bắt đầu tiến vào đất VN theo lời yêu cầu của Hồ-Chí-Minh với Mao-Trạch-Ðông ngày 16.5.1965 (30). Theo các tài-liệu của Trung-Cộng được công bố gần đây thì trong khoảng thời gian từ tháng 6.1965 đến cuối năm 1968, có tất cả bảy sư-đoàn công-binh Trung-Cộng hoạt-động trên lãnh thổ miền Bắc VN. Các đơn-vị nầy phụ-trách xây-dựng các công-sự phòng thủ, hệ-thống giao-thông và hỏa xa trong vùng nằm giữa vĩ-tuyến 20 (ngang tỉnh Thanh-Hóa) và biên-giới Việt Hoa. Một nhân-chứng VN xác nhận quân Trung-Cộng đóng tại khu mỏ Quảng-Ninh, khu tự-trị Việt Bắc, một phần khu Tây Bắc và dọc theo quốc lộ 1 xuống đến Yên-Sở (phía nam Hà-Nội) (31). Ðể bảo vệ các đơn-vị nầy, tổng cộng có tất cả 16 sư-đoàn (63 trung-đoàn) pháo binh phòng không của Trung-Cộng đã có mặt tại Miền Bắc. Tuy nhiên đơn vị pháo-binh Trung-Cộng sau cùng rời khỏi VN là vào tháng 3.1969. Các đơn-vị nầy đã chiến-đấu 2154 trận, bắn rơi 1707 phi-cơ của Mỹ và làm hư-hại 1608 chiến khác ( 30).

Từ đầu năm 1968, các đơn vị quân-đội Trung-Cộng bắt đầu rút lui vì sự xung khắc ngày càng tăng giữa Hà-Nội và Bắc-Kinh. Hai nguyên nhân chính của sự bất hòa nầy là do CSBV không muốn Trung-Cộng liên hệ đến hai nước Lào và Campuchia đang nằm dưới ảnh hưởng của CS Việt-Nam. Lý do thứ hai là Trung-Cộng không đồng ý để CSBV thương thảo trực tiếp với Mỹ tại hội-nghị Ba-Lê mà họ cho là còn quá sớm.

Trước sự tham chiến trực tiếp của quân-đội Mỹ cũng như việc Mỹ gia tăng mức độ oanh-tạc miền Bắc, ngày 25.3.1965, Ban Chấp-hành Trung-ương Ðảng CS triệu tập Hội-nghị Trung-ương lần thứ 11. Chủ-trương của hội-nghị là đẩy mạnh chiến-tranh tại Miền Nam. Thi-hành quyết-nghị nầy, Quân-ủy Trung-ương và Bộ Tổng Tư-lệnh quân-đội CSBV đã chỉ thị cho các đơn-vị gia tăng mức độ tác-chiến. Mở đầu cho đợt phản công nầy, một trung-đoàn CS đã đụng độ với TQLC tại Phụng-Dư thuộc tỉnh Bình-Ðịnh. Kết thúc trận đánh, VC phải rút lui vì bị thiệt hại nặng.

Ngày 10.5, một trung-đoàn quân CS đã chiếm Sông Bé, tỉnh-lỵ của tỉnh Phước-Long. Ðến cuối tháng, VC tràn ngập đồn Ba-Gia tại Quảng-Ngãi đồng thời gây thiệt-hại nặng cho hai tiểu-đoàn thuộc trung-đoàn 51 BB. Tin tình-báo cho biết sư-đoàn 325 CSBV đã có mặt tại Miền Nam VN, sư-đoàn 304 đang trên đường xâm nhập.

Ngày 10.6, quận Ðồng-Xoài thuộc tỉnh Phước-Long bị hai trung-đoàn CS tấn-công. Một trại LLÐB bên ngoài quận bị CS chiếm đóng. Nhiều tiểu-đoàn đến giải vây bị thiệt-hại nặng. Ðến cuối tháng, trại LLÐB Ðức-Cơ bị CS bao vây. Nhiều tiểu-đoàn Dù được sử-dụng để giải tỏa áp lực của địch. Ngày 20.7, VC lại tấn-công trại Bố-Ðức nằm trong hệ-thống các trại LLÐB biên-phòng của quân-khu 3 nhưng cũng đã bị đẩy lui.

Các thiệt hại của QLVNCH càng ngày càng tăng. Hậu-quả là Tướng Westmoreland phải hủy bỏ kế-hoạch thành-lập thêm một sư-đoàn mới cho QLVNCH. Ông đã nhận-xét về giai-đoạn nầy như sau (26): “Thời-gian mà tôi hy-vọng rằng có thể có được bằng cách sử-dụng một lực-lượng Mỹ hạn chế đồng thời tạo nên sức mạnh của QLVNCH rõ ràng sẽ không có được. Biến cố đang lớn dần, đưa đến chiến-tranh bán qui-ước mà người Pháp đã gặp phải trong giai-đoạn cuối. Giai-đoạn ba của chiến-tranh Mao-Trạch-Ðông đã bắt đầu”.

Ngày 26.6, Tướng Westmoreland được Hoa-Thịnh-Ðốn cho phép sử-dụng các đơn-vị Mỹ đang có mặt tại Miền Nam VN vào các cuộc phản công. Hai ngày sau, một cuộc hành-quân tại chiến-khu Ð được tổ-chức với sự tham-dự của lữ-đoàn 173 Dù Mỹ, một tiểu-đoàn bộ-binh Úc và năm tiểu-đoàn bộ-binh VNCH. Chiến-thuật Lùng và Diệt (Search and Destroy) ra đời.

Khoảng hai tháng sau, một cơ-hội tốt đến với Tướng Westmoreland khi ông được tin tình-báo cho biết một lực-lượng CS đang tập-trung quanh căn-cứ của TQLC Mỹ gần Chu-Lai. Cuộc hành-quân thủy-bộ đầu tiên của Mỹ tại chiến-trường VN được tổ-chức. Trận Vạn-Tường hay hành-quân Starlite với sự tham-dự của nhiều tiểu-đoàn TQLC Mỹ đã tiêu-diệt khoảng 700 quân CSBV tại bán đảo Batangan. Chiến-thắng nầy đã khiến Tướng Westmoreland hân-hoan nhận-xét (26): “Ðây là một bắt đầu tốt đẹp cho các lực-lượng vũ-trang của Mỹ. Mặc dù trong tương-lai rồi tôi sẽ có những giây phút lo âu vì một số đơn-vị bị thiệt-hại nặng, tuy nhiên từ bước khởi đầu nầy cho đến khi Mỹ rút lui bảy năm rưỡi sau đó, không có một đơn-vị của Mỹ nào tại miền Nam VN ngoại trừ một vài đại-đội trong khi tấn-công hoặc một vài đồn bót nhỏ bị thiệt-hại đến mức độ có thể gọi là đáng kể. Ðây là một kỷ-lục đáng ghi nhận”.

Mùa mưa năm 1965, các hoạt-động của CS tại vùng đồng-bằng sông Cửu-Long cũng gia tăng rõ rệt do địa thế sình lầy, nhiều sông rạch và giới hạn sự can-thiệp của không-quân vì thời tiết. Một trong những trận đánh lớn nhất trong khoảng thời gian nầy xảy ra dọc theo kinh Bà Ðầm Thác Lác thuộc tỉnh Phong-Dinh. Mặc dù VC bỏ lại nhiều xác chết, lực-lượng hành-quân cũng bị thiệt hại khá nặng.

Những thất-bại liên tiếp của QLVNCH khiến các cấp lãnh-đạo CSBV quyết-định sử-dụng các đơn-vị chính-quy vừa mới xâm nhập vào Miền Nam để tiêu-diệt các trại LLÐB quanh Pleiku, sau đó đánh chiếm thị-xã nầy, kiểm-soát miền cao-nguyên và sau cùng sẽ cắt đôi lãnh-thổ VNCH theo trục Pleiku – An-Khê – Qui-Nhơn. Ðể mở đầu chiến-dịch Ðông Xuân với mục đích vừa nói, khoảng cuối tháng 10, một trung-đoàn quân CSBV được lệnh bao vây trại LLÐB Pleime nằm về phía tây nam Pleiku. Tuy nhiên QLVNCH với yểm trợ của không-quân Mỹ đã giải vây được trại nầy.

Tướng Westmoreland quyết-định sử-dụng sư-đoàn 1 Kỵ-Binh Không-Vận (KBKV) để truy lùng các lực-lượng CS đã tham dự chiến-trường Pleime đồng thời phá vỡ kế-hoạch của Hà-Nội. Chiến-dịch tại thung-lũng Ia-Drang đã kết thúc với khoảng 1300 quân CS bị thiệt mạng. Thất-bại nầy đã làm tan biến ảo-vọng cắt đôi VNCH năm 1965 đồng thời cũng đã khiến các cấp lãnh-đạo CS phải xét lại chiến-lược của họ. Nguyên-tắc khối-lượng của Clausewitz trong trường-hợp nầy đã không địch nổi với di động tính và hỏa-lực của Mỹ.

Cũng trong tháng 11.1965, hai trận đánh lớn khác giữa quân-đội Mỹ và Việt-Cộng đã xảy ra. Lữ-đoàn 173 Dù Mỹ đã đụng độ với các đơn-vị VC thuộc quân-khu 7 tại Ðất Cuốc cách thị-xã Biên-Hòa khoảng 30 cây-số. Trận thứ nhì đã xảy ra giữa trung-đoàn 2, sư-đoàn 1 BB Mỹ và sư-đoàn 9 VC tại Bàu Bàng cách Thủ-Dầu-Một khoảng 25 cây-số.

Với mức-độ chiến-tranh càng ngày càng khốc-liệt, chính-phủ Mỹ phải gửi thêm quân sang VN. Các nước đồng-minh cũng gia tăng sự yểm-trợ. Ngày 29.1.1966, Tổng-thống Phác-Chánh-Hy tuyên-bố sẽ gia tăng quân-số của quân-đội Ðại-Hàn tại VN lên hai sư-đoàn và một trung-đoàn. Thái-Lan gửi sang các đơn-vị bộ-binh và không-quân. Úc-Ðại-Lợi và Tân-Tây-Lan cũng hứa tăng thêm quân. Năm 1966 do đó là năm mà cả hai bên tham chiến đặt trọng-tâm vào việc củng-cố lực-lượng của mình. Tính đến cuối năm 1966, Mỹ có 59 tiểu-đoàn bộ-binh và 24 tiểu-đoàn TQLC tại Miền Nam VN với quân-số tổng-cộng là 385 ngàn người. Các lực-lượng CS tại Miền Nam được ước-lượng có khoảng 282 ngàn quân.

Cũng trong năm nầy, chính-phủ Mỹ nhận thấy rằng các cuộc oanh-tạc trong chiến-dịch Rolling Thunder không mang lại kết quả vì CSBV vẫn tiếp tục yểm-trợ VC tại Miền Nam với mức độ không thay đổi. Bộ-trưởng quốc-phòng McNamara trong một báo-cáo ngày 14.10.1966 đã viết: “Ngay cả cho phép có sự phóng-đại trong các phúc-trình thì địch-quân đang chịu tổn thất – tử thương trong và sau khi chiến-đấu – với mức độ hơn 60 ngàn người trong một năm. Các đường xâm nhập có lẽ đều là tử lộ cho quân-đội miền Bắc. Tuy nhiên vẫn không có dấu hiệu suy sụp về tinh-thần và có lẽ họ vẫn có thể bù đắp được những tổn-thất bằng sự xâm nhập từ Miền Bắc và thu nhận tại Miền Nam”. Chính-phủ Mỹ và VNCH do đó đã họp hội-nghị thượng-đỉnh tại Honolulu trong các ngày 6-9.2.1966 để thẩm-định tình hình. Nội-dung của cuộc họp như Tướng Westmoreland đã ghi nhận là để thảo-luận kế-hoạch cho năm 1966 và các năm kế tiếp. Kết-quả cho thấy có ba nỗ-lực chính sẽ được thực hiện trong năm 1966. Quân-đội Mỹ bắt đầu các cuộc hành-quân Lùng và Diệt song song với kế-hoạch bình-định và phát-triển trong khi chính-phủ Mỹ gia tăng các hoạt-động ngoại-giao nhằm thương-thảo với CS.

Trên mặt quân-sự, người ta thấy có bốn khu-vực chính nơi xảy ra các cuộc đụng độ lớn giữa Mỹ và CSBV là vùng duyên-hải, cao-nguyên, giới tuyến và biên-giới Việt Miên. Hai khu-vực duyên-hải và cao-nguyên nằm trong lãnh-thổ của quân-khu 2 với sư-đoàn 1 KBKV tại An-Khê, trung-đoàn 3 thuộc sư-đoàn 25 BB Mỹ tại Pleiku và một lữ-đoàn thuộc sư-đoàn 101 Dù gần Tuy-Hòa. Cuộc hành-quân tiêu biểu của khu-vực nầy là Masher (sau đó được đổi tên lại là White Wing theo ý-kiến của Tổng-thống Johnson). Lữ-đoàn 7 thuộc sư-đoàn 1 KBKV đã chạm trán với các trung-đoàn 2, 18 và 22 CSBV. Khu-vực giới tuyến thuộc lãnh-thổ của quân-khu 1 với các căn-cứ của TQLC Mỹ tại Chu-Lai, Phú-Bài, Ðà-Nẵng và ngoại vi thành-phố Huế. Biến cố quan-trọng tại mặt trận nầy là việc thất thủ của các trại LLÐB tại biên-giới Việt Lào mà điển-hình là trại A-Shau tại phía tây nam tỉnh Thừa-Thiên. Thung-lũng A-Shau, A-Lưới từ bấy giờ đã trở thành an toàn khu cho quân CSBV. Ngoài ra quân-đoàn III Thủy-bộ TQLC Mỹ cũng đã mở cuộc hành-quân Hasting tại phía bắc tỉnh Quảng-Trị với sự tham dự của 8000 TQLC Mỹ và 3000 quân VNCH. Vùng biên-giới Việt Miên với các rừng Bời Lời, Hố Bò cùng các chiến-khu C, Ð, Tam Giác Sắt là vùng trách-nhiệm của sư-đoàn 1 BB, 25 BB và lữ-đoàn 173 Dù Mỹ. Nhiều cuộc hành-quân đã được thực-hiện với mục-đích càn quét các mật khu nổi tiếng của VC, bảo-vệ các đồn-điền cao-su và các trục giao-thông chính. Cuộc hành-quân lớn nhất trong giai-đoạn nầy là Attleboro tại chiến-khu C với các trận đụng độ giữa lữ-đoàn 196 BB Mỹ và sư-đoàn 9 VC. Thiệt-hại nặng nề về phía Mỹ khiến Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) phải cho thay thế lữ-đoàn-trưởng.

Ngoài các cuộc hành-quân Lùng và Diệt của quân-đội Mỹ thì quân-đội Úc với kinh-nghiệm chiến-tranh chống du-kích tại Mã-Lai trong thập niên 50 cũng đã áp-dụng một hình thức chiến-tranh khác được gọi dưới tên là chiến-tranh chống phiến-loạn (Counter-Insurgency). Tỉnh Phước-Tuy nằm ở phía đông nam Sài-Gòn được chọn làm thí điểm. Mức độ thành-công tại đây khiến quân CS mưu toan gây thiệt-hại nặng cho lực-lượng đặc-nhiệm của Úc. Khoảng một trung-đoàn quân CS đã bao vây một đại-đội Úc tại Long-Tân, tuy nhiên quân CS đã thất-bại trước sự phối-hợp của bộ-binh, thiết-vận-xa và pháo-

 

binh Úc.

Bên cạnh các hoạt-động quân-sự, chính-phủ Mỹ bắt đầu chú trọng đến kế-hoạch bình-định và phát-triển với việc bổ-nhiệm phó đại-sứ Porter kiêm nhiệm chức vụ phụ-trách các vấn-đề về bình-định. Tuy nhiên do không được sự ủng-hộ của đại-sứ Lodge nên kế-hoạch bình-định đã được cải tổ ngày 26.11.1966 với việc tập-trung các cơ-quan dân-sự dưới quyền ông Porter. Trong khi đó thì chính-phủ VNCH qua Bộ Xây-dựng Nông-thôn đã cho thành-lập 59 toán cán-bộ Xây-dựng Nông-thôn. Tuy nhiên các toán nầy đã gặp phải trở-ngại vì không được sự yểm-trợ đúng mức của các đơn-vị chủ-lực-quân do nhu-cầu hành-quân.

Cả ba nỗ-lực chính mà hai chính-phủ Mỹ và VNCH cố-gắng thực hiện trong năm 1966 đều không mang lại kết quả nên cuối tháng 10.1966, Tổng-thống Johnson phải triệu tập hội-nghị thượng-đỉnh tại Manila để cùng với chính-phủ VNCH tìm một giải-pháp khác. Nhân dịp nầy, Tổng-thống Mỹ đã hứa sẽ rút quân Mỹ ra khỏi Miền Nam sáu tháng sau khi CSBV rút quân và không tiếp tục xâm nhập Miền Nam. Tại thời điểm nầy, nếu CS đồng ý rút quân, VNCH sẽ phải một mình đương đầu với các lực-lượng CS tại Miền Nam. Phía CS vẫn còn đang tranh-luận về chiến-lược của họ tại Miền Nam với sự hiện diện của quân bộ chiến Mỹ. Do đó con đường duy nhất mà cả hai phía có thể làm được trong tình thế như vậy là tăng thêm quân trên chiến-trường. Ðề-nghị của Tổng-thống Johnson dĩ nhiên không được CS đáp ứng.

Tiếp nối các cuộc hành-quân Lùng và Diệt của năm 1966, tháng 1.1967, Mỹ mở cuộc hành-quân Cedar Falls để càn quét vùng Tam Giác Sắt với sự tham-dự của hai sư-đoàn BB, một lữ-đoàn Dù, một lữ-đoàn kỵ-binh thiết-giáp và một sư-đoàn của QLVNCH. Một tháng sau, hành-quân Junction City đã được tổ-chức với 22 tiểu-đoàn BB Mỹ và 4 tiểu-đoàn của QLVNCH, tổng-số khoảng 25 ngàn quân với mục-đích càn quét chiến-khu C tại phía bắc tỉnh Tây-Ninh và biên-giới Việt Miên.

Các cuộc hành-quân nầy đã mang lại nhiều tranh-luận về hiệu-quả cũng như về tính cách chiến-lược. Về hiệu-quả thì thường chỉ một thời-gian ngắn sau khi cuộc hành-quân chấm dứt, quân CS đã len lỏi trở lại các vùng đã tảo-thanh. Chiến-lược hao mòn (Strategy of Attrition) bị chỉ-trích vì làm hao tổn sinh mạng binh-sĩ  với một mục-đích không rõ ràng, chiếm một ngọn đồi hay một cánh rừng không có tính cách chiến-lược và sau đó lại bỏ đi. Cần nên biết thêm rằng một trong những sĩ-quan đã hoạch-định chiến-lược cho quân-đội Mỹ tại VN là Chuẩn-tướng William DePuy. Mặc dù không xuất thân từ trường võ-bị West Point nhưng ông đã tốt nghiệp đại-học tiểu-bang South Dakota năm 1941. Sau đó ông đã chiến-đấu tại Âu-Châu và tham dự các hoạt-động của CIA. Trong thập niên 50, ông đã cùng làm việc với Tướng Westmoreland tại Bộ Tham-mưu Lục-quân Mỹ. Do đó khi Tướng Westmoreland cần một sĩ-quan Phòng 3 cho MACV tại Sài-Gòn, ông đã yêu cầu được sử-dụng Tướng DePuy, lúc đó đang thụ-huấn tại trường Cao-đẳng Quốc-phòng Anh.

Chiến-lược hao mòn có mục-đích tiêu hao địch quân cả về số-lượng cũng như về tinh-thần chiến-đấu. Chiến-lược nầy được áp-dụng dựa trên ưu-thế về sức mạnh kỹ-thuật của Mỹ đã đưa đến chiến-thắng quân-đội Ðức và Nhật trong chiến-tranh thế-giới lần thứ hai. Hạn hẹp trong chiến tranh VN, Tướng Westmoreland cho rằng giao điểm của hai đường biểu diễn cho quân số xâm nhập vào Nam và quân số CSBV bị thương vong chính là thời điểm chiến-thắng. Tuy nhiên tổng-kết quân-số địch cho thấy là trong ba năm 65-67, CSBV đã thiệt mất khoảng 344000 người nhưng quân-số của họ vẫn tiếp tục gia tăng từ 180700 người trong năm 1964 lên đến 261500 người trong năm 1967 (32). Ðiều nầy có nghĩa là chẳng những CS đã thay thế được số thiệt hại mà lại còn gia tăng thêm quân-số. Rõ ràng hai đường biểu-diễn về quân-số CS của Tướng Westmoreland chắc chắn sẽ không bao giờ có một giao điểm.

Khi bàn luận về những con số tổn-thất nói trên của CS, học-giả J.E. Muller cho rằng Mỹ không lường trước được sự liều-lĩnh và phung-phí nhân mạng mà CS sẽ chấp nhận để đổi với chiến-thắng (33). So sánh với 47.244 quân-nhân Mỹ bị thiệt mạng thì CS có khoảng từ 600.000 đến một triệu quân bị thiệt mạng. Theo ông thì nếu chỉ dùng con số 600.000 thì CS cũng đã mất khoảng 3% dân-số của họ. Trong khi đó thì Nhật-Bản chỉ mất khoảng 1.4% dân-số trong Thế-chiến II. Triều-Tiên chỉ mất khoảng 1% dân-số trong chiến-tranh Cao-Ly. Với tỷ-lệ nầy thì nước Mỹ phải mất khoảng 6 đến 7 triệu binh-sĩ.

Tiến-sĩ H. Kissinger đã chỉ-trích chiến-lược hao mòn khi viết (34): “Chiến-lược quân-sự của Mỹ đã đi theo quan-niệm cổ-điển cho rằng chiến-thắng dựa vào sự kiểm-soát được lãnh-thổ và thiệt-hại của đối-phương … Lý-thuyết nầy cho rằng sự chiến bại của chủ lực quân sẽ khiến du kích quân phải trốn tránh. Chiến thắng do đó tùy thuộc vào sự tổn hại của địch lớn hơn nhiều của ta cho đến khi Hà-Nội cảm thấy không chịu đựng nổi”. Tướng D.R. Palmer có lẽ cũng đồng ý khi viết (16): “Hao mòn không phải là một chiến-lược. Không ai có thể chối cãi được rằng đây là bằng chứng của sự thiếu thốn một chiến-lược. Cấp chỉ-huy một khi sử-dụng chiến-lược hao mòn nầy đã chấp nhận sự thất-bại vì đã không tìm ra được một phương cách nào khác. Ông ta đã từ-chối chiến-tranh như một nghệ-thuật và đã chấp nhận tính cách không chuyên-môn của mình. Ông ta đã dùng máu thay vì bộ óc. Bằng cách biện-luận cho rằng chính-trị đã bắt buộc phải sử-dụng chiến-tranh hao mòn không làm thay đổi được sự thật là chiến-lược của Mỹ đã sụp đổ tại Việt-Nam”.

Khi được hỏi ý-kiến về hiệu-quả của các cuộc hành-quân Lùng và Diệt, 51% các sĩ-quan cấp tướng của Mỹ đã từng tham dự chiến-tranh VN cho biết họ không đồng ý và chỉ có khoảng 7% cho rằng các cuộc hành-quân nầy đạt được hiệu-quả cao (35).

Ðể hỗ-trợ cho các cuộc hành-quân tại Miền Nam, các cuộc oanh-tạc Miền Bắc cũng đã được gia tăng. Ngày 24.1.1967, Tổng-thống Johnson cho phép phi-cơ Mỹ đánh phá 16 mục-tiêu chung quanh Hà-Nội mà trước đây đã bị giới-hạn. Ðến ngày 27.2, hải-quân Mỹ được lệnh dùng thủy-lôi để phong tỏa các hải lộ dưới vĩ-tuyến 20.

Trên mặt trận bình-định và phát-triển nông-thôn, sự bổ-nhiệm R. Komer vào chức vụ phụ-tá chương-trình bình-định cho Tướng Westmoreland vào giữa năm 1967 khiến kế-hoạch được đẩy mạnh đúng mức. R. Komer là người  đã thiết-lập ra cơ-quan Yểm-trợ Cách-mạng Phát-triển và Dân sự vụ được gọi tắt dưới tên CORDS. Cơ-quan nầy đã giúp trang-bị súng M-16 cho các lực-lượng địa phương quân và nghĩa quân; tổ-chức kế-hoạch Phượng-Hoàng để loại trừ các thành-phần CS nằm vùng; đặt ra hệ-thống thẩm-định xã-ấp (HES) để phân loại xã ấp từ hạng A (hoàn toàn an-ninh) đến V (do VC kiểm-soát) dựa trên 18 tiêu-chuẩn đã chọn sẵn. Với các hoạt-động nầy, W. Rostow, cố-vấn Tổng thống Mỹ cho rằng Komer là một trong những người Mỹ đã đóng góp quan-trọng nhất trong các nỗ-lực của Mỹ tại VN (36).

Ngày 4.9, liên-danh Thiệu Kỳ đắc cử tổng-thống, chấm dứt những xáo trộn về chính-trị đã kéo dài trong nhiều năm qua. Giai-đoạn nầy đã được Tướng Westmoreland ghi lại như sau (26): “Ðến năm 1967, QLVNCH đã tiến triển khả-quan khiến tôi nghĩ đến chiến-lược rút quân Mỹ. Với quân số gia tăng gấp đôi trong vòng ba năm, mặc dù có những thiếu thốn về cấp chỉ-huy đồng thời phải chia xẻ trách-nhiệm chiến-đấu, QLVNCH đã có thể bảo-vệ sự toàn vẹn lãnh-thổ trong khi đất nước đang gặp phải khó khăn về chính-trị trước sức mạnh của kẻ thù càng ngày càng gia tăng. ít có tổ-chức nào trên thế-giới có thể thực hiện được tốt đẹp như vậy”.

Trước những tiến-triển khả-quan của VNCH và đồng-minh, CSBV quyết-định phát động tổng phản-công để hy-vọng rằng Mỹ vì thiệt-hại phải xuống thang chiến-tranh. Chiến-thuật được sử-dụng ở đây là phân tán địch quân tại mục-tiêu để sau đó đánh thọc sâu vào tâm điểm. Các trận đánh dọc theo biên-giới có mục-đích lôi cuốn quân Mỹ di-chuyển ra xa khu-vực thành-thị, đông dân-cư.

Ngày 8.5, quân CSBV bắt đầu tấn-công căn-cứ Cồn-Tiên gần khu phi quân-sự. Tháng 9.1965, trong một cuộc hành-quân nằm trong chiến-dịch mang tên Coronado V tại khu-vực Bàn-Long và Cấm-Sơn thuộc tỉnh Ðịnh-Tường, lữ-đoàn 2 thuộc sư-đoàn 9 BB Mỹ đã đụng độ với tiểu-đoàn 514 VC. Trận rạch Ba Rài là một trong những trận đánh lớn nhất trên sông rạch của vùng đồng-bằng sông Cửu-Long. Ngày 27.10, Sông Bé, tỉnh-lỵ của tỉnh Phước-Long bị trung-đoàn 88 CSBV tấn-công. Hai ngày sau, trung-đoàn 273 VC tấn-công Lộc-Ninh. Tại cao-nguyên, hai cuộc hành-quân Francis Marion và Greeley khai diễn từ trước đã được tổ-hợp lại thành hành-quân Mac Arthur để tảo thanh khu-vực Kontum, Pleiku và Phú-Bổn. Cuộc hành-quân nầy đã đưa đến trận Daktô tại vùng rừng núi của tỉnh Kontum trong tháng 11. Sư-đoàn 4 BB Mỹ, lữ-đoàn 173 Dù và các tiểu-đoàn Dù VNCH đã đẩy lui các trung-đoàn 32, 66 và 174 CSBV về phía bên kia biên-giới.

Ðầu năm 1968, tin-tức tình-báo cho biết có khoảng hai sư-đoàn CSBV có mặt quanh căn-cứ Khe-Sanh. Ðến ngày 21.1.1968, trận Khe-Sanh bắt đầu với cuộc pháo-kích của quân CSBV và chiến trận kéo dài đến tháng 4 mới chấm dứt. Tám ngày sau khi trận Khe-Sanh bắt đầu, CS mở cuộc Tổng Công-Kích – Tổng Khởi-Nghĩa (TCK-TKN) Tết Mậu-Thân. Ngày 30.1.1968, một số tỉnh thuộc các quân-khu 1 và 2 bị CS tấn-công, một ngày trước các tỉnh khác trên toàn quốc. Tất cả 84 ngàn quân CS đã được sử-dụng để tấn-công 36 trong số 44 tỉnh-lỵ, 5 trong số 6 thành-phố lớn, 64 trong tổng-số 242 quận lỵ cùng với 50 xã ấp (25). Về mặt quân-sự, CS đã rước lấy một thất bại to tát. Một học-giả CS, qua thống-kê của Bộ Tư-lệnh quân-đội CSBV đã xác-nhận, chỉ tính riêng hai đợt TCK hai và ba thì con số thương vong của CS đã lên đến 111.306 người (37). Quan trọng hơn nữa là toàn bộ hệ-thống VC nằm vùng đã bị lộ diện và bị tiêu-diệt. Tuy nhiên như Tướng Trần-Ðộ đã phát-biểu (4): “Thành thực mà nói, chúng tôi đã không hoàn thành được công-tác là tạo được sự đồng-khởi trên khắp Miền Nam. Tuy nhiên chúng tôi đã gây tổn thất nặng nề cho Mỹ Ngụy, và đó là một thắng-lợi. Việc tạo chấn-động tại nước Mỹ nằm ngoài dự tính của chúng tôi, tuy nhiên điều nầy đã là một kết-quả may mắn”. Hệ-thống thông-tin của Mỹ đã biến một thất-bại chiến-thuật của CS thành một thất-bại chiến-lược cho Mỹ và VNCH. Chỉ mấy ngày sau khi cuộc TCK bắt đầu, mặt trận Khe-Sanh bùng nổ trở lại với việc quân CS  tấn chiếm trại LLÐB Làng Vây, nằm cách căn-cứ Khe-Sanh khoảng mười cây-số. Lần đầu tiên quân-đội CS sử-dụng nhiều chiến-xa tại chiến-trường Miền Nam.

Trước những thất lợi về chính-trị ngay tại nước Mỹ, mức độ tín-nhiệm của dân chúng xuống thấp và sau cùng là khuyến cáo của những nhân-vật có uy tín được gọi là những nhà thông-thái (Wise Men) trong phiên họp kéo dài trong hai ngày 26-27.3.1968, Tổng-thống Johnson quyết-định không ra tái ứng-cử nhiệm kỳ thứ nhì. Ông đã viết trong hồi-ký của ông rằng (38): “Lo ngại lớn nhất của tôi không phải là vấn-đề Việt-Nam … mà chính là sự chia rẽ và bi-quan tại Mỹ … Tôi dùng bài diễn-văn sắp đến như một cơ-hội để lấy lại sự cân-bằng cũng như mở rộng một sự hiểu biết tốt đẹp hơn. Tôi biết rõ ràng rằng sự sụp đổ của mặt trận tại đất nhà là những gì mà Hà-Nội mong chờ”.

Trong chủ-trương vừa đánh vừa đàm, CSBV đã gửi phái-đoàn do Xuân-Thủy cầm đầu sang Ba-Lê gặp Harriman, trưởng phái-đoàn Mỹ ngày 10.5. Kết-quả đã được ký-giả Karnow mô tả (4): “Các cuộc thảo-luận rồi sẽ kéo dài thêm năm năm nữa. Số người Mỹ bị chết còn nhiều hơn trong thời-gian trước. Nước Mỹ bị tan nát bởi những biến động ngay trong nước tệ nhất của thế kỷ nầy”.

Nằm trong kế-hoạch TCK đợt hai, các đơn-vị thuộc hai trung-đoàn 48 và 52 CSBV đã vượt khu phi quân-sự và đụng-độ với các đơn-vị TQLC Mỹ tại phía đông tỉnh Quảng-Trị. Với chiến-thuật cấp sư-đoàn, quân-đội CSBV đã đánh những trận đánh đẫm máu được gọi chung là trận Ðại-Ðộ, kéo dài từ 30.4 đến cuối tháng 5.1968. Các trận đánh nầy đã được mô tả là một trong những trận chiến khốc-liệt nhất của chiến-tranh VN (39). Cùng lúc đó, quân CSBV cũng đã tấn-công trại LLÐB Khâm-Ðức tại biên-giới Việt Lào. Do xa đường tiếp-liệu và ngoài tầm yểm-trợ của pháo-binh, trại được lệnh rút bỏ. So sánh với cuộc rút lui khỏi căn-cứ Nà-Sản bằng đường hàng-không của quân-đội Pháp vào tháng 8.1953 thì cuộc lui quân tại Khâm-Ðức đã xảy ra trong hỗn-loạn. Tuy nhiên báo chí do bận rộn với cuộc TCK tại Sài-Gòn và hòa hội Ba-Lê đang diễn ra nên không chú ý gì đến thất-bại nầy.

Ðến tháng 11, R.M. Nixon thắng cử Tổng-thống, đánh bại ứng-cử-viên nguyên phó Tổng-thống H. Humphrey của đảng Dân-Chủ. Sự-kiện nầy khiến một cán-bộ VC tiên-đoán (6): “Không ai thắc mắc rằng Nixon sẽ chứng tỏ là một đối thủ ngoan cố, gồng tất cả các bắp thịt để hoàn thành giải-pháp chiến-tranh. Từ vị Tổng-thống mới nầy chúng tôi có thể đón chờ sự gia tăng của bạo-lực cũng như chiến-lược mới để đạt được mục-tiêu cũ”.

Bàn về hậu-quả của cuộc TCK năm 1968, Tổng-thống Nixon đã viết (40): “Các cuộc tranh-luận về việc chúng ta có nên bành-trướng sự can-thiệp vào chiến-tranh Việt-Nam đã chấm dứt với cuộc tổng tấn-công Tết và việc đình chỉ oanh-tạc ngày 1.11. Các sự-kiện nầy đã khiến không còn giải-pháp nào để chúng ta có thể can-thiệp nhiều hơn nữa. Do đó bất cứ với mục-đích gì cũng như bất cứ cơ may nào khiến chúng ta có thể thắng, vấn-đề cho vị Tổng-thống tân cử ở đây sẽ không là nên rút quân hay không mà là rút lui như thế nào và nên để lại những gì ở phía sau”. Trong đường hướng như vậy, hai nỗ-lực bình-định nông-thôn và Việt-Nam hóa chiến-tranh (VNHCT) được đẩy mạnh.

Tình-trạng ổn-định của Miền Nam lúc bấy giờ đã được Sir Robert Thompson mô tả như sau (25): “Năm 1969 đã thay đổi hoàn toàn khi đường xá, cầu cống và kinh đào được trùng-tu và mở rộng. Những con số tự nó đã nói lên thành-quả. Sản-lượng gạo gia tăng từ  5 triệu 515 ngàn tấn năm 1969 lên đến 6 triệu 324 ngàn tấn trong năm 1971 và diện-tích đất canh-tác tăng từ 1 triệu 780 ngàn mẫu năm 1969 đến 2 triệu mẫu vào đầu năm 1972. Sản-lượng cao-su đã ít nhiều gia tăng, 27 ngàn 650 tấn năm 1969 lên 37 ngàn 500 tấn trong năm 1971ể. Trong một phúc-trình lên Tổng-thống Nixon vào tháng chạp năm 1969, ông cũng đã viết (25): “Tôi rất thán-phục sự cải-tiến tình-trạng quân-sự và chính-trị tại Việt-Nam so với các lần thăm viếng trước, và đặc-biệt là tình-trạng an-ninh, tại Sài-Gòn cũng như tại nông-thôn. Sự thắng-lợi trong định-nghĩa để đạt được hòa-bình bằng cách thương-thuyết hay không cũng như bảo tồn một miền Nam Việt-Nam độc-lập, không Cộng-Sản đã đạt được, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa đi suốt hoàn toàn”.

Với tình hình an-ninh chung được cải-thiện, QLVNCH và đồng-minh  liên tiếp mở các cuộc hành-quân bình-định cũng như tảo-thanh vào tận các mật-khu xa xôi hẻo lánh, thường được xem là nơi bất khả xâm-phạm trước đây. Tháng 3.1969, Lực-Lượng Ðặc-Biệt VNCH mở cuộc hành-quân lớn để tảo-thanh Cô Tô, một ngọn núi trong dãy Thất-Sơn thuộc tỉnh Châu-Ðốc. Hai tháng sau, ba tiểu-đoàn của sư-đoàn 101 Dù Mỹ trong một cuộc hành-quân trực-thăng-vận tại thung-lũng A-Shau đã đụng-độ với trung-đoàn 29 CSBV tại núi Ấp Bia. Thiệt-hại nặng-nề về nhân mạng khiến quốc-hội và dân-chúng Mỹ phản-đối chính-phủ. Do lệnh của Tổng-thống Nixon, chiến-dịch Lùng và Diệt được chấm dứt. Phía CS do bị thiệt hại nặng cũng thay đổi chiến-thuật để có thể kéo dài chiến-tranh.

Ngày 8.6.1969, tại hội-nghị thượng-đỉnh Midway giữa hai Tổng-thống Nixon và Nguyễn-Văn-Thiệu, chính-phủ Mỹ tuyên-bố rút 25000 quân khỏi VN. Ðến ngày 16.9 rút thêm 35000 quân và ngày 15.12, 50000 quân. Các đợt rút quân nầy không theo một kế-hoạch rõ rệt nào mà chỉ tùy thuộc vào dư-luận quần-chúng Mỹ, các hoạt-động của CS và mức độ tiến triển của kế-hoạch VNHCT.

Kế-hoạch VNHCT có mục-đích chuẩn-bị cho QLVNCH đảm đang trách-nhiệm chiến-đấu sau khi quân-đội Mỹ rút lui. Việc hiện-đại hóa QLVNCH được bắt đầu từ năm 1968 với việc gia tăng quân-số và kiện toàn cơ-cấu tổ-chức. Ðặc biệt các lực-lượng địa-phương-quân, nghĩa-quân và cảnh-sát cũng được chú ý đến để có thể gia tăng hiệu-năng bảo-vệ an-ninh lãnh-thổ. Tình-trạng an-ninh khá ổn-định trong nội-địa VN khiến Mỹ và VNCH quyết-định tổ-chức hành-quân vượt biên để phá hủy các căn-cứ hậu-cần của CS tại Kampuchia đồng thời yểm-trợ gián-tiếp cho kế-hoạch VNHCT. Ngày 18.3.1970, Lon Nol lật đổ Sihanouk. Sau đó ông đã ngăn cản không cho quân CS sử-dụng hải-cảng Sihanoukville làm điểm tiếp-liệu đồng thời dùng quân-đội càn quét dọc theo biên-giới Việt Miên. Tuy nhiên quân-đội Kampuchia không đủ khả-năng để đương đầu với quân-đội CSBV. Trước nguy cơ sụp đổ của chính-phủ Lon Nol, Tổng-thống Mỹ đã chấp-thuận kế-hoạch hành-quân sang đất chùa tháp. Ngày 29.4, QLVNCH tấn-công sang Mỏ Vẹt. Ngày 1.5, quân-đội Mỹ đột kích vùng Lưỡi Câu. Những thắng lợi của VNCH và Mỹ khiến một chuyên-viên về du-kích-chiến, Sir Robert Thompson tiên-đoán (25): “Cuộc hành-quân nầy đã làm trì hoãn ít nhất là một năm, có thể đến 18 tháng hoặc hai năm, trước khi miền Bắc VN có thể tiếp tục lại các cuộc điều quân tại những vùng dưới vĩ-tuyến 12”. Tuy nhiên cuộc hành-quân vượt biên nầy đã làm sống lại các cuộc biểu tình chống đối chiến-tranh tại Mỹ mà cao điểm là việc vệ-binh quốc-gia bắn thiệt mạng bốn sinh-viên Mỹ tại đại-học Kent, tiểu-bang Ohio.

Cũng nằm trong kế-hoạch yểm-trợ cho việc rút quân Mỹ, một cuộc hành-quân mang tên Lam-Sơn 719 đã được tổ-chức. Cuộc hành-quân có mục-đích càn quét các căn-cứ tiếp-liệu của CS tại Hạ Lào, kéo dài từ 8.2 đến 9.4.1971, với sự tham dự của 16000 quân VNCH. Do nhiều nguyên-nhân, cuộc hành-quân bị thất-bại. Các đơn-vị thiện-chiến của QLVNCH bị thiệt-hại nặng-nề. Cuộc hành-quân nầy đã được một tướng lãnh Mỹ nhận-định như gửi một đứa bé đi thi-hành công-tác của một người đã trưởng-thành tại một vùng nguy-hiểm. Ông viết (41): “Chỉ có MacArthur hoặc Patton mới có thể thi-hành táo-bạo như vậy, một Eisenhower hay Bradley sẽ không bao giờ nghĩ đến điều nầy”.

Sau khi yểm-trợ cuộc hành-quân Lam-Sơn 719, sư-đoàn 1 KBKV rời khu-vực trách-nhiệm phía tây để di-chuyển xuống vùng duyên-hải tỉnh Thừa-Thiên. Sau đó tham-dự cuộc hành-quân Jefferson Glenn đã khai-diễn từ tháng 9.1970. Cuối tháng 7.1971, cuộc hành-quân được đổi tên thành Opord 13-70 và chấm-dứt ngày 8.10.1971. Ðây là cuộc hành-quân qui-mô sau cùng của quân-đội Mỹ trước khi rút quân khỏi VN

Trong tiến trình rút quân năm 1971, quân-đội Mỹ tại VN phải đối-phó với nhiều khó khăn, phức-tạp. Tại tuyến đầu, sự bất tuân lệnh, từ-chối chiến-đấu, sát hại các sĩ-quan và hạ sĩ-quan áp đặt kỷ-luật càng ngày càng gia tăng. Tại hậu cứ, tình-trạng sử-dụng cần-sa, nha phiến, phân-biệt chủng-tộc, gây tội ác lan tràn. Trong bối cảnh như vậy, sư-đoàn 23 BB Mỹ (Americal), sư-đoàn đã hơn một lần mang tiếng vì cuộc thảm sát tại Mỹ-Lai, lại một lần nữa phải rút quân trong sự xấu hổ vì thảm bại tại căn-cứ hỏa-lực Mary Ann, phía tây nam quận Tam-Kỳ, tỉnh Quảng-Tín. Do tắc trách của các sĩ-quan có trách-nhiệm và lơ là của các binh-sĩ phòng-thủ, đặc-công CS đã đột nhập căn-cứ, phá hủy hai đại-bác 155 ly, sát hại và làm bị thương gần phân nửa quân-số trú-phòng, thiệt-hại nhân mạng cao nhất của Mỹ trước khi rút quân.

Trong khi đó thì Bộ Chính-trị CSBV xét lại đường lối chỉ-đạo chiến-tranh tại Miền Nam VN. Họ nhận-xét rằng với cường-độ rút quân của Mỹ, chắc chắn vấn-đề VN chẳng bao lâu nữa sẽ không còn là đề-tài chính tại Mỹ. Từ đó các biến-chuyển tình hình tại VN sẽ khó trở thành yếu-tố quan-trọng để ảnh-hưởng lên các cuộc bầu cử Tổng-thống Mỹ. Hậu-quả của trận Hạ Lào cũng đã khiến các cấp lãnh-đạo quân-sự của CS tin rằng họ có thể đánh bại được QLVNCH. Bên cạnh đó, cuộc hành-quân vượt biên sang Kampuchia năm 1970 của VNCH và Mỹ đã cắt đứt đường tiếp-liệu của CS từ hải-cảng Sihanoukville. Hành-quân Market Time của hải-quân Mỹ dọc theo duyên-hải VN cũng đã chận đứng được sự xâm nhập bằng đường biển. Thêm vào đó các cuộc biểu tình chống chiến-tranh tại Mỹ sau cuộc hành-quân Kampuchia khiến các nhà lãnh-đạo CS cho rằng một thất-bại lớn của VNCH sẽ gây ảnh-hưởng nhiều đến cuộc bầu cử Tổng-thống Mỹ vào năm 1972. Bài học lịch-sử mà họ dự phần vẫn còn đó. Chiến-thắng Ðiện-Biên-Phủ đã lật đổ nội-các của Thủ-tướng Pháp Laniel năm 1954. TCK Tết Mậu Thân đã khiến Tổng-thống Mỹ Johnson không thể ra tái ứng cử năm 1968. Trên bình diện quốc-tế, Nga tiên đoán các khó khăn trước mặt trong cuộc thương-thảo với Mỹ về giới-hạn vũ-khí chiến-lược (SALT), tài giảm binh bị tại Âu-Châu, nhập cảng ngũ-cốc của Mỹ, … nên họ đã gia tăng quân viện cho CSBV để làm áp-lực với Mỹ với hy-vọng có thể thương-thuyết trong một tư-thế mạnh.

Những lý-do kể trên khiến CSBV quyết-định tổng tấn-công năm 1972. Tuy nhiên chiến-dịch không thể tiến hành quá sớm vì sẽ không ảnh-hưởng nhiều đến cuộc bầu-cử Tổng-thống Mỹ trong tháng 9 cũng như không được quá muộn vì mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 sẽ gây khó khăn cho việc chuyển-vận tiếp-liệu đồng thời gây trở-ngại cho việc di-chuyển của cơ-giới. Cuộc tổng tấn-công do đó đã xảy ra vào mùa hè năm 1972. CSBV đã tung vào chiến dịch tất cả 17 trung đoàn BB, 3 trung đoàn pháo và 2 trung đoàn xe tăng (42). QLVNCH với yểm-trợ phi pháo của Mỹ đã đẩy lui được cuộc tổng tấn-công nầy đồng thời gây thiệt-hại nặng-nề cho phía CS. Có khoảng 100.000 quân CS đã bị thiệt mạng (16). Tổng-thống Nixon đã phản ứng mạnh bằng cách ra lệnh sử-dụng phi-cơ B-52 để oanh-tạc Miền Bắc đồng thời ra lệnh phong-tỏa cảng Hải-Phòng bằng thủy-lôi. Sau khi cuộc tổng tấn-công bị thất-bại, phía CS tỏ vẻ ôn-hòa hơn trong các cuộc đàm phán tại Ba-Lê từ tháng 8.1972.

 

III. VNCH đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm lược

 

Hy-vọng có thể tái cử trong cuộc bầu cử Tổng-thống Mỹ năm 1973, chính-phủ Nixon cố-gắng tìm mọi cách để chấm dứt chiến-tranh. Trong chiều hướng nầy, Mỹ đã áp-dụng chiến-lược năm điểm như sau (40):

. Việt-Nam Hóa Chiến-Tranh

. Bình-định lãnh-thổ

. Cô lập CSBV về mặt ngoại-giao

. Thương-thảo hòa-bình

. Rút quân-đội Mỹ ra khỏi miền Nam VN.

Kết-quả của chiến-lược trên là Hiệp-định Ba-Lê được ký kết ngày 27.1.1973.

Liên-hệ giữa hậu-quả của cuộc tổng tấn-công mùa hè năm 1972 của CS và hòa-đàm Ba-Lê đã được Sir Robert Thompson nhận-xét như sau (43): “Tuy nhiên có hai lỗi lầm nữa. Ðể chứng tỏ thiện ý, Tổng-thống Mỹ đã ra lệnh ngừng oanh-tạc Miền Bắc mà nay với loại bom laser mới rất chính-xác và thật tác hại. Hà-Nội đã cho đây là một nhược điểm chứ không phải là thiện ý. Ðiểm thứ nhì, là khi các cuộc nói chuyện được tiếp nối lại thì các cuộc phản-công của Miền Nam VN đã bị đình chỉ. Họ đã lấy lại được Quảng-Trị chỉ với ba sư-đoàn chống lại sáu sư-đoàn của CSBV. Phải nhìn nhận rằng lúc đó ba sư-đoàn nầy là các sư-đoàn giỏi nhất của cả thế-giới phương Tây. Họ có đầy đủ quân-số và không thiếu người đầu quân trong khi các sư-đoàn quân CSBV đã rất yếu mà các tân binh lại là trẻ con mới 16 tuổi. Tinh-thần họ xuống thấp đến nỗi trong một cuộc tấn-công của TQLC, xa đoàn của một chiến-xa T54 đã bỏ cả xe với máy còn nổ để trốn chạy. Trong trường-hợp như vậy, những mũi tấn-công đã có thể thực-hiện cả bên trong lẫn bên ngoài lãnh-thổ của miền Nam VN và đặc-biệt tại phía đông bắc Kampuchia. Thực tế không có gì ngăn chận được QLVNCH tiến đến Kratie, mũi cực nam của đường mòn Hồ-Chí-Minh dọc theo sông Cửu-Long. Henry (Kissinger) khẳng-định sau đó với tôi rằng không có một áp-lực nào lên VNCH. Ðiều nầy có thể đúng nhưng chắc chắn rằng đã không có một sự khuyến-khích nào để lấy lại các vùng đất đã mất. Hai lỗi lầm nầy đã làm giảm áp lực trong các cuộc đàm phán với Hà-Nội, cho họ có một khoảng trống để thở. Hậu-quả là khi các cuộc đàm phán tiếp tục lại sau khi Nixon được tái cử, đã trở thành một cuộc đố chữ không hơn, không kém. Tất cả chỉ để hòa hợp hai văn bản Việt và Anh-ngữ. Những sửa đổi trong bản Anh-ngữ không được đưa vào bản Việt-ngữ. Tôi tin rằng đây chỉ là một phần của việc làm có tính cách đùa bỡn mặc dù tất cả trên thực tế không phải là một trò chơi, chúng được sử-dụng với mục-đích làm cho phía Mỹ chán nản, không nhìn được cặn kẽ để cuối cùng đánh mất vấn-đề chủ yếu là giám sát. Henry đã bị Lê-Ðức-Thọ đánh bại hoàn toàn. Tiến-sĩ không đương cự nổi với chính-ủy”.

Sau chiến-tranh, khi nhắc đến hiệp-định Ba-Lê, Tổng-thống Nixon đã thú-nhận rằng (40): “Tôi thông-cảm và chia xẻ sự lo âu của ông Thiệu. Tôi biết thỏa-thuận nầy chứa đựng một số sơ hở quan-trọng. Tuy nhiên tôi tin tưởng rằng tựu trung nó tạm được. Và tôi cũng biết rằng, trong đường hướng gia tăng sự chống đối tại quốc-hội, chúng tôi không còn phương cách nào hơn là phải ký kết hiệp-định nầy”.

Ðô-đốc U.S.G. Sharp, nguyên Tư-lệnh Các Lực-Lượng Mỹ tại Thái-Bình-Dương (CINCPAC) đã trực-tiếp chỉ rõ (44): “Hiệp-định hòa-bình Ba-Lê ngày 27 tháng Giêng năm 1973 mà chúng ta đã chấp-thuận và bắt buộc Tổng-thống Thiệu phải đồng ý không phải là một công-thức hòa-bình. Kẻ xâm-lược vẫn ở lại Miền Nam VN và các điều-khoản thỏa-hiệp sẽ không được áp đặt nếu không có được sự đe-dọa thực tiễn bằng cách can-thiệp của Mỹ. Khi những biến cố tiếp theo sau đó khiến Miền Bắc VN không còn e ngại về việc Mỹ có thể can-thiệp được nữa, họ đã tự-do vi-phạm mà không bị chế tài”.

Ðiểm quan-trọng hơn cả là hiệp-định Ba-Lê xác-nhận chế-độ Việt-Nam Cộng-Hòa sẽ được thay thế trong tương-lai như một nhà phân-tích chính-trị đã viết (45): “Về phần Việt Nam Cộng Hòa: số phận chiến bại của Việt Nam Cộng Hòa được quyết định rõ ràng trong Hiệp Ðịnh do các điều thuộc chương IV mặc dù gởi gấm kín đáo trong danh từ ‘quyền tự quyết’ của nhân dân Miền Nam, nghĩa là Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị xóa bỏ, và Miền Nam sẽ có một chế độ khác, kết quả của cuộc bầu cử mà Hội Ðồng Hòa Giải ba thành phần sẽ ‘tổ chức’. Như vậy tức là Việt Nam Cộng Hòa không còn là chế độ thích hợp trong cái ‘kỷ nguyên hòa giải’ tương lai giữa Mỹ và Bắc Việt, vì ‘quyền tự quyết’, của nhân dân miền Bắc cũng ‘thiêng liêng’ lắm, nhưng có ai bắt buộc họ bầu cử, để xóa bỏ chế độ hiện hữu tại Hà Nội đâu? Sở dĩ phải làm như vậy tại Miền Nam là vì Huê Kỳ thừa nhận hiện nay có thêm một ‘chính quyền’ nữa tại Miền Nam, là Mặt Trận Giải Phóng, nên mới phải nêu cái ‘quyền tự quyết’ đó ra, để cho dân ‘lựa chọn’”.

Chiếu theo hiệp-định Ba-Lê, các lực-lượng của Mỹ và đồng-minh phải rút khỏi VN trong vòng 60 ngày. Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) do đó được thay thế bằng cơ-quan Tùy-viên Quốc-phòng (DAO). Cơ-quan nầy chính-thức hoạt-động ngày 28.1.1973 với nhiệm-vụ tiếp tục yểm-trợ QLVNCH và thu thập các tin tức tình-báo.

Trong lúc bản hiệp-định Ba-Lê vẫn chưa được phê-chuẩn, phía CS đã âm-mưu vi-phạm các điều-khoản sắp được họ ký kết. Ngày 10.10.1972, QLVNCH bắt được từ hầm bí mật của một chính-ủy VC tại tỉnh Quảng-Tín bản dự-thảo của hiệp-định Ba-Lê cùng kế-hoạch học tập chiến-dịch dành dân lấn đất của VC dự trù bắt đầu ngày 22.10. Trong khi đó thì Mỹ chỉ trao bản dự thảo của hiệp-định Ba-Lê cho Tổng-thống Thiệu vào ngày 18.10 (46).

Năm 1973 do đó có thể nói là năm CS bổ-xung lại lực-lượng sau khi Mỹ rút lui. Do kết-quả của hiệp-định Ba-Lê, chính-quyền CS đã phối-hợp cả ba mặt chính-trị, quân-sự và ngoại-giao để khai-thác các biến chuyển của tình thế.

Trên hai phương-diện chính-trị và ngoại-giao, CS đặt trọng-tâm vào nỗ-lực tuyên-truyền dựa trên ba đối-tượng chính là dư-luận trên thế-giới, QLVNCH và bộ đội CS. Họ cố-gắng xuyên tạc sự thật là Mỹ và VNCH đã vi-phạm hiệp-định Ba-Lê. Tuy nhiên âm-mưu nầy đã thất-bại khi họ tấn-công trại Tống-Lê-Chân vào tháng 3 và chiếm tỉnh Phước-Long vào cuối năm 1974. Họ cũng đã khuyến dụ binh-sĩ VNCH bỏ ngũ nhưng sự thật cho thấy đa số các đào binh không gia nhập hàng ngũ của CS. Thiệt hại nặng-nề từ cuộc tổng tấn-công mùa hè năm 1972 khiến các cán-binh CS mất tinh-thần. Hiệp-định ngừng bắn nhưng chiến-tranh vẫn tiếp diễn khiến họ thêm chán nản. Tướng Trần-Văn-Trà viết (47): “Năm 1973, cán bộ và chiến sĩ đều mệt mỏi, chúng tôi không có thời gian để đền bù cho những mất mát, tất cả các đơn vị đều bị xáo trộn, thiếu thốn nhân sự, thực phẩm và đạn dược”. Một cán-binh CS đã thố lộ (48): “Cuộc sống của các binh sĩ tại B3 sau hiệp định Pari là một chuỗi ngày dài, chịu đựng, tiếp nối bởi những tháng rút lui rồi phản kích, lại rút lui lại phản kích. Chiến thắng tiếp nối chiến thắng, rút lui theo sau rút lui. Cuộc chiến gần như vô tận, tuyệt vọng và không đưa đến đâu … Tháng chín  đó, quân ta tấn công vòng đai phòng thủ thị xã Kontum. Tiếng súng lớn đến nỗi từng mét vuông đất trời như muốn vỡ tung, Trung đoàn 3 lẩn khuất trong rừng quỷ hú, những người lính chờ đợi trong sự sợ hãi, hy vọng rằng họ sẽ không được lệnh yểm trợ để phải thí thân với một cái chết chắc chắn”.

Cũng nằm trên phương-diện chính-trị là chính-sách củng-cố các vùng đất mà CS đã chiếm được của VNCH trong năm 1972 như một phần tỉnh Quảng-Trị phía bắc sông Thạch-Hãn thuộc quân-khu 1; Phù-Mỹ của tỉnh Bình-Ðịnh thuộc quân-khu 2; Thiện-Ngôn, Xa-Mát trong tỉnh Tây-Ninh thuộc quân-khu 3 và vùng rừng U Minh thuộc quân-khu 4. Chính-sách củng-cố nầy bao gồm từ việc gửi khoảng 3000 cán-bộ từ Bắc vào để nắm giữ các chức vụ hành-chính tại các vùng đã chiếm được đến công-tác khủng-bố, ám sát các viên chức hành chính của VNCH.

Về mặt quân-sự, việc chấm dứt can-thiệp trực-tiếp của Mỹ tại chiến-trường VN khiến CS có thể đưa các đơn-vị phòng-không vào Nam. Tính đến cuối năm 1973, CS đã có đến 22 trung-đoàn pháo phòng-không tại Miền Nam VN. Trung-đoàn 263 Tên Lửa Phòng Không với các hỏa-tiễn địa-không SA-2 cũng đã có mặt tại Khe-Sanh (49). Hệ-thống ống dẫn dầu dài năm ngàn cây-số nối liền Quảng-Trị đi qua cao-nguyên vào đến Lộc-Ninh đã được hoàn thành (50). Một hệ-thống ống dẫn dầu thứ nhì được thiết đặt bắt đầu từ phía nam thành-phố Vinh vào đến thung-lũng A-Shau. Ngoài ra CS đã phát động chiến-dịch giành dân lấn đất bằng cách cắm cờ để sau đó yêu cầu Ủy-hội ICCS hợp thức hóa. Tuy nhiên do sự bất lực từ đầu của Ủy-hội nầy, việc cắm và hạ cờ chỉ đưa đến các cuộc xung-đột vũ-trang giữa hai bên mà trong đó 5 vị-trí chính được ghi nhận do sự tham dự của các lực-lượng CS cấp trung-đoàn: Cửa Việt, Sa-Huỳnh, Hồng-Ngự, Trung-Nghĩa và Tống-Lê-Chân. Ba vị-trí đầu đã được CS lựa chọn với mục-đích làm điểm tiếp-tế quân-trang, quân-dụng sau khi hiệp-định hòa-bình Ba-Lê có hiệu-lực (8 giờ sáng ngày 28.1.1973). Thị-trấn Hồng-Ngự nằm tại một vị-trí chiến-lược kiểm-soát sự thông thương giữa Kampuchia và Việt-Nam đã bị sư-đoàn 1 CSBV tấn-công. Tuy nhiên sư-đoàn 9 BB/QLVNCH đã chận đứng được cuộc tấn-công nầy. Căn-cứ Cửa Việt là cửa khẩu thuận tiện cho việc chuyển-vận từ Bắc vào Nam. Mặc dù đã chiếm lại được trước khi ngừng bắn, TQLC phải rút bỏ căn-cứ nầy dưới hỏa-lực mạnh và quân-số đông của CS. Cửa Sa-Huỳnh ở một vị-trí thuận-lợi để nhận hàng tiếp tế từ biển Nam Hải vào khu-vực gồm những rặng núi kéo dài từ miền cao-nguyên ra tận bờ biển do đó cũng đã bị CS tấn chiếm. QLVNCH đã chiếm lại được vị-trí nầy ngày 16.2.1973. Riêng tại Sa-Huỳnh, VC và CSBV trong Ủy-ban Liên-hợp Quân-sự bốn bên đã tố cáo VNCH vi-phạm hiệp-định Ba-Lê và đã yêu-cầu Ủy-ban Kiểm-soát và Giám-sát điều-tra. Kết-quả CS đã thất bại vì Ủy-ban xác-nhận Sa-Huỳnh thuộc phần đất của VNCH.

Chính-quyền CSBV biết rằng ngoài những khuyết điểm nội tại, kế-hoạch VNHCT phải cần một thời-gian khá lâu để hoàn chỉnh. Bên cạnh đó họ vẫn còn lo sợ sự can-thiệp trở lại của Mỹ. Ngoài ra, trong khi đi xin viện-trợ tại Trung-Cộng, Thủ-tướng Chu-Ân-Lai đã tuyên-bố với Phạm-Văn-Ðồng và Lê-Duẩn rằng tốt nhất hai miền VN nên sống chung hòa-bình trong năm hay mười năm nữa (4). Do những lý do vừa kể, CS không thể phát động những chiến-dịch đánh lớn trong năm 1973. Chỉ-thị 2/73 của Trung-ương-cục miền Nam thông-báo bắt đầu giai-đoạn đấu-tranh chính-trị mới, các hoạt-động quân-sự chỉ để yểm-trợ các nỗ-lực chính-trị.

Tháng 8.1973, quốc-hội Mỹ ra dự luật cấm sử-dụng ngân-khoản để yểm-trợ trực-tiếp hoặc gián-tiếp các hoạt-động quân-sự tại Ðông-Dương. Sang tháng 10, quốc-hội lại biểu-quyết dự luật về quyền-hạn chiến-tranh (War Powers Act) bắt buộc tổng-thống Mỹ phải hội ý với quốc-hội trước khi cho quân-đội tham chiến. Ðạo luật trước cho phép Hà-Nội được toàn quyền xâm chiếm Miền Nam trong khi đạo luật sau bảo-đảm với CS rằng Mỹ sẽ không trả đũa nếu hiệp-định Ba-Lê bị vi-phạm. Ðồng lúc đó, Trung-ương Ðảng CSVN họp hội-nghị lần thứ 21 để duyệt xét tình hình và chính-sách tại Miền Nam kể từ khi ký kết hiệp-định Ba-Lê. Hội-nghị nầy đã quyết-định chuyển từ đấu-tranh chính-trị trở lại phản công bằng quân-sự (50): “Cách mạng VN có thể phải kinh qua nhiều giai đoạn chuyển tiếp và chỉ có thể thắng lợi hoàn toàn bằng bạo lực cách mạng – Tiến hành đồng khởi với các lực-lượng vũ trang và chính trị, và trong trường hợp trở lại chiến tranh lớn, dùng chiến tranh cách mạng để đưa đến thắng lợi hoàn toàn”. Theo Tướng Văn-Tiến-Dũng thì Quân-ủy Trung-ương đã họp trong tháng 3.1974 để thảo-luận kế-hoạch thi-hành nghị-quyết của Trung-ương Ðảng (50).

Ðể chuẩn bị cho chiến-dịch phản công nầy, CSBV đã cho sửa-chữa lại 12 phi-trường của Mỹ tại các vùng mà họ đã chiếm được. Hơn 500 chiến-xa được đưa vào Nam. Tổng số đại-bác 122 ly và 130 ly đã tăng từ 100 đến hơn 350 khẩu. Ðồng thời từ tháng 10.1973, các trung-đoàn biệt lập cũng đã được kết hợp thành các sư-đoàn rồi quân-đoàn (49). Tổng-cục hậu cần và quân-đoàn 559 tích-cực đẩy mạnh công-tác chuyển-vận người và vũ-khí vào Nam. Ðoàn 470 phụ-trách vùng ba biên-giới, đoàn 471 vùng A-Shau và tỉnh Thừa-Thiên, đoàn 473 phụ-trách vùng phía bắc thung-lũng A-Shau đến tận Khe-Sanh, trong khi phía Nam Lào là địa-phận hoạt-động của đoàn 472. Sau cùng là đoàn 571 có trách-nhiệm chuyển-vận tại các tỉnh phía nam lãnh-thổ Bắc-Việt, bản Karai và đèo Mụ Giạ. Ngoài 5 đoàn nầy, quân-đoàn 559 còn chỉ-huy 4 trung-đoàn công-binh, 1 tiểu-đoàn quân-vận và một số trung-đoàn pháo phòng-không cùng các binh trạm. Một hệ-thống đường xâm nhập mới chạy song song với đường mòn Hồ-Chí-Minh được thiết-lập dưới tên là Trường-Sơn Ðông. Hệ-thống đường nầy dài khoảng một ngàn cây-số và kéo dài từ Quảng-Trị đến Tây-Ninh. Tất cả các căn-cứ của QLVNCH nằm trên tuyến đường nầy sẽ bị quân CSBV tấn-công và chiếm giữ hầu quân-dụng và hàng tiếp-liệu có thể đưa vào Nam một cách dễ-dàng và nhanh chóng. Giữa năm 1973, theo các tin tức tình-báo của cơ-quan DAO thì thời-gian di-chuyển từ Vinh vào đến Trung-ương-cục miền Nam chỉ mất khoảng 25 ngày. Một đoạn của quốc-lộ 14 thuộc tỉnh Quảng-Ðức nằm trong hệ-thống Trường-Sơn Ðông nên CS đã phát động chiến-dịch Quảng-Ðức kéo dài từ ngày 10 đến 30.10.1973. Quân-số tham-dự cấp sư-đoàn và mục-đích là để kiểm-soát được đoạn quốc-lộ nầy. Tuy nhiên QLVNCH với khả-năng di-động và hỏa-lực mạnh đã bẻ gãy âm mưu vừa nói.

Trong khi thù trong đang chuẩn-bị xâm chiếm nốt thành trì cuối cùng của tự do thì giặc ngoài cũng lăm le thực hiện tham vọng về đất đai. Ngày 19.1.1974, hải-chiến tại Hoàng-Sa xảy ra giữa hải-quân của Trung-Cộng và VNCH. Trước sự phối-hợp của hải, lục và không-quân địch, các chiến-hạm của hải-quân VNCH phải rút lui. Một phần lãnh-thổ của quê-hương rơi vào tay giặc ngoại-xâm, kẻ thù truyền kiếp của dân-tộc.

Nằm trong chiến-dịch cầm chân các lực-lượng của QLVNCH đang dàn trải mỏng để bảo-vệ diện địa. CSBV đã đưa quân vào vùng Ðồng Tháp Mười với âm mưu tấn-công tỉnh Ðịnh-Tường đồng thời cắt đứt quốc lộ huyết mạch số 4 để cô-lập vựa lúa gạo vùng châu thổ sông Cửu-Long. Một lần nữa, QLVNCH đã chứng tỏ khả-năng của mình với các cuộc hành-quân tại Trí-Pháp và vượt biên sang Svay Riêng. Các cuộc hành-quân nầy đã gây thiệt hại nặng cho sư-đoàn 5 CSBV đồng thời chứng tỏ được hiệu-năng của kế-hoạch VNHCT một khi QLVNCH được cung-cấp đầy đủ phương-tiện để chiến-đấu.

Trong khi đó thì Tổng-thống Thiệu với chủ trương bốn không: không nhường đất đai lãnh-thổ cho địch, không liên-hiệp, không thương thảo và không trung-lập đã khiến QLVNCH phải phân tán lực-lượng để bảo-vệ diện địa và vì vậy luôn luôn ở thế bị động. Tướng Cao-Văn-Viên nguyên Tổng TMT/QLVNCH đã viết (46): “Khi nhắc đến các căn-cứ xa xôi hẻo lánh, Tổng-thống Thiệu đã quyết-định cấm lui binh. Các căn-cứ nầy phải được bảo-vệ với bất cứ giá nào. Như hậu quả rồi sẽ cho thấy, chính-sách nầy hay về mặt chính-trị nhưng không hợp lý trên phương-diện quân-sự. Ðịch quân rất dễ-dàng tập-trung lực-lượng nhiều gấp năm hay sáu lần lực-lượng của chúng tôi và rồi với hỏa-lực yểm-trợ dồi dào họ đã đàn áp được các căn-cứ xa xôi nầy một cách tùy ý. Cố gắng giữ các cứ điểm xa xôi do đó chỉ làm gia tăng sự hy-sinh của binh-sĩ mà đúng ra được sử-dụng một cách hữu hiệu tại nơi khác. Tuy nhiên chính-phủ của chúng tôi vẫn hy-vọng rằng hiệp-định Ba-Lê sẽ được tôn-trọng đến một chừng mực nào đó. Sự phòng giữ các căn-cứ nầy mặc dù với giá đắt vẫn được xem như một bằng chứng về tầm kiểm-soát của quốc-gia. Ngoài ra, sự rút bỏ các căn-cứ nầy cũng đồng nghĩa với việc dâng cho địch một phần lãnh-thổ khá rộng”.

Ngày 3.4.1974, Ủy-ban Quốc-phòng thượng viện Mỹ đã từ-chối yêu-cầu gia tăng quân-viện cho VNCH. Cuối tháng 5, lưỡng-viện quốc-hội không chấp-thuận đề-nghị gia tăng quân-viện và sau đó đã biểu-quyết giữ nguyên ở mức 1 tỷ 126 triệu đô-la cho năm tài-chính 1974.

Một năm sau khi hiệp-định Ba-Lê được ký kết, Bộ-trưởng ngoại-giao CSBV đã xác nhận việc vi-phạm hiệp-định nầy của họ như sau (51): “Mệnh lệnh ngày 15 tháng 10 năm 1973 từ Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng là sự trả lời đanh thép của các lực lượng vũ trang nhân dân vũ trang giải phóng đồng bào ta ở miền Nam đối với các hành-động bạo-lực của địch. Ðể bảo-vệ vùng giải-phóng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ Hiệp-định, các lực-lượng vũ trang nhân dân giải phóng đã đánh trả địch một cách đích đáng và không chỉ ở những nơi chúng lấn chiếm mà còn ở cả những nơi khác”.

Những nơi khác ở đây nằm trong một kế-hoạch to lớn được CS gọi chung là đột kích chiến-lược. Chiến-lược của CS trong năm 1974 là tấn-công khắp mọi nơi, chiếm lấy các vị-trí có tính cách chủ yếu để chuẩn-bị cho cuộc tổng tấn-công khi thời cơ cho phép. Tuy nhiên mức độ quân-sự của các cuộc tấn-công nầy được cân nhắc kỹ-lưỡng hầu tránh việc Mỹ có lý do để can-thiệp trở lại. Hầu hết các cuộc đột kích chiến-lược đã xảy ra tại ba tỉnh Tây-Ninh, Bình-Long và Bình-Dương của quân-khu 3, vùng biên-giới của quân-khu 2 và vùng phía nam thành-phố Huế của quân-khu 1 (Xem sơ-đồ 1). Căn-cứ hỏa-lực Chí-Linh bị CS tràn ngập vào đầu tháng 4. Ngày 11.4, trại Tống-Lê-Chân tại ranh-giới hai tỉnh Tây-Ninh và Bình-Long bị CS chiếm đóng sau gần một năm bị bao vây. Chính-phủ VNCH đã chính thức phản kháng với Ủy-hội Kiểm-soát và Giám-sát Quốc-tế (ICCS) và Ủy-ban Liên-hiệp Quân-sự Bốn Bên. Chính-phủ cũng đã ra lệnh cho phái-đoàn VNCH bỏ hội-nghị đang họp tại Ba-Lê đồng thời bãi bỏ các đặc miễn dành cho đại-diện của CSBV và VC trong các Ủy-ban Liên-hiệp Quân-sự. VC đã phản ứng bằng cách rút phái-đoàn của họ ra khỏi Tân-Sơn-Nhất (52). Một số các căn-cứ trấn giữ mặt bắc của khu Tam Giác Sắt như Rạch Bắp, căn-cứ 82 và An-Ðiền cũng đã bị sư-đoàn 9 CSBV tấn-công. Ba sư-đoàn 5, 18 và 25 BB đã dùng xa luân chiến để chiếm lại các căn-cứ nầy khoảng cuối tháng 11. Ðể cắt đứt đường giao-thông giữa thủ-đô Sài-Gòn và quân-khu 2, hai làng Bảo-Bình và Rừng Lá nằm dọc theo quốc-lộ 1 là mục tiêu kế tiếp của quân CS. Tại biên-giới phía tây của tỉnh Tây-Ninh, ba cứ điểm Lược-Tân, Lưu Bửu Lâm và Bến Sỏi đã bị trung-đoàn 174 CSBV tấn-công. Lược-Tân bị CS chiếm ngày 20.8.

Tại quân-khu 2, chiến-lược của CS là cô lập hai thành-phố Kontum và Pleiku. Các cuộc đột kích do đó đã xảy ra quanh các tuyến đường giao thông với hai thành-phố nầy. Ðầu tháng 4, hai trung-đoàn thuộc sư-đoàn 320 CSBV tấn-công căn-cứ 711 tại phía đông nam Pleiku, tuy nhiên sư-đoàn 22 BB đã đẩy lui được cuộc tấn-công nầy. Ngày 16.5, trại Dakpek tại phía tây bắc tỉnh Kontum bị trung-đoàn 29 CSBV với chiến-xa yểm-trợ chiếm đóng. Khoảng 10 ngày sau, trại Tiêu Atar thuộc tỉnh Darlac bị hai trung-đoàn CS tràn ngập. Chiếm đóng được căn-cứ nầy, CS nối liền được đường tiếp-liệu từ hậu cần chính của họ tại Ðức-Cơ đến tận Bản Ðôn phía bắc thành-phố Ban-Mê-Thuột, sẳn sàng để sử-dụng cho chiến-dịch 275. Cuối tháng 8, trung-đoàn 66 thuộc sư-đoàn 10 CSBV tiêu-diệt được căn-cứ Mang Buk thuộc tỉnh Kontum chỉ do hai trung-đội địa-phương-quân trấn đóng. Trại Pleime với sự yểm-trợ hữu-hiệu của pháo-binh đã đẩy lui được cuộc tấn-công của nhiều trung-đoàn quân CSBV.

Tại quân-khu 1, các cuộc đột kích của CS chỉ xảy ra tại các tỉnh phía nam với lý do dễ hiểu. Sư-đoàn TQLC đang trấn đóng tại Quảng-Trị có đủ lực-lượng để có thể tấn-công trả đũa hậu-cần chính của CS tại Ðông-Hà. Ðầu tháng 5.74, hai sư-đoàn 1 và 2 CSBV đe dọa quận Tiên-Phước thuộc tỉnh Quảng-Tín, sư-đoàn 2 CSBV tạo áp lực lên các quận Thượng Ðức, Ðại-Lộc và Ðức-Dục với hy-vọng nối liền hậu cần tại thung-lũng A-Shau với miền đồng bằng của tỉnh Quảng-Nam. Giữa tháng 7, năm tiểu-đoàn thuộc sư-đoàn 2 CSBV đã đánh bại hai tiểu-đoàn của QLVNCH tại Nông-Sơn, quận Ðức-Dục. Ðầu tháng 8, hai trung-đoàn khác thuộc sư-đoàn 304 CSBV đã bao vây Thượng-Ðức và chiếm được quận lỵ nầy ngày 7.8. Tại phía bắc đèo Hải-Vân, CS cho thành-lập quân-đoàn 2 gồm các sư-đoàn 304, 324B và 325. Các đơn-vị nầy đã xiết chặt vòng vây phía nam Huế và Phú Bài. Tướng Trưởng, Tư-lệnh quân-đoàn I áp dụng hai nguyên-tắc lực-lượng kiệm-ước và di động giữ vững được tuyến phòng-thủ Huế. Tuy nhiên còn một nguyên-tắc thứ ba mà CS sẽ đem ra áp-dụng vào đầu năm 1975, đó là nguyên-tắc khối-lượng. QLVNCH với sự phối trí để bảo-vệ diện địa không thể nào chống lại được nguyên-tắc tối ưu nầy của Clausewitz.

Các cuộc đột-kích chiến-lược trong năm 1974 dĩ nhiên để chuẩn bị cho kế-hoạch đánh chiếm miền Nam trong hai năm 1975-76 của CSBV. Các căn-cứ, đồn bót của QLVNCH bị tấn chiếm và sau cùng việc thôn tính cả miền Nam bằng vũ-lực là bằng chứng rõ ràng của sự vi-phạm hiệp-định Ba-Lê. Thế nhưng ông Mai-Văn-Bộ, nguyên đại-sứ CSBV tại Pháp đã trắng trợn ghi lại (53): “Ta có kinh nghiệm về Hiệp nghị Giơ-Ne-Vơ 1954. Ta biết rằng Mỹ và ngụy sẽ không bao giờ thi hành đứng đắn Hiệp nghị Pa-ri. Hiệp nghị vừa ký xong, ngụy quyền Sài Gòn phát động chiến dịch ‘tràn ngập lãnh thổ’, ồ ạt lấn chiếm vùng giải phóng. Sự phản ứng tất nhiên của ta là một cuộc Tổng tấn công táo bạo và thần tốc, giải phóng Miền Nam trong 55 ngày đêm”.

Thành quả của những cuộc đột kích chiến-lược trên khiến chính-phủ CSBV quyết-định (50): “Từ trận Thượng Ðức này và các trận tiêu diệt quân chủ lực địch ở Chư Nghé, Ðắc Pét trên Tây Nguyên … Bộ Tổng tham mưu đi đến nhận định và báo cáo với Quân ủy Trung ương: khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực cơ động của ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch. Chiến tranh đã bước vào giai đoạn cuối, so sánh lực lượng đã thay đổi, ta mạnh lên, địch yếu đi. Do đó ta có thể và cần phải chuyển từ đánh nhằm tiêu diệt sinh lực địch là chính, sang đánh chẳng những tiêu diệt địch mà còn nhằm giải phóng nhân dân và giữ đất, từ chỗ quân chủ lực ta lấy tiêu diệt quân chủ lực địch trên chiến trường rừng núi là chủ yếu sang tiêu diệt địch và giải phóng nhân dân, giải phóng đất cả ở vùng giáp ranh, đồng bằng và thành phố. Muốn đánh tiêu diệt lớn và giữ vững các vùng mới giải phóng thì việc chỉ sử dụng các sư đoàn độc lập hoặc phối hợp không còn thích hợp nữa, mà cần có những binh đoàn cơ động binh chủng hợp thành lớn hơn, làm quả đấm mạnh, được sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất, hoạt động trên những hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu nhằm tiêu diệt lớn quân chủ lực địch”.

Trên phương-diện kinh-tế và xã-hội, sự rút lui của quân-đội Mỹ năm 1973 và cắt xén quân viện năm 1974 đã tạo ra nhiều khó khăn cho VNCH. Số người thất nghiệp gia tăng, tệ-đoan tham-nhũng có cơ bành trướng mạnh. Sự tham-nhũng trở thành hệ-thống, từ Tổng-thống, Thủ-tướng xuống đến các Tổng, Bộ-trưởng và các Tướng lãnh (52). Theo một phúc trình của Nguyễn-Văn-Ngàn, phụ-tá đặc trách các vấn-đề chính-trị và liên-lạc với quốc-hội của Tổng-thống Thiệu thì trong số 60 tướng lãnh và đại-tá của QLVNCH thì chỉ có khoảng một phần ba là không có liên hệ đến các hoạt-động bất hợp pháp (49). Cơ-quan Phát-triển Quốc-tế của Mỹ (USAID) đã phỏng định rằng năm 1974, một phần ba dân chúng tại các thành phố của VNCH bị thất nghiệp. Lợi tức tính theo đầu người đã giảm 36% năm 1971 xuống đến 48% trong năm 1974. Giá thực-phẩm cùng các nhu yếu phẩm khác đã tăng hơn 300%. Thêm vào đó, sự mất mùa thu-hoạch lúa gạo của vùng Ðông Nam á trong năm 1972 cùng với lệnh cấm vận vận dầu hỏa của các nước Trung-Ðông năm 1973 đã khiến nền kinh-tế lệ thuộc vào ngoại viện của VNCH càng thêm khủng khoảng. Nhận xét về giai-đoạn nầy, hai sĩ-quan cao cấp của QLVNCH đã viết (54): “Giữa thời buổi khó khăn như vậy, xã-hội Miền Nam, chưa bao giờ đoàn-kết trong cuộc tranh-đấu chống Cộng-Sản lại càng chìm sâu vào phân hóa và ích kỷ. Khó khăn nội bộ và hiểm họa sụp đổ càng gia tăng. Chính-phủ và cấp lãnh-đạo quốc-gia cũng như tinh-thần của dân chúng chưa bao giờ xuống thấp như vậy. Không thể nào động viên được quần chúng được nữa và sự sống còn của miền Nam Việt-Nam đã đi xuống một cách rõ ràng mỗi khi có một cuộc tấn-công của Cộng-Sản”.

Cuộc sống tiêu biểu của một quân nhân VNCH đã được Tổng-trưởng Kế-hoạch và Phát-triển Kinh-tế của Tổng-thống Thiệu mô tả (55): “Hưng được một người bạn là Chữ Xuân Viên kể tình trạng của một người bà con anh làm huấn luyện viên của trường Bộ Binh Thủ Ðức. Nhiệm vụ của anh ta là hàng ngày dẫn sinh viên sĩ quan ra bãi tập huấn luyện về tác chiến, nhưng mỗi ngày anh ta chỉ có một nắm xôi để ăn. Nắm xôi được chia ra làm ba phần cho ba bữa, chấm muối vừng và uống nước lạnh”. Một bản phúc trình của cơ-quan an-ninh quân-đội nghiên-cứu những ưu và khuyết điểm của QLVNCH đệ trình lên Tư-lệnh quân-đoàn III đã viết (56): “Từ khi ngưng bắn, các cuộc hành quân của ta kém chủ-động do sự suy sụp tinh-thần binh-sĩ, do không muốn chịu đựng nữa sự khó khăn hay quá tin-tưởng vào thỏa hiệp ngưng bắn. Một yếu tố nổi bật đang thành hình bên cạnh lòng nhiệt huyết chiến đấu của phần lớn binh-sĩ là sự tham nhũng của một số cấp chỉ-huy, trốn tránh trách-nhiệm, lẩn tránh khó khăn và liên-quan đến các hoạt-động trục lợi cá-nhân”.

Với những khó khăn chồng chất như vậy, người lính VNCH vẫn tiếp tục chiến-đấu. Trong hầu hết các cuộc đột-kích chiến-lược trong năm 1974, CS thường sử-dụng lực-lượng cấp trung và sư-đoàn để áp đảo các căn-cứ của QLVNCH thường chỉ được trấn giữ bởi tiểu-đoàn hay đôi khi chỉ là một đại-đội địa-phương-quân. Về yểm-trợ hỏa lực, CS đã tác-xạ hàng ngàn đạn đại-bác mỗi khi tấn-công không kể đến việc sử-dụng chiến-xa ngày càng nhiều. Trong khi đó, do giới-hạn về quân-viện, QLVNCH chỉ sử-dụng được khoảng một phần tư số-lượng đạn dược mà họ đã sử-dụng trước đây. Một phúc trình của Phòng 5 Bộ TTM do Cơ-quan Tùy-viên Quốc-phòng lưu giữ đã ghi lại (57): “Năm 1972, năm quân-đội CSBV tổng tấn-công vào dịp lễ Phục-Sinh, QLVNCH đã sử-dụng 66.500 tấn đạn mỗi tháng. Trong khi chiến-đấu dữ-dội từ tháng 7 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975, QLVNCH chỉ được sử-dụng trung-bình 18.267 tấn đạn mỗi tháng”. Tuy nhiên như đã biết, các cuộc đột-kích chiến-lược của CS lại thường bị thất-bại. Ðiều nầy đã nói lên một cách hùng hồn khả-năng tác-chiến của QLVNCH.

Một sĩ-quan cao cấp Mỹ đã cho rằng đầu năm 1974, CSBV vẫn chưa nhìn thấy được những nhược điểm của Miền Nam VN cũng như không tin-tưởng rằng họ có thể đánh bại được QLVNCH (58). CS chắc chắn biết được những khó khăn của VNCH vì Tướng Văn-Tiến-Dũng đã viết (50): “Nguyễn Văn Thiệu phải kêu gọi quân của hắn chuyển sang tác chiến ‘kiểu con nhà nghèo’: theo tài liệu của chúng thì chi viện hỏa lực giảm sút 60% vì thiếu bom, đạn; sức cơ động cũng giảm 50% vì thiếu máy bay, thiếu xe, thiếu cả nhiên liệu. Tình trạng đó buộc chúng phải chuyển từ hành quân lớn, tiến công nhảy sâu bằng máy bay lên thẳng, xe tăng sang phòng ngự chốt, lấn dũi, lùng sục nhỏ”. Bên cạnh đó, kết quả của các cuộc đột-kích chiến-lược năm 1974 của CS cũng đã cho Văn Tiến Dũng thấy rằng không thể nào đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng tại Miền Nam VN (50): “Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đã quyết định áp dụng kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976: năm 1975 chúng tôi sẽ đột kích bất ngờ với cường độ lớn, đồng khắp, tạo điều kiện tổng công kích và nổi dậy năm 1976. Trong năm 1976 chúng tôi sẽ tổng tấn công và nổi dậy để giải phóng hoàn toàn miền Nam”.

Nhận định về khả-năng can-thiệp của Mỹ, Tướng Văn-Tiến-Dũng viết (50): “Sau khi ký hiệp định Paris về Việt Nam, Mỹ rút được quân ra khỏi Việt Nam, Mỹ đã gặp nhiều khó khăn và bối rối hơn trước vì:

. Mâu thuẫn giữa chính quyền Mỹ và giữa các đảng phái ở Mỹ lại càng gay gắt hơn.

. Vụ án Watergate giày vò cả nước Mỹ, kéo theo sự từ chức của một tổng thống cực kỳ phản động Nixon.

. Kinh tế Mỹ suy thoái vì lạm phát tăng, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng, khủng hoảng nguyên liệu trầm trọng.

. Những đồng minh của Mỹ cũng kèn cựa với Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ cũng tìm cách quậy ra khỏi sự khống chế của Mỹ”.

Ngày 9.8.1974, Tổng-thống Nixon phải từ chức vì can dự vào vụ Watergate. Ngành hành-pháp Mỹ đã bị tê-liệt cùng với khả-năng giám-sát sự thi-hành đúng đắn hiệp-định Ba-Lê.

Với những biến chuyển tình hình một cách thuận lợi, CSBV quyết-định tấn-công tỉnh Phước-Long để xác nhận các ước đoán trên. Binh-đoàn 301 CSBV gồm hai sư-đoàn 3 và 7, một trung-đoàn xe tăng, một trung-đoàn pháo và một trung-đoàn pháo phòng-không đã chiếm được tỉnh-lỵ Phước-Bình ngày 6.1.1975. Chiến-thắng Phước-Long đã xác-nhận sự tê-liệt của chính-phủ Mỹ trong vấn-đề VN. Tướng Văn-Tiến-Dũng đã nhận xét (50): “Chiến dịch đường số 14 – Phước Long thắng lớn có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chiến thắng nầy đánh dấu một bước suy sụp mới của quân ngụy. Quân chủ lực của chúng không còn đủ sức hành quân giải tỏa quy mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các địa bàn rừng núi và giáp ranh. Chiến thắng này còn cho thấy rõ hơn về đế quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp của chúng vào Miền Nam Việt Nam. Ðiều quan trọng hơn cả là chiến dịch đường số 14 – Phước Long thắng to đã nói lên những khả năng mới rất lớn của quân và dân ta. Chiến thắng đó củng cố thêm quyết tâm chiến lược được xác định trong Hội nghị Bộ chính trị và bổ sung cho phương án giành thắng lợi lớn khi có thời cơ … Lúc đầu Mỹ hùng hổ cho tàu sân bay chạy bằng sức nguyên tử In-trơ-pai-dơ dẫn một lực lượng đặc biệt của hạm đội 7 từ Phi-líp-pin tiến về phía bờ biển Việt Nam, ra lệnh cho ba sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ ở Ô-ki-na-oa đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp. Bọn hiếu chiến ở lầu năm góc dọa ném bom trở lại miền Bắc. Nhưng rồi cuối cùng Bộ trưởng Quốc phòng Sle-xing-gơ buộc phải bỏ qua ‘sự kiện Phước Long’ và tuyên bố: ‘Ðây chưa phải là một cuộc tấn công ồ ạt của miền Bắc Việt Nam’. Hắn phớt lờ lời kêu gọi thảm thiết của Thiệu”.

Ngay sau khi Phước-Long mất, bộ Ngoại-giao Mỹ đã chính thức phản đối với Hà-Nội tuy nhiên Tổng-thống Ford không đề cập đến VN trong diễn văn đọc tại quốc-hội Mỹ ngày 15.1. Vài ngày sau, trong một cuộc họp báo, ông đã tuyên bố rằng Mỹ sẽ không can-thiệp trở lại tại VN (41). Trong phúc trình về VN lên Tổng-thống Ford, Sir Robert Thompson đã viết (43): “Sự gia tăng các hoạt-động của CSBV trong tháng Chạp và tháng Giêng cũng như sự thất thủ Phước-Long không phải là sự bắt đầu của một đoạn kết như một số người đã tiên đoán trừ phi quốc hội Mỹ quyết-định như vậy. Miền Bắc như tôi đã tiên-đoán từ đầu năm 1973, phải cần đến hai năm mới có thể phục-hồi khả-năng quân-sự của họ nhưng không có nghĩa là họ sẽ dùng đến ngay. Do đó vấn-đề vẫn tùy thuộc vào quốc-hội và nhân-dân Mỹ. Miền Nam VN đã đóng góp phần của mình với phong-độ phi thường trong lịch-sử và không ai có thể nghĩ là họ đã làm được. Họ sẵn sàng chiến-đấu với điều-kiện được yểm-trợ vừa đủ để khuyến khích họ đồng thời cũng để răn đe Hà-Nội, và đứng vững một cách thành-công để mối liên-hệ lâu đời của Mỹ có thể chấm dứt. Tuy nhiên nếu không có sự yểm-trợ, Miền Nam VN sẽ chiến-đấu trong sự nhục-nhã vĩnh-viễn của nước Mỹ. Ðây là sự chọn lựa. Không phải chỉ có tương-lai của Miền Nam VN đang bị nguy-hiểm”.

Quốc-hội Mỹ đã có một sự chọn lựa rõ ràng. Trong hai ngày 23 và 24.9.1974, lưỡng viện quốc-hội Mỹ chỉ biểu quyết chấp thuận tổng số tiền viện-trợ cho VN là 700 triệu đô-la cho tài khóa 75 mặc dù con số tối-thiểu đã được Cơ-quan Tùy-viên Quốc-phòng đề-nghị là 1 tỷ 126 triệu đô-la. Trong tổng-số 700 triệu chuẩn chi nầy còn phải bao gồm cả các phí-tổn để điều-hành cơ-quan DAO, do đó số còn lại không hơn 500 triệu đô-la, không được phân nửa con số tối thiểu cần thiết. Hậu-quả là QLVNCH chỉ có thể điều hành khoảng 55% các phương-tiện chuyển-vận. 126 phi-cơ bị phá hủy trong khi chiến-đấu sẽ không được thay thế cùng với 224 chiếc khác sẽ phải nằm ụ vì thiếu nhiên-liệu. Hải-quân phải cho giải-tán 21 trong số 44 giang-đoàn. Những giới hạn bắt buộc này khiến một Ðại-tá Mỹ thuộc cơ-quan DAO viết (59): “Ðây khó có thể là một hành-động thích nghi của một quân-đội sắp bắt đầu trận đánh sau cùng để sống còn”.

Dư-luận chính-giới Mỹ về vấn-đề VN đã được Tướng B. Palmer ghi nhận (41): “Trong những năm sau cùng của VNCH, gần như rất ít các nhà lãnh-đạo dân-sự cấp liên-bang chú ý đến số phận của Miền Nam VN. Ngay cả tại bộ Quốc-phòng, sự thất bại được xem như chắc chắn. Thái-độ của mọi người là chuyện đó không xảy ra trong phiên trực của tôi hoặc chúng ta đã làm hết sức và bây giờ thì chúng ta không còn có thể làm gì được nữa”; để sau cùng ông kết luận về số-phận của VNCH như sau (41): “Mặc dù vậy, theo phỏng đoán của cá-nhân tôi thì không có sự hiện diện của các cố vấn, cơ may để Miền Nam VN có thể sống còn chưa đến 50%”.

Ngày 8.1.1975, trong diễn-văn bế mạc phiên họp của Bộ Chính-trị, Lê-Duẩn tuyên-

bố kế-hoạch giải-phóng Miền Nam trong vòng hai năm. Các tin tức tình-báo trong tháng Giêng 1975 cho thấy các lực-lượng CS tại Miền Nam hiện có khoảng 200.000 cán binh với khoảng hơn 100.000 thuộc các đơn-vị hậu cần. Quân-số CS đã gia tăng khoảng 100% so với lúc ngừng bắn năm 1973. Các xe thiết-giáp mà phần lớn là chiến-xa của CS tại Miền Nam đã tăng từ 100 lên đến 700 chiếc, trong khi đó thì trọng-pháo đã tăng từ 100 lên đến khoảng 400. Các lực-lượng trừ bị chiến-lược của CSBV tại Miền Bắc từ hai sư-đoàn tăng lên đến bảy sư-đoàn. Với hệ-thống đường xâm nhập mới đồng thời không không có sự ngăn chận của không-quân Mỹ thì việc di-chuyển một sư-đoàn từ Bắc vào Nam chỉ cần một thời gian ngắn (59).

Cuộc tổng tấn-công của CSBV bắt đầu từ tháng 3.1975 tại lãnh thổ quân-khu 2. Các đơn-vị CS đã tấn-công KonTum, PleiKu cũng như ngăn cản quốc lộ 19 trong kế-hoạch nghi binh. Từ 2 giờ sáng ngày 10.3.1975, quân-đội CSBV trong chiến-dịch 275 đã tấn-công Ban-Mê-Thuột. Thành-phố thất thủ sau hai ngày cầm cự. Chính-phủ VNCH quyết-định rút bỏ miền cao-nguyên. Ðể bảo toàn lực-lượng, quân-đoàn II được lệnh lui binh theo liên tỉnh lộ 7B về Tuy-Hòa. Tuy nhiên cuộc lui binh nầy đã bị thất-bại. Trong khi đó thì tại quân-khu 1, áp-lực của CS ngày càng tăng. Lệnh và phản lệnh từ Sài-Gòn về việc phòng-thủ Huế, Ðà-Nẵng và Chu-Lai cùng với kế-hoạch tái phối trí hai sư-đoàn Dù và TQLC khiến hệ-thống phòng thủ của quân-khu bị rối loạn. Kết-quả là quân-đoàn I phải lui binh và cuộc di-tản nầy cũng đã chịu chung một số-phận như cuộc lui binh của quân-đoàn II. Quân-khu 1 được xem như hoàn toàn lọt vào tay CS kể từ ngày 30.3.  Tổng-thống Mỹ đã gửi Tướng F. Weyand, Tham-mưu-trưởng lục-quân Mỹ sang VN để thẩm-định tình hình và trao một thư riêng cho Tổng-thống Thiệu. Trong thư nầy, Tổng-thống Ford cho biết chính-phủ Mỹ sẽ yểm-trợ VNCH với tất cả khả-năng hiện có tuy nhiên nước Mỹ sẽ không trở lại chiến-đấu tại VN (60).

Tại miền duyên-hải của quân-khu 2, sư-đoàn 22 BB vẫn còn đang kháng-cự. Ðến ngày 30.3, hai trung-đoàn 41 và 42 được lệnh rút lui về Qui-Nhơn. Trung-đoàn 47 trên đường rút quân đã bị phục-kích tại quận Phù-Cát. Ngày 1.4.1975, Qui-Nhơn mất sau khi tàu hải-quân đã di tản hai trung-đoàn 41 và 42 BB. Ngày hôm sau, sư-đoàn 320 CSBV theo liên tỉnh lộ 7B chiếm được Tuy-Hòa. Ðồng lúc đó, mặt trận Khánh-Dương do lữ-đoàn 3 Dù trấn giữ cũng bị vỡ dưới áp-lực của sư-đoàn 10 CSBV. Ngày 4.4, quân-đoàn III tăng-cường lữ-đoàn 2 Dù cho mặt trận Phan-Rang, điểm kháng-cự sau cùng của quân-khu 2. Trận đánh tại đây đã kéo dài cho đến ngày 15.4 mới chấm dứt. Ngày hôm sau, tỉnh Ninh-Thuận mất. Ðến ngày 18.4 thì quân-khu 2 được xem như hoàn toàn lọt vào tay CS.

Tại quân-khu 3, ba sư-đoàn 3, 7 và 341 CSBV bắt đầu tấn-công Xuân-Lộc ngày 9.4. QLVNCH trong hành-động dũng cảm sau cùng đã gây thiệt hại nặng-nề cho quân CSBV tại mặt trận nầy. Ngày 15.4, sư-đoàn 18 BB rút khỏi Xuân-Lộc, dùng liên tỉnh lộ 2 để di-chuyển về Phước-Tuy. Ngày 21.4, Tổng-thống Thiệu tuyên-bố từ-chức trên vô-tuyến truyền-hình đồng thời tố cáo các hứa hẹn bí mật của Tổng-thống Nixon và kết án Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Phó Tổng-thống Trần-Văn-Hương lên thay thế. Sáu ngày sau, ông lại được thay thế bởi Tướng Dương-Văn-Minh trong cố gắng thương thuyết với CS một cách tuyệt vọng. Ngày 28.4, các phản-lực-cơ A-37 do Nguyễn-Thành-Trung hướng-dẫn oanh-tạc phi-trường Tân-Sơn-Nhất. Ngày hôm sau, pháo-binh CS pháo-kích vào phi-trường Tân-Sơn-Nhất, Bộ TTM và Bộ Tư-lệnh Hải-quân. Ðến 12 giờ trưa cùng ngày, chiến-dịch Frequent Wind để di-tản người Mỹ khỏi VN bắt đầu.

Ngày 30.4.1975, lữ-đoàn xe tăng 203 của quân-đội CSBV vào đến dinh Ðộc-lập. Sau đó Tổng-thống Dương-Văn-Minh tuyên-bố đầu hàng. Tướng Văn-Tiến-Dũng áp-dụng nguyên-tắc trọng-tâm của Clausewitz với 17 sư-đoàn đã đè bẹp được QLVNCH trong chiến-dịch Hồ-Chí-Minh (Xem sơ-đồ 2).

Sự thất-bại của VNCH năm 1975 chỉ là một hệ-quả tất nhiên tích tụ từ các yếu-tố giai-cấp lãnh-đạo, tâm-lý quần chúng và đồng-minh.

Một nhà sử học VN đã cho rằng có quá nhiều sự bất tài vô tướng, tham quyền cố vị trong tập đoàn lãnh-đạo đất nước từ Tổng-thống xuống đến hàng tướng lãnh (52). Ông Bùi-Diễm, nguyên đại-sứ VNCH tại Hoa-Thịnh-Ðốn đã viết (61): “Ðây là thảm kịch của quốc gia Việt Nam vừa mới được sáng lập, một cơ may nữa đã bị bỏ lỡ do thất bại ở cấp lãnh-đạo. Từ Bảo Ðại với những khuyết điểm cá nhân đã đánh mất cơ hội để tạo ra một sự đoàn kết quốc gia hầu chống lại Pháp, đến những sai lầm của Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu đã đẩy xa dịp may xây dựng một quốc gia dân chủ hầu có thể đối đầu một cách tương xứng với CS Việt-Nam. Hậu quả là Miền Nam VN đã lập ra truyền thống độc tài chỉ có một đặc tính cố hữu để theo là chống Cộng. Hai mươi năm lịch sử của đất nước đã cho thấy nếu đặt trên nguyên tắc của sự gắn bó xã hội, chỉ biết chống Cộng không thôi là một thiếu sót nghiêm trọng”.

Một nhà nghiên-cứu về VN khác đã nhận xét về tâm-lý quần chúng của những năm chiến-tranh sau cùng (62): “Sự sụp đổ của Miền Nam, dĩ nhiên, còn do sự thờ ơ của đám đông. Mặc dù cơ quan tuyên truyền của VNCH lúc nào cũng rêu rao về chính nghĩa diệt Cộng của 14, 15, 17 triệu dân chúng Miền Nam, từ năm 1973 – và trước đó nữa – chế độ Thiệu chỉ có thể kiểm soát được khoảng từ 20 đến 30% dân số. Phần còn lại, giống như loài lục bình, trôi nổi theo những đợt sóng càn quét, tảo thanh … Họ không ưa gì bọn Việt Cộng ‘láo khoét’ – và cũng chẳng có thiện cảm với ‘Cộng Hòa’, mà sự xuất hiện thường mang theo bom đạn, chết chóc, thương tật, tàn phá hoặc tù đày”. Tôn-Tử đã cho rằng 5 yếu tố để chiến-thắng theo thứ tự bao gồm (63): “Nhân hòa, thiên thời, địa lợi, lãnh đạo và học thuyết”. Yếu tố đầu tiên như vừa trình bày đã không có được tại Miền Nam VN. Ông Nguyễn-Bá-Cẩn, Thủ-tướng sau cùng của VNCH đã mô tả một cách chính xác tâm-trạng hờ hững của người dân Miền Nam như sau (64): “Một điểm quan trọng cần phải xét đến là có hai loại người tại Việt Nam. Loại nầy đã chiến đấu cho loại kia – Tôi muốn nói đến quân đội. Mọi người dân đã nghĩ rằng chỉ có quân đội mới có trách nhiệm lo đánh giặc. Người dân thì vẫn đứng ngoài cuộc chiến. Họ không liên quan gì đến việc chiến đấu. Ðiều nầy đã đi ngược lại với chiến tranh nhân dân. Ðúng ra với đường lối chiến tranh như vậy, chúng tôi phải nhận thấy rằng về lâu về dài chúng tôi sẽ thất bại”.

Về nước bạn đồng-minh, có lẽ không ai hơn Tướng Westmoreland để tự phê-bình (26): “Mặc dù đã nhiều năm yểm trợ cũng như hao tốn nhiều sinh mạng và tài chính, nước Mỹ sau cùng đã bỏ rơi Miền Nam VN. Không có cách nào thực tế hơn để mô tả hành động nầy. Chúng ta không những đã không phản ứng lại những vi phạm của CSBV qua thỏa ước quốc tế; mà còn không yểm trợ tương xứng với những giúp đỡ vật chất mà các nước CS lớn đã cung cấp cho Miền Bắc VN. Chúng ta không thay thế những quân dụng bị mất mát của Miền Nam VN mặc dù chúng ta được quyền làm như vậy chiếu theo những điều khoản của thỏa hiệp ngừng bắn; và rõ ràng hơn nữa là khi Miền Nam VN bắt đầu sụp đổ thì quốc hội lại cắt xén những giúp đỡ”.

Sau chiến-tranh, ông Bửu-Viên, nguyên Phụ-tá Bộ-trưởng Quốc-phòng VNCH đã viết (64): “Ðây không phải là nghi vấn về sự yêu cầu viện trợ của Mỹ để chống lại Cộng Sản Việt Nam mà là để chống lại nguồn viện trợ của Liên Bang Xô Viết và Trung Cộng cho Cộng Sản Bắc Việt để thôn tính Miền Nam. Như vậy nếu Bắc Việt được cung cấp thêm nhiều vũ khí và đạn dược từ đồng minh của họ thì Miền Nam VN cũng phải được cung cấp thêm nhiều vũ khí từ đồng minh của mình. Một trong hai điều kiện phải được thực thi: hoặc Miền Nam VN phải được viện trợ đầy đủ tương xứng với những giúp đỡ của khối Cộng Sản cho Bắc Việt hay phải có những dàn xếp quốc tế để Liên Bang Xô Viết và Trung Cộng phải ngừng viện trợ cho Bắc Việt, để yên cho cả hai miền Nam và Bắc VN. Không một quốc gia nào thuộc thế giới tự do có thể chu toàn được một trong hai điều kiện nói trên ngoại trừ Hoa Kỳ. Do đó, khi Mỹ không còn muốn liên hệ đến VN hay khi Mỹ cảm thấy không thể đảm đang gánh nặng để thi đua trong việc viện trợ của Liên Bang Xô Viết và Trung Cộng, thì sự sụp đổ của Miền Nam là điều hiển nhiên. Không chỉ VNCH mà bất cứ một quốc gia nào của thế giới tự do cũng đều sẽ có cùng một số phận”.

Sự can-thiệp của Mỹ tại VN có hai lý-do nội tại và ngoại lai.

Lý-do nội tại bắt nguồn từ việc biện-luận cho kế-hoạch viện-trợ hai quốc-gia Hy-Lạp và Thổ-Nhĩ-Kỳ để chống lại ảnh-hưởng của CS. Ðây cũng là nền tảng cho chủ-thuyết ngăn chận (Containment Doctrine) còn được gọi là chủ-thuyết Truman vì phát xuất từ chính-sách đối ngoại của Tổng-thống Truman. Ngoại trưởng Mỹ D. Acheson đã ghi lại trong hồi ký của ông điểm căn-bản của chủ-thuyết ngăn chận đã được Tổng-thống Truman trình bày trong một bài thuyết trình trước các lãnh-tụ quốc-hội vào tháng 3.1947 (65): “Như tôi đã nói, trong 18 tháng qua, áp lực của Xô Viết tại vùng vịnh, nước Ba-Tư, phía bắc Hy-Lạp đã khiến vùng Ba-Nhĩ-Cán (Balkans) có thể lọt vào tay họ, đưa đến sự xâm nhập của CS Nga vào cả ba lục-địa. Giống như một quả táo hư trong một thùng chứa đầy táo, sự sụp đổ của Hy-Lạp sẽ ảnh-hưởng đến Ba-Tư và cả vùng phía Ðông. Tình-trạng nầy cũng sẽ ảnh-hưởng đến Phi Châu qua khu-vực Tiểu á và Ai-Cập, tại Âu Châu qua hai quốc-gia Ý và Pháp, nơi đang bị đe dọa bởi các đảng CS địa-phương khá mạnh”.

Yếu tố ngoại lai là quan-niệm của các cấp lãnh-đạo Mỹ, những người đã sống qua thập niên 30 với những biến-động lịch-sử trên thế-giới. Quan-niệm nầy đã làm hình thành học-thuyết Domino (Domino Theory) dựa trên ba điểm chủ yếu với liên-quan hỗ-tương:

. Có sự tương đồng giữa những biến chuyển trên thế giới và tình-trạng hiện tại ở Ðông Nam á. Nhật chiếm Mãn-Châu năm 1931 đưa đến việc lấn chiếm Trung-Hoa, tràn xuống Ðông-Dương và dẫn đến biến cố Trân-Châu-Cảng. Tương tự như vậy, Ý chiếm Ethopia năm 1935; Ðức chiếm Rhineland, áo và Tiệp đã đưa đến chiến-tranh tại Âu Châu. Việt-Nam do đó có thể là Mãn-Châu, Ethopia hay Tiệp-Khắc

. Chiến-tranh Triều-Tiên cho người Mỹ thấy rằng không thể sống hòa hoãn với CS. Ngoài ra Tổng-thống Truman còn quan-niệm rằng trợ giúp Pháp tại Ðông-Dương để nước Pháp đủ mạnh hầu cân bằng lực-lượng tại Âu Châu

. Ðiểm sau cùng là sự ổn-định trật tự trên thế-giới. Xâm-lược không bị trừng trị chỉ khuyến-khích thêm xâm-lược.

Tổng-thống D.D. Eisenhower là người đầu tiên đã đề xướng học thuyết Domino trong buổi họp báo ngày 7.4.1954 (66). Khi trả lời phóng viên báo Copley, ông cho rằng nếu để mất Ðông-Dương thì Miến-Ðiện, Thái-Lan, Nam-Dương sẽ tuần tự rơi vào tay của CS kéo theo các đảo quốc Nhật, Ðài-Loan, Phi-Luật-Tân và cả Úc cùng Tân-Tây-Lan sau đó.

Sự hình thành học-thuyết Domino và chủ-thuyết ngăn chận đã khiến Mỹ quyết-định chọn Việt-Nam làm thí điểm để ngăn chận làn sóng đỏ. Từ Tổng-thống Eisenhower với chủ trương (67): “Từ lâu lịch sử không tin rằng kẻ yếu và nhút nhát có được tự do”. Ðến những phát biểu nổi tiếng của Tổng-thống Kennedy trong diễn văn nhậm chức (68): “Hãy cho tất cả các quốc gia biết rằng, dẫu họ có muốn chúng ta mạnh hay yếu, chúng ta sẽ trả mọi giá, đảm đang mọi gánh nặng, đối đầu với mọi khó khăn, yểm trợ bất cứ bạn hữu nào để chống lại bất cứ kẻ thù nào hầu bảo-vệ sự sinh tồn và thành công của tự do”. Cũng như sự quả quyết của Tổng-thống Johnson (69): “Những khó khăn và nguy hiểm mà chúng ta thấy từ bên ngoài hiện đang tồn tại giữa chúng ta. Nếu đời sống của người Mỹ phải chấm dứt và tài sản của Mỹ phải tiêu tốn tại những quốc gia mà chúng ta gần như không  biết đến, đó là cái giá mà sự thay đổi cần đến sự nhúng tay và giúp đỡ lâu dài của chúng ta”. Lý tưởng đóng vai trò cảnh sát quốc tế để tạo lập một trật tự mà trong đó các quốc gia theo Mỹ sẽ phát triển sung túc qua mô hình thành-công tại các quốc-gia Âu-Châu đã được Mỹ du nhập vào VN. Tiếc thay mô hình nầy tỏ ra không thích hợp với các nước á-Châu chậm tiến và đang chập chững về thể chế chính-trị đồng thời đang bị đe dọa bởi chiến-tranh. Kẻ thù lại là người CS với mọi mưu mô, sẵn sàng đổi mạng người với chiến thắng như Thủ-tướng Phạm-Văn-Ðồng đã tuyên-bố với ký-giả H. Salisbury của tờ Nữu-Ước Thời-Báo (70): “Mặc dù nước Mỹ mạnh hơn chúng tôi nhiều về quân-sự, cuối cùng họ vẫn sẽ thua bởi vì nhiều người VN hơn là Mỹ sẵn sàng chết cho VN cũng như quyết tâm chiến-đấu cho đến khi đuổi được Mỹ”.

Phê-bình chính-sách của Mỹ trong giai-đoạn nầy, J. Kentleton đã viết (71): “Những phức tạp và áp lực bắt nguồn từ hoàn cảnh chính-trị nội tại của Mỹ khiến những phản ứng của chính-phủ không phải lúc nào cũng vững chắc hay đặt trên sự xét đoán chính xác cho một khu-vực đặc biệt nào đó của thế-giới. Sự thay đổi của những phản ứng nầy trên toàn cầu không phải chỉ do quan-niệm trả đũa tối-đa (Massive Retaliation) đã lỗi thời mà còn lệ thuộc vào sự chuyển mình của thế-giới. Cho đến năm 1960 thì hai đế-quốc Anh và Pháp đã giẫy chết, nhiều quốc-gia mới độc-lập tại Phi và á-Châu đã tạo ra lắm vấn-đề phức-tạp và nan giải. Một chính-sách ngoại-giao cho thế-giới thứ ba vừa chú ý đến các khác biệt cá thể đồng thời mang một tính cách quyết-định tổng-quát khó tìm được trong lúc nầy. Ðiểm cần thiết do đó phải là đường lối khôn ngoan và uyển chuyển đối với từng nước riêng biệt, tuy nhiên điểm nầy đã không có được từ các nhân-vật trẻ trung đang cầm quyền khác với chính-quyền Eisenhower già dặn. Tính cách năng-động và những phương-pháp của đại-học quản-trị kinh-doanh Harvard có thể dùng để giải-quyết các vấn-đề nội bộ nhưng lại thường không thích-hợp cho các vấn-đề của một xã-hội khác biệt – thí dụ như tình trạng của người Mèo tại Lào … Thập niên 60 do đó là một giai-đoạn hỗn-loạn trong chính-sách đối ngoại của Mỹ. Ðã có những cố-gắng đi tìm đường lối mới trong sự hiểu biết rằng không phải tất cả đang tốt đẹp tuy nhiên đã gặp phải khó khăn trong việc hình thành một phương thức khác”.

Hai mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, Tiến-sĩ H. Kissinger đã tóm tắt nguyên-nhân và hậu-quả của sự can-thiệp tại Việt-Nam như sau (72): “Nước Mỹ, với bất cứ giá nào, đã phải trả giá cho cuộc phiêu-lưu tại VN của mình, cái giá phải trả nầy không tỉ-lệ với những gì mà nước Mỹ thu được. Rõ ràng đây là một lỗi lầm vì đã đặt trọng-tâm quá nhiều vào một nguyên-nhân không được định-nghĩa rõ ràng. Nước Mỹ đã liên-quan từ đầu bởi vì trên lý-thuyết đã áp-dụng những điều tốt đẹp từ sự thành-công của chính-sách cho Âu-Châu vào một khu-vực có quá nhiều những dị biệt về chính-trị, xã-hội và những điều-kiện về kinh-tế khác biệt. Lý-tưởng của Wilson không áp-dụng được khi có sự dị đồng về văn-hóa, trong khi đó lý-thuyết về an-ninh tập thể không chấp nhận một sự san sẻ, toàn thể trật tự quốc-tế như một thớ vải sẽ rách toạc ngay khi một sợi chỉ bị kéo đứt … Quá lý-tưởng để đặt chính-sách của mình trên quyền-lợi quốc-gia, và đặt trọng-tâm quá nhiều trên những điều-kiện của một cuộc chiến-tranh tổng thể và quan-niệm chiến-lược của mình, nước Mỹ không thể xoay trở được trong khó khăn  về chiến-lược lạ lùng mà trong đó những mục-tiêu về chính-trị và quân-sự kết liền nhau. Với niềm tin vào giá trị chân thật của mình, nước Mỹ đã đánh giá một cách hết sức sai lầm những trở-ngại để dân-chủ hóa một xã-hội chịu ảnh-hưởng bởi lý-thuyết Khổng Mạnh; cũng như dân chúng của một nước đang tranh-đấu để đi tìm một thể chế chính-trị giữa sự tấn-công của những thế-lực từ bên ngoài … Sự gắn bó của xã-hội Mỹ có thể xem như một con cờ Domino đã bị ngã một cách trầm-trọng và đau đớn từ hậu-quả của chiến-tranh VN. Lý-tưởng của Mỹ đã khiến cả hai phía chính-quyền và đối-lập quan-niệm một cách sai lầm rằng xã-hội VN có thể được biến đổi một cách dễ dàng và nhanh chóng thành một thể chế dân-chủ theo lối Mỹ. Một khi hy-vọng lạc-quan nầy sụp đổ và VN cho thấy còn rất xa một nền dân-chủ thì sự chán nản là một điều không thể tránh được”.

Biến cố Tết Mậu Thân 68 cùng với phong-trào phản chiến khiến chính-phủ phải xét lại vai-trò siêu-cường của Mỹ trên thế-giới. Dân chúng Mỹ thuộc thế-hệ trẻ hơn đã đòi hỏi nước Mỹ phải quay trở lại để giải-quyết những vấn-đề nan giải của chính nước Mỹ. Tất cả những yếu tố nầy đã đưa đến quyết-định bỏ rơi Miền Nam VN như một sĩ-quan Mỹ đã nhận-định (56): “Một đồng-minh thiếu nhẫn-nại trong một cuộc chiến-tranh dài hạn, tại một quốc-gia xa xôi, theo ý-kiến cá-nhân tôi, là nguyên-nhân duy nhất đưa đến sự tàn lụn của VNCH. Cố gắng của chúng ta để cứu Miền Nam VN khỏi tay CS đã biến thành một sứ mạng mông lung kéo dài cho đến khi cử-tri Mỹ quá mệt mỏi, chán nản và bắt đầu đi tìm một lý do để quên đi. Lý do trong trường-hợp nầy là kết-luận rằng Miền Nam VN không đáng được cứu vớt”.

 

 

 

 

 Tài-Liệu Tham-Khảo

 

  1. The Seato Treaty, American Foreign Policy, 1950-1955, Vol.1, Department of State, Washington, 1950.
  2. Department of State, Press Release 492, 6 September 1954.
  3. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong Giai Ðoạn Hình Thành, 1946-1955, Quân Sử 4, Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu (Khối Quân Sử) thực hiện, 1972, Cơ Sở Ðại Nam tái bản.
  4. S. Karnow, Vietnam – A History, Penguin Books Ltd., Middlesex, 1984.
  5. M.B. Young, The Vietnam Wars, 1945-1990, Harper Perennial, New York, 1991.
  6. Truong Như Tảng, Journal of a Vietcong, Jonathan Cape Ltd., London, 1985.
  7. G. Kolko, Vietnam – Anatomy of War 1940-1975, Unwin Paperbacks, London, 1985.
  8. R. Shaplen, The Lost Revolution: Vietnam 1945-65, Andre Deutsch, London, 1966.
  9. J. Race, War Comes to Long An: Revolution Conflict in a Vietnamese Province, University of California, 1972.
  10. D. Chanoff & T V Doan, Portrait of the Enemy, Random House, New York, 1986.
  11. N.T. Võ, Chủ biên, Gởi người đang sống – Lịch Sử Ðồng Tháp Mười,Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
  12. B.B. Fall, The Two Vietnams: A Political and Military Analysis, 2nd Revised Edition, Frederick A Praeger, New York, 1967.
  13. C.V. Hoang, From Colonialism to Communism: A Case History of North Vietnam, Frederick A Praeger, New York, 1964.
  14. Hoàng Linh Ðỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Tác giả xuất bản, California, 1987.
  15. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, nxb Alpha, Virginia, 1991.
  16. D.R. Palmer,Summons of the Trumpet: U.S. -Vietnam in Perspective, Presidio Press, California, 1978.
  17. M. Gravel, Ed., The Pentagon Papers, Vol.II, Beacon Press, Boston, 1971.
  18. G. Gurney, Vietnam: The War in the Air, Sidgwick & Jackson, London, 1985.
  19. Thích Nhất Hạnh, Vietnam,SCM Press Ltd., London, 1967.
  20. N. Sheehan,A Bright Shining Lie, Jonathan Cape Ltd., London, 1989.
  21. D.S. Blaufarb, The Counterinsurgency Era: U.S. Doctrine and Performance, Free Press, New York, 1977.
  22. D. Duncan, The New Legions,Pocket Books, New York, 1967.
  23. M.T. Klare, War Without End: American Planning for the Next Vietnam,Alfred A Knopf, New York, 1972.
  24. P. Khánh, Tạp Chí Học Tập, Tháng 7.1963.
  25. R. Thompson, Peace is Not at Hand, Chatto & Windus, London, 1974.
  26. W.C. Westmoreland, A Soldier Reports,Da Capo Paperback, New York, 1989
  27. U.S. Department of Defence, United States – Vietnam Relations 1945-1967, Vol. IV.
  28. L.L. Pimlott, Rolling Thunder, War in Peace, pp.1032-035, Vol.5, Orbis Publishing Ltd., London, 1985.
  29. J.B. Nichols & C Tillman, On Yankee Station, Airlife Publishing Ltd., 1987.
  30. C. Jian, China and the Vietnam Wars, 1950-75, The Vietnam War, P. Lowe, Ed., MacMillan Press Ltd., London, 1998.
  31. Vũ Thư Hiên, Ðêm Giữa Ban Ngày,nxb Văn Nghệ, California, 1997.
  32. G. Lewy,America in Vietnam, Oxford University Press, 1978.
  33. J.E. Muller, The Search for the ‘Breaking Point’ in Vietnam: The Statistics of a Deadly Quarrel,International Studies Quaterly, Vol.4, No.4, December 1980.
  34. H. Kissinger, The Vietnam Negotiations,Foreign Affairs, No.47, 1969.
  35. D. Kinnard, The War Managers, Avery Publishing Group, Inc., New Jersey, 1985.
  36. W.W. Rostow,The Diffusion of Power: 1957-1972, MacMillan, New York, 1972.
  37. T.V. Nguyen,Coping with the United States: Hanoi’s Search for an Effective Strategy; The Vietnam War, P. Lowe, Ed., MacMillan Press Ltd., London, 1998.
  38. L.B. Johnson, The Vantage Point: Perspective of the Presidency 1963-1969, Popular Library, New York, 1971.
  39. R.H. Spector, After Tet – The Bloodiest Year in Vietnam,The Free Press, New York, 1993.
  40. R. Nixon, No More Vietnam, W.H. Allen, London, 1986.
  41. B. Palmer, Jr., The 25 Year War America’s Military Role in Vietnam, Da Capo Press, New York, 1984.
  42. G.H. Turley, The Easter Offensive, Presidio Press, California, 1978.
  43. R. Thompson, Make for the Hills,Leo Cooper Ltd., London, 1989.
  44. U.S.G. Sharp, Strategy for Defeat,Presidio Press, California, 1978.
  45. D. Nguyễn, Miền Nam sau Hội Nghị Genève 1954, Imprimerie Houdeville, Beauvais, France, Aout 1979.
  46. Cao Văn Viên, The Final Collapse,U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1983.
  47. Trần Văn Trà, Những Chặng Ðường Lịch Sử của B2 Thành Ðồng – Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Tập 5, nxb Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1989.
  48. N. Bao, The Sorrow of War, Martin Secker & Warburg Ltd., London, 1993.
  49. S. Lipsman & S Weiss, The Vietnam Experience: The False Peace 1972-74, Boston Publishing Co., Boston, MA, 1985.
  50. Văn Tiến Dũng, Ðại Thắng Mùa Xuân,nxb Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, 1977.
  51. T.D. Nguyễn, Mặt Trận Ngoại Giao Thời Kỳ Chống Mỹ Cứu Nước,nxb Sự Thật, Hà Nội, 1979.
  52. Nguyễn Khắc Ngữ, Những Ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng Hòa, Tủ sách Nghiên Cứu Sử Ðịa, Canada, 1979.
  53. Mai Văn Bộ,Hà Nội – Paris Hồi Ký Ngoại Giao, nxb Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
  54. H.D. Nguyen & T.D. Tran, The South Vietnamese Society,Indochina Monographs, U.S. Center of Military History, 1980.
  55. Nguyễn Tấn Hưng & J L Schecter,Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập, C & K Promotions, Inc.,

California, 1986.

  1. S.A. Herrington, Peace with Honor?, Presidio Press, California, 1983.
  2. JCS/J5, Vietnam Fact Book,28 February 1975, U.S. Embassy Saigon, Defence Attaché Office, Army Division, Final Report, Vol.III, 18 June 1975.
  3. P.B. Davidson, Vietnam at War,Sidgwick & Jackson Ltd. Pub., London, 1988.
  4. W.E. Le Gro, Vietnam from Cease-Fire to Capitulation,U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1985.
  5. A. Dawson, 55 Days: The Fall of Saigon, Prentice-Hall, New Jersey, 1977
  6. D.Bui & D. Chanoff, In the Jaws of History, Houghton Mifflin Company, Boston, 1987.
  7. Chính Ðạo, 55 Ngày và 55 Ðêm – Cuộc Sụp Ðổ của VNCH, Nhóm Nghiên Cứu Việt

 

 

Sử xuất bản.

  1. S. Tzu, The Art of War, Oxford University Press, 1971.
  2. S.T. Hosmer, K. Kellen & B.M. Jenkins, The Fall of South Vietnam – Statements by Vietnamese Military and Civilian Leaders;Crane, Russuck & Company, Inc., New York, 1980.
  3. D. Acheson, Present at the Creation: My Year in the State Department,W.W. Norton & Company, Inc., New York, 1969.
  4. America in Vietnam, W.A. Williams, T. McCormick, L. Gardner & W. LaFeber, Eds., W.W. Norton & Company, Inc., New York, 1985.
  5. Inaugural Address, 20.1.1953, Public Papers of the President of the United States: Dwight D Eisenhower, Vol.1953, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1960.
  6. Inaugural Address, 20.1.1961, Public Papers of the President of the United States: John F Kennedy, Vol.1961, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1962.
  7. Inaugural Address, 20.1.1965, Public Papers of the President of the United States: Lyndon B Johnson, Vol.1965, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C., 1966.
  8. H. Salisbury, Behind the Lines – Hanoi, Harper & Row, New York, 1967.
  9. J. Kentleton, The Kennedy Legacy – US Foreign policy of the early 1960s, War in Peace, pp.889-891, Vol.4, Orbis Publishing Ltd., London, 1985.
  10. H. Kissinger, Diplomacy, Simon & Schuster Ltd., London, 1995.

 

 

 

 

 

 

Trận Ấp Bắc

 

 

 

 

Từ năm 1959, trước những thành-công về bình-định lãnh-thổ của chính-phủ VNCH cũng như viễn ảnh hiệp-thương thống-nhất đất nước quá xa vời, CSBV bắt đầu tăng cường các hoạt-động du-kích. Tháng 5.1959, Ủy-ban Trung-ương Ðảng CSVN ra nghị-quyết phát động chiến-tranh. Ðoàn 559 được thành-lập với mục-đích đưa người và vũ-khí xâm nhập vào Nam qua ngả Lào. Hai tháng sau, đoàn 779 được tổ-chức với cùng một mục-đích nhưng dùng đường biển (1). Các hoạt-động khủng-bố của CS tại Miền Nam cũng gia tăng rõ rệt. Chỉ riêng trong năm 1959, có hơn 2500 vụ ám sát các viên chức của chính-phủ và cảnh-sát. Số lượng các cuộc khủng-bố nầy đã gia tăng gấp đôi so với năm 1958 (2). Ðể đối-phó, Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm ban hành luật số 10/59 đặt CS ra ngoài vòng pháp-luật. Tháng Chạp năm 1960, CSBV cho thành-lập Mặt-trận Dân-tộc Giải-phóng Miền Nam với mục-đích che giấu các hoạt-động chiến-tranh được chỉ-đạo từ miền Bắc.

Chiến-tranh du-kích càng ngày càng bành-trướng khiến chính-phủ Mỹ lo ngại. Cuối năm 1961, Phái-bộ Cố-vấn Viện-trợ Quân-sự Mỹ (MAAG) được thành-lập với 3200 nhân-viên. Ðến tháng Chạp năm 1962, MAAG tăng lên đến 11.300 người. Quân-số của QLVNCH cũng được gia tăng lên 220 ngàn người. Cùng với sự gia tăng quân-số là các yểm-trợ về chiến-cụ. Ðáng kể nhất trong kế-hoạch tối-tân hóa nầy là việc sử-dụng các phi-cơ trực-thăng H-21 do các phi-công Mỹ lái và chuyển giao các thiết-vận-xa M-113 cho QLVNCH để trắc-nghiệm.

Từ năm 1962, với khả-năng cơ-động được gia tăng, QLVNCH mở các cuộc hành-quân lớn vào tận các mật khu của CS mà trước đây được xem như bất khả xâm-phạm. Các cuộc đụng độ do đó cũng nhiều hơn cả về số-lượng cũng như về cường-độ. Trong đó trận Ấp Bắc xảy ra vào tháng Giêng năm 1963 được nói đến nhiều nhất.

Ấp Bắc thuộc xã Tân-Phú Trung, huyện Cai Lậy giáp giới huyện Châu-Thành tỉnh Kiến-Tường, cách Sài-Gòn khoảng 56 cây-số về phía tây nam, cách Mỹ-Tho khoảng 27 cây-số về phía tây bắc và cách quốc-lộ 4 khoảng 5 cây-số. Dân-số khoảng 600 người (xem sơ-đồ 1). Phía bắc Ấp Bắc là ấp Tân Thới chia cách nhau bởi rạch Ấp Bắc rộng khoảng bảy thước, chiều sâu khoảng một thước rưỡi. Rạch Ấp Bắc chảy vào rạch Bà Ký và kênh Tổng-đốc Lộc. Kênh nầy khi chảy về phía tây nam sẽ gặp giao lưu của nhiều kênh rạch khác như kênh Tư Mới, Kênh Nhất … cùng chảy vào rạch Ruộng để sau cùng nhập vào hệ-thống sông Cửu-Long. Ấp Bắc và ấp Tân-Thới liền nhau hình cánh cung với chiều dài độ 4 cây-số, bề ngang khoảng 400 thước. Phía tây là một cánh đồng rộng. Trong ấp là nhà dân xen kẽ với các vườn cây ăn trái và nhiều gò đống thuận-lợi cho việc phòng thủ của VC.

Năm 1896, Tổng-đốc Trần-Bá-Lộc cho đào kinh nối từ rạch Ruộng phía sông Tiền Giang đến kinh Ba Bèo (đào thời Tây-Sơn) với chiều dài khoảng 47 cây-số. Tháng 4 năm 1897,  Tỉnh-trưởng tỉnh Mỹ-Tho là Bocquillon đã làm lễ khánh thành. Ba tháng sau, nhân dịp kinh lý Nam Kỳ, Toàn quyền Ðông Dương cho đặt tên kênh là kênh Tổng-đốc Lộc. Sau đó Việt-Minh cho đổi tên kênh Tổng-đốc Lộc thành kênh Nguyễn-Văn-Tiếp để kỷ-niệm Chủ-tịch tỉnh Mỹ-Tho đã hy-sinh trong kháng-chiến chống Pháp.

Ngày 26.10.1956, Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm ký sắc lệnh đổi tên tỉnh Mộc-Hóa thành tỉnh Kiến-Tường gồm thị-xã Mộc-Hóa và bốn quận Châu-Thành, Tuyên-Bình, Kiên-Bình và Tuyên-Nhơn. Từ thị-trấn Cai Lậy trên quốc lộ 4, liên tỉnh-lộ 29 nối liền với Mộc-Hóa trên sông Vàm Cỏ Tây. Chạy dọc theo liên tỉnh lộ nầy là kênh 12. Có tất cả 12 xã nằm hai bên trục kênh và lộ nầy như Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Hạnh Ðông, Tân Phú, Tân Hợi, Tân Bình, Nhị Mỹ, Bình Phú, Phú Nhuận, Thạnh Phú và Mỹ Thanh. Kiểm-soát được vùng nầy sẽ cô-lập được Ðồng Tháp Mười ở phía bắc, bảo đảm cho sự lưu-thông của quốc lộ 4 giữa Sài-Gòn và miền Tây đồng thời tách rời được một khối dân-cư đông đúc ra khỏi ảnh-hưởng của CS. Tầm quan-trọng nầy đã đưa đến việc thành-lập Khu Chiến-thuật Tiền-Giang.

 

  1. Diễn-Tiến

 

Từ tháng Chạp năm 1962, các tin tức tình-báo cho biết có sự hiện-diện của một lực-lượng VC tại ấp Tân-Thới cách ấp Bắc khoảng 1500 thước. Một nguồn tin khác cũng phát-giác được vị-trí một đài phát-thanh của CS trong vùng (3). Ðại-tá Huỳnh Văn Cao, Tư-lệnh sư-đoàn 7 BB vừa mới được vinh thăng Thiếu-tướng ngày 5.12.1962. Nhân dịp thành-lập quân-đoàn IV ngày 1.1.1963, Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm đã bổ nhiệm Tướng Cao vào chức-vụ Tư-lệnh quân-đoàn nầy. Ngay trong những ngày đầu mới nhậm chức, ông lập kế-hoạch hành-quân với hy-vọng mang lại chiến-thắng để mừng sinh-nhật Tổng-thống Diệm vào ngày 3 tháng Giêng (4).

Ðêm 31.12.1962, hai đại-đội VC 1/514 địa-phương tỉnh Mỹ-Tho và 1/251 thuộc quân-khu 8 theo kế-hoạch di-chuyển xuống phía đông kênh Nguyễn-Tấn-Thành để yểm-trợ cho lực-lượng nằm vùng tấn-công ấp chiến-lược Giồng Dứa đồng thời phục-kích quân tăng-viện VNCH theo hướng kênh Năng. Tuy nhiên tiểu-đoàn Tây-Ðô đang trên đường hành-quân từ miền tây lên miền đông đang đóng tại kênh Năng nên đại-đội 1/261 phải trở lại đóng quân tại ấp Bắc. Ðại-đội 1/514 đóng tại ấp Tân-Thới. Trung-đội địa-phương

huyện Châu-Thành tỉnh Mỹ-Tho sau khi đánh quấy rối ấp chiến-lược Giồng Dứa cũng

 

kéo về đóng chung đội hình với đại-đội 1/261.

Các đơn-vị tham dự trận ấp Bắc được đặt dưới quyền chỉ-huy của Hai Hoàng* và gồm (5): Ðại-đội 1/261 do Bảy Ðen** chỉ-huy, Ðại-đội 1/514 do Mười Ðiệp chỉ-huy, Trung-đội huyện Châu-Thành, Khẩu-đội súng cối 60 ly.

Ðại-tá Bùi-Ðình-Ðạm, Tư-lệnh sư-đoàn 7 BB cho soạn thảo một kế-hoạch hành-quân để bao vây tiêu-diệt địch. Cuộc hành-quân mang tên Ðức-Thắng 1 sẽ bao gồm ba mũi tấn-công. Một tiểu-đoàn thuộc trung-đoàn 11, sư-đoàn 7 BB sẽ được trực-thăng-vận xuống phía bắc vùng hành-quân trong khi các đơn-vị Bảo-An sẽ tấn-công lên từ phía nam. Ðại-úy Lý-Tòng-Bá, chỉ-huy Ðại-đội 7 Cơ-giới sẽ đánh bọc ngang từ phía tây nam (xem sơ-đồ 2). Một cánh ngăn chận gồm các tàu hải-quân chuyên-chở hai đại-đội Biệt-Ðộng-Quân theo ngã kênh Ba tiến vào vùng hành-quân.

Sáng ngày 2.1.1963, theo đúng kế-hoạch hành-quân, hai đại-đội Bảo-An từ Ðiền Hy tiến vào ấp Cai-tổng Vàng, xã Tân-Phú, khai-diễn cuộc hành-quân. VC phục-kích sẵn nổ súng vào cánh quân nầy gây tử thương cho một đại-đội-trưởng và một đại-đội-phó Bảo-An khiến mũi tấn-công bị chận lại. Cánh hải-quân theo kênh Nguyễn-Tấn-Thành cũng đã bị trung-đội du-kích và phân-đội công-binh VC bắn quấy rối.

Trong khi đó 10 trực-thăng H-21 chuyên-chở một tiểu-đoàn thuộc trung-đoàn 11, sư-đoàn 7 BB đổ xuống phía tây ấp Bắc. Do không có phi pháo yểm-trợ, quân VC từ các công-sự được thiết-lập sẵn tác-xạ dữ-dội vào bãi đáp trực-thăng. Một trực-thăng chuyển quân bị bắn rơi ngay tại bãi đáp. Một chiếc khác bay ra khỏi trận địa nhưng rơi xuống cánh đồng Cà Dâm cách đó không xa. Một trực-thăng H-21 thứ ba tiếp tục đáp xuống định cứu phi-hành-đoàn đã bị trúng đạn và rơi trước mũi tiến quân của thiết kỵ cách đó khoảng 500 thước. Một trong năm trực-thăng vũ-trang UH-1A đáp xuống cạnh hai trực-thăng bị rơi cũng với mục-đích cứu phi-hành-đoàn đã bị bắn rơi lật ngược xuống ruộng. Hai phi-công được cứu thoát nhưng cơ-khí trưởng bị tử thương.

Thiết-quân-vận được lệnh tấn-công vào ấp Bắc đồng thời để cứu phi-hành-đoàn các phi-cơ bị lâm nạn đã bị đại-đội 1/161 VC tác-xạ mãnh-liệt. Tám xạ-thủ đại-liên .50 trên các thiết-vận-xa đã bị tử thương ngay trong đợt tấn-công đầu. Cả bốn hướng của cuộc hành-quân đã bị hỏa lực của VC chận đứng.

Trận đánh kéo dài đến chiều thì bộ Tổng Tham Mưu, theo yêu cầu của Tướng Huỳnh-

Văn-Cao cho tiểu-đoàn 8 Dù đến tăng viện. Bộ Chỉ-huy của tiểu-đoàn 8 Dù gồm: Tiểu-

đoàn-trưởng: Ðại-úy Trần-Văn-Hai, Tiểu-đoàn-phó: Ðại-úy Nguyễn-Ðình-Vinh, Trưởng Ban 3: Ðại-úy Nguyễn-Văn-Nghiêm, Ðại-đội-trưởng đại-đội 1: Trung-úy Phạm-Huy-Sảnh, ÐÐT/ÐÐ 2: Trung-úy Nguyễn-Văn-Nghị, ÐÐT/ÐÐ 3: Trung-úy Tăng-Thường-Lực, ÐÐT/ÐÐ 4: Trung-úy Hoa-Hải-Ðường, ÐÐT/ÐÐ Chỉ-huy và Công-vụ: Trung-úy Nguyễn-Nghiêm-Tôn.

Vì trời đã nhá nhem tối và số vận-tải-cơ có sẵn, tiểu-đoàn-phó cùng với hai đại-đội tác-chiến được các phi-cơ C-123 chở đến trận địa. Vì quá gấp rút, thủ-tục kiểm dù thông thường trước khi lên phi-cơ không thực hiện được. Trước quang cảnh vội-vã nầy, Ðại-tá cố-vấn-trưởng lữ-đoàn đến tận phi-trường đưa tiễn đoàn quân ra trận đã phải lắc đầu than thở: quá muộn!

Khoảng 6 giờ rưỡi chiều, cuộc thả quân bắt đầu tại phía tây ấp Bắc. Quân CS tác-xạ mãnh-liệt vào các cánh dù đang lơ lửng. Vì trời tối và dù rơi tản mác cũng như địa-thế ruộng ngập nước có nơi lên đến ngang ngực khó di-chuyển nên tiểu-đoàn chỉ tập-trung được một ít quân. Tuy nhiên tiểu-đoàn 8 cũng đã cố-gắng tấn-công ba lần nhưng cả ba lần đầu bị đánh bật trở lại vì không có phi pháo yểm-trợ. Vũ-khí cộng-đồng yểm-trợ duy nhất là đại-liên .30. Suốt đêm gần như chỉ có cá-nhân chiến-đấu.

Mười giờ khuya, VC ra lệnh rút lui về hướng Ðồng Tháp Mười. Ðại-đội 1/161 đi đầu theo sau là trung-đội vũ-khí, thương binh và xác chết, đoạn hậu là đại-đội 1/514.

Sáng ngày hôm sau, các đại-đội Dù tập-trung lại và tiến vào ấp Bắc. Tiểu-đoàn 8 có 19 binh-sĩ tử trận và 33 người khác bị thương kể cả một đại-úy và một trung-sĩ cố-vấn Mỹ (6).

 

 

  1. Hậu-Quả

 

Ðại-úy R Ziegler, sĩ-quan cố-vấn phòng hành-quân Bộ Tư-lệnh sư-đoàn 7 BB đã ghi nhận tổng kết thiệt hại về nhân mạng như sau (6): QLVNCH – chết : 63, bị thương: 109; Mỹ – chết: 3, bị thương: 6; VC – chết: 41, bị thương: ?, tù binh: 36.

Kết-quả theo ghi nhận của CS (7): “Toàn trận địa ta hy sinh 12, bị thương 13, loại số địch gấp 10 lần, có 11 cố vấn và giặc lái Mỹ (3 chết, 8 bị thương), nhưng điều quan trọng hơn là thắng ‘trực thăng vận’ và ‘thiết vận xa’, bắn trúng 16 trực thăng trong đó hạ 5 tại chỗ, bắn cháy 3 xe M.113″.

 

 

 

  1. Nhận-Xét

 

Cuối năm 1961, Tổng-thống Kennedy đã chấp thuận đề nghị gửi các phi-cơ trực-thăng H-21 sang chiến-trường VN. Năm 1962, QLVNCH lại có thêm thiết-vận-xa M-113. Hai loại chiến cụ nầy đã làm thay đổi rất nhiều bộ mặt của chiến trường. Những thiệt hại gây ra từ các cuộc hành-quân với trực-thăng-vận và thiết-vận-xa của QLVNCH đã được lịch-sử của CS xác-nhận như sau (7): “Ngày 5 tháng 5 năm 1962, lần đầu tiên ở ven Tháp Mười, 15 ‘chốt bay’ do Mỹ lái thực hiện cuộc đổ bộ ở khu vực Cà Dâm xã Mỹ Phước (huyện Châu Thành). Trận nầy nó chưa gây thiệt hại đáng kể, nhưng những người dân và chiến sĩ ở đây lấy làm ngạc nhiên về sự xuất hiện nhanh, bất ngờ của nó. Lần hồi, người ta thấy quả thật thứ nầy nguy hiểm. Nó thoắt đến rồi thoát đi sau cuộc bắn phá. Trại Lòn xã Tân Ninh, nơi đã vùi chôn nhiều xác lính ‘cọp đen’, lính sư đoàn 7, nhưng cũng chính tại trận địa nầy, ‘trực thăng vận’, ‘thiết vận xa’ gây thiệt hại nặng đại đội 3 tiểu đoàn 261 của ta. Ngày 18 tháng 8 năm 1962, ở Tân Hòa Ðông, ‘trực thăng vận’ và ‘thiết vận xa’ đánh trúng công trường và quân y tỉnh Mỹ Tho, phá nát căn cứ. 20 chiến sĩ mới hy sinh trong lúc đang chuẩn bị lên chiến trường miền Ðông. Trận ác chiến Hưng Thạnh tháng 9 năm 1962 để lại quang cảnh ‘dưới kênh máu đỏ; trên bờ thây phơi’. Ðại đội 2/514 Mỹ Tho giết được 40 tên giặc nhưng mất đi nhiều chiến sĩ, cộng cả số cơ quan là 52 người, trong đó có đồng chí Năm Kiên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy. Ở giữa biển cỏ Tháp Mười, một vài con ‘ngựa biển’ đủ sức bao vây một mục tiêu rồi. Mùa nước đi xuồng, đường năn, cỏ dạt ra đủ gây thành tai họa. Tháng 11, tháng chạp ta dở khô dở ướt, đi bốn năm cây số còn để lại dấu chân. Mùa đốt đồng dấu chân in trên tro cháy … Cánh quạt ‘chuối bay’ làm tung toé lau sậy, một tấm nylon, một bếp tro tàn lòi ra đủ kéo đến một cuộc đổ quân ì xèo. Có khi đó chỉ là cái bếp của người giăng câu, lấy củi, hay là chỗ dừng quân của giao liên, một vài chiến sĩ trên đường công tác. Lần hồi nó nghĩ ra cách đi soi đêm, nổ súng vào bất kỳ dấu hiệu khả nghi nào. Thậm chí nó dám hạ xuống hỏi giấy hoặc bất chợt hốt người đi đường. Cách ‘chém dè’ cũng năm ăn năm thua. Người ta nói ‘chỉ còn cách bắn nó thôi’. Nhưng nói vậy tức là nói ‘quyết tử’. Anh Tám Ðôi, du kích ở kinh 28 đã dùng súng trường bắn rơi chiếc T-28 ‘chày vồ’ nhưng nó là thứ ‘bay thẳng’, còn ‘lên thẳng’ bắn trật nó bu không biết chạy đi đâu. Trên  đồng cỏ, xe M.113 cũng hùng hổ không kém ‘nòng nọc’, ‘cán gáo’. Có khi một chiếc cũng dám quanh ngang rẽ dọc, vài chiếc cũng làm náo động một góc đồng. Dân đi tát đìa, đi nơm cá cũng nơm nớp. Trưa nắng trâu đi bụi cuốn, các chị làm đồng bị chói nắng, thấy bóng đen đen, một tiếng hô ‘Zép’ thế là đủ cho cả cánh đồng náo động. Lực lượng chiến tranh nhân dân chưa ngăn chận được đà lấn lướt của ‘trực thăng vận, thiết vận xa’, ba mũi giáp công cũng do đó mà lúng túng, trong lúc sự thiệt hại cứ tăng lên. Ở Mỹ Tho chưa hết mùa mưa 1962 đã có 143 du kích hy sinh, 33 bị thương, 240 chiến sĩ bị bắt, mất 72 súng. Có trận, ngót 27 đồng chí ‘cán bộ mùa thu’ hy sinh. Nhân dân cũng bị tổn thất nặng : 237 người chết, 2328 người bị bắt, 400 nhà bị đốt … Du kích ở hơn 30 xã phải ‘ly hương’, nhiều đơn vị buộc phải phân tán. Bộ đội liên tục di chuyển, có khi một đêm vượt ba bốn xã liền”.

Một phóng-viên theo chân các cuộc hành-quân thiết-vận-xa đã mô tả (8): “Ai đó đã khám-phá ra rằng thiết-vận-xa hữu ích trong việc chạy càn lên du-kích đang lẩn trốn. Sử-dụng 15 thiết-vận-xa M113 chạy theo phương hướng bất kỳ qua một đồng lúa ngập nước khoảng một trăm dặm vuông, cấp chỉ-huy có thể chắc chắn rằng không còn một sinh-vật nào sống-sót trong cánh đồng. Nhiều lần tôi đã nhìn thấy máu phụt ra theo dấu xích sắt khi chiếc máy to lớn chạy ngang dọc qua ruộng đồng, đôi khi tôi còn thấy

cả một phần thân-thể trồi lên mặt nước”.

CS hốt-hoảng vì chưa tìm được biện-pháp để đối phó với các cuộc hành-quân của QLVNCH. Thủ-tướng Phạm-Văn-Ðồng trong diễn văn đầu năm 1963 đã công khai xác-

nhận (9): “ … đồng bào miền Nam ruột thịt đang phải đối đầu với những thử thách rất lớn … cho đến năm 1962, chiến tranh giải phóng của ta đã không được triển khai đúng đắn và do đó cần phải được xét lại”.

Thất-bại tại ấp Bắc do đó là một cơ-hội rất tốt cho bộ máy tuyên-truyền của CS. Lịch-sử Ðảng Lao-Ðộng đã huênh hoang ghi nhận (2): “Trận ấp Bắc chứng tỏ quân đội giải phóng và nhân dân ta hoàn toàn có khả năng quân sự để đánh bại chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ”. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam cũng đã cho phát-hành ngày 5.10.1963 một bộ tem với chủ đề ‘Kỷ niệm ba năm đấu tranh cách mạng tại miền Nam Việt Nam’. Trong đó một tem mười xu đã được dành cho chiến thắng ấp Bắc với hình cờ mặt trận và hai cán binh đang bắn hạ trực thăng CH-21 (10).

Trong khi đó, Trung-tá J. P. Vann, cố-vấn-trưởng sư-đoàn 7 BB lại phê-bình rằng (11): “Có ba điểm chính đáng chỉ-trích … Ðầu tiên là việc dậm chân tại chỗ của lực lượng Bảo An. Ðiểm thứ nhì là thất bại của thiết kỵ. Sau cùng là lực lượng dù. Lực lượng nầy đã nhảy không đúng chỗ. Ðây là một quyết định mà tôi phản-đối. Họ muốn củng-cố cho sự bại trận hơn là tăng-cường cho một chiến-thắng”.

Theo ông Phạm-Kim-Vinh thì có ba nguyên-nhân chính đã đưa đến thất-bại tại ấp Bắc (12). Ðầu tiên là tin tình-báo không chính-xác khi ước-lượng chỉ có khoảng một đại-đội VC tại ấp Tân-Thới. Thực tế đây là tiểu-đoàn 514 đang dàn trận sẵn tại ấp Bắc. Ðiểm thứ nhì là thiếu sự thống nhất chỉ-huy giữa các đơn-vị hành-quân gồm bộ-binh, Bảo-An và thiết-giáp. Sau cùng là quyết-định của Tư-lệnh quân-đoàn IV cho tiểu-đoàn 8 Dù nhảy vào phía Tây thay vì phía Ðông ấp Bắc đã khiến các cố-vấn Mỹ bất bình.

Một điểm đáng tiếc là tài-liệu chủ yếu (13) trong ba tham-khảo mà ông trích dẫn về trận ấp Bắc lại nằm trong bộ sách có khá nhiều sai lầm. Chắc ông sẽ thận-trọng hơn khi biết rằng cố-vấn cho quyển sách nói trên lại là Ngô-Vĩnh-Long, đã nổi tiếng là một tên VC nằm vùng tại Mỹ (14).

Trở lại trận ấp Bắc, người ta thấy có nhiều điểm cần được bàn đến:

Ðiểm đầu tiên là cống Lương chia địa thế vùng hành-quân ra làm hai vùng rõ rệt, phía tây là đồng lúa trong khi phía đông là đầm lầy. Ðây có thể là lý do để giải-thích cho vị-trí bãi nhảy của tiểu-đoàn Dù. Các cố-vấn Mỹ không là người VN, lại càng không thể nào là Triệu-Quang-Phục được. Ngoài ra cũng cần nên nhớ rằng lực-lượng được chuyên-chở trên các tàu hải-quân theo ngã kênh Ba đã là lực-lượng ngăn chận phía đông.

Ðiểm thứ nhì là số trực-thăng bị bắn rớt khá nhiều cho một cuộc hành-quân. Tổng-số trực-thăng bị bắn rơi trong suốt năm 1963 là chín chiếc (15) thì riêng trong trận ấp Bắc đã mất năm. Ðây cũng là lần đầu tiên có nhân-viên phi-hành-đoàn trực-thăng Mỹ bị thiệt mạng. Chỉ điểm nầy cũng đã là một đề-tài nóng bỏng cho báo chí Mỹ khai-thác lúc bấy giờ.

Ðiểm thứ ba là phương-pháp sử-dụng thiết kỵ. Thiết-vận-xa chỉ mới được sử-dụng

tại vùng 4 Chiến-thuật từ tháng 4 năm 1962. Chiến cụ nầy vẫn chưa được kiện toàn cả về chiến-thuật lẫn kỹ-thuật. Hơn 30 năm sau trận ấp Bắc, cựu Chuẩn-tướng Lý-Tòng-Bá trong hồi ký của ông đã cho rằng có ba nguyên-nhân chính đã đưa đến những khó

 

 

khăn cho đơn-vị thiết-vận-xa do ông chỉ-huy như sau (16):

. Nhiều xạ-thủ đại-liên đã bị sát hại ngay trong những phút chạm súng đầu tiên do không có pháo tháp chắn đạn. Thiệt hại nầy đã làm trì hoãn cuộc tấn-công của các thiết-vận-xa vì cần thời-gian để chấn-chỉnh lại đội ngũ sau những thiệt-hại về nhân mạng

. Thiết-vận-xa không có lực-lượng tùng thiết hay nói một cách khác là nhị thức bộ binh thiết-giáp không được áp-dụng.

. Chiến-thuật tấn-công hàng dọc của thiết-vận-xa là một sai lầm.

Ðã có đến 8 xạ thủ đại-liên bị thiệt mạng ngay trong loạt đạn đầu tiên của VC. Tổng-số trưởng xa và xạ thủ đại-liên bị thiệt mạng và bị thương trong trận ấp Bắc là 14. Rút kinh-nghiệm sau trận đánh, căn-cứ 80 Yểm-trợ Tiếp-vận tại Sài-Gòn đã cho thiết-kế và chế-tạo lá chắn đạn cho các đại-liên .50. Mùa hè năm 1963, 46 lá chắn đạn được trang-bị cho các thiết-vận-xa. Từ năm 1964, tất cả các thiết-vận-xa đều được trang-bị lá chắn đạn. Khoảng bốn năm tháng trước khi trận ấp Bắc xảy ra, Ðại-úy Bá đã đệ trình lên Bộ Chỉ-huy Thiết-giáp đề-nghị thực hiện các lá chắn đạn. Ðề-nghị nầy không hiểu vì lý-do gì đã không được cứu xét.

Ðồng bằng sông Cửu-Long với hệ-thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt là một trở-ngại khác cho chiến-thuật sử-dụng thiết-vận-xa. Chiến-trường ấp Bắc với kênh rạch của vùng Ðồng Tháp là một thí dụ điển-hình. Ðại-đội 7 Cơ-giới đã phải vượt ba kênh liên tiếp là kênh Tân-Hội, kênh Nhỏ và kênh Lạn trước khi đến được mục-tiêu. Cựu Chuẩn-tướng Bá đã viết trong hồi ký của ông (16): “Phải chi địa thế miền đồng bằng Cửu Long, Ðồng Tháp Mười như các bãi sa mạc đất cứng bằng phẳng bảo đảm cơ động tính liên tục cho M113 nhứt định là chuyện khác”. Kỹ-thuật vượt sông rạch của thiết-vận-xa vẫn còn trong tiến trình học hỏi. Dần dần nhiều kỹ-thuật ra đời như cần đẩy (Push bar), dây kéo 100 bộ, nhiều xe kéo dây chuyền … Giữa năm 1965, kỹ-thuật cầu nhôm rút ngắn thời gian vượt các suối và rạch nhỏ. Theo thời-gian và kinh-nghiệm hành-quân, Ðại-úy Bá và đại-đội 7 Cơ-giới đã phân biệt hai vùng địa thế hoạt-động: ruộng với cây lác thì thiết-vận-xa có thể vượt qua, tuy nhiên nên tránh các vùng có cỏ năng.

Ðiểm thứ ba là yếu-tố không yểm. Trong một cuộc hành-quân trước Giáng-Sinh năm 1962 gần Tuy-Hòa, các cố-vấn Mỹ đã học được bài học về trực-thăng-vận không có sự yểm-trợ của oanh-tạc-cơ. Khuyết điểm nầy đã được sửa-chữa ngay trong cuộc hành-quân kế tiếp vào mật khu Bàu Trâm cách Tây-Ninh khoảng 25 cây-số. Tiếc thay cuộc hành-quân tại ấp Bắc chỉ xảy ra vài giờ sau đó (17). Các cố-vấn Mỹ tại vùng 4 Chiến-thuật đã được thông-báo rằng sẽ không có không yểm chiến-thuật do số phi-cơ đang bận yểm-trợ hành-quân tại Tây-Ninh nhưng họ vẫn quyết định cho tiến hành trực-thăng-vận vào ấp Bắc. Ðây là một lỗi lầm tai hại vì các trực-thăng vũ-trang rõ ràng không đủ sức trấn áp hỏa lực của VC. Các lực-lượng hành-quân sau đó phải dùng đến sáu phi tuần AD-6, sáu phi tuần T-28 và hai phi tuần B-26 cho kế-hoạch không yểm tại ấp Bắc. Ðô-đốc H.D. Felt, Chỉ-huy-trưởng các lực-lượng Mỹ trong khu-vực Thái-Bình-Dương, đến Sài-Gòn mấy ngày sau trận ấp Bắc đã nặng nề khiển trách Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) về lỗi lầm nói trên. Ông cũng đã yêu-cầu Bộ TTM/QLVNCH tự hậu chỉ nên cho lệnh hành quân trực-thăng-vận một khi có đầy đủ phi-cơ yểm-trợ chiến-thuật.

Chuẩn-tướng R.H. Anthis, nguyên Tư-lệnh sư-đoàn 2 Không-quân Mỹ khi hồi tưởng lại thất-bại tại ấp Bắc đã cho rằng một trong những nguyên-nhân thất-bại là do quan-niệm sử-dụng không-quân một cách sai lầm của bộ-binh (18). Ông cũng thêm rằng nên để phương-pháp không yểm của bộ-binh bị những thất-bại nhỏ để hy-vọng có thể tránh được những thiệt hại to lớn hơn sau nầy.

Ðiểm thứ năm là vị-trí đổ bộ trực-thăng-vận quá gần tuyến phòng-thủ của địch. Trong chiến-thuật trực-thăng-vận thì thời điểm nguy-hiểm nhất là lúc đổ quân nhất là lúc đổ quân tại các bãi nóng, hay dưới hỏa lực địch. Tại chiến trường ấp Bắc, vị-trí đổ quân quá gần chạm tuyến, đồng thời hỏa lực của địch không bị hủy diệt bởi các cuộc oanh-tạc dọn bãi đã đàn áp ngay cuộc đổ quân khi các binh-sĩ vừa chạm đất. Hậu-quả là lực-lượng hành-quân đã bị thiệt-hại ngay từ lúc bắt đầu.

Ðiểm thứ sáu là yểm-trợ pháo binh. VC rất lo sợ yểm-trợ phi pháo của QLVNCH. Họ đã gọi theo thứ tự là nhất pháo, nhì phi, tam cua, tứ bộ. Sợ nhất là pháo binh, thứ nhì là không-quân, thứ ba là kỵ-binh thiết-giáp và sau cùng mói là người lính bộ-binh. Vì lý-do nầy lệnh cho các cán-binh VC tìm mọi cách triệt hạ ngay tức khắc sĩ-quan tiền-sát-viên pháo-binh trong các cuộc hành-quân. Dấu hiệu nhận dạng là các cần ăng-ten của hệ-thống truyền-tin. Ðây là trường-hợp xảy ra tại ấp Bắc. Sĩ-quan tiền-sát-viên bị thương ngay từ lúc đầu nên pháo binh không thể tác-xạ yểm-trợ được. Trong một trận đánh của tiểu-đoàn 42 Biệt-Ðộng-Quân tại Vĩnh-Châu, sĩ-quan tiền-sát-viên pháo binh cũng là quân-nhân tử trận đầu tiên (19).

Ðiểm thứ bảy là khuyết điểm của hệ-thống cố-vấn Mỹ. Trung-tá Vann từng nổi tiếng về việc xem thường các sĩ-quan QLVNCH. Ông luôn luôn tự mãn về kỹ-thuật và phương-tiện chiến-đấu của quân-đội Mỹ cũng như thường có phong-thái của một người đi giáo-dục dân bản xứ (1). Ông đã từng phát biểu với các phóng-viên nước ngoài rằng (20): “Nếu là một thanh-niên VN trưởng thành trong khoảng thời-gian 1961-65, chắc chắn tôi phải là VC”. Những cá tính đặc-biệt của Vann đã được một sĩ-quan Mỹ cao cấp phê-bình (21): “Trung-tá Vann là một cấp chỉ-huy quân-sự giỏi nhưng không thể là một cố-vấn tốt được”. Những phê-bình thiếu thiện cảm của Trung-tá Vann đã được các phóng-viên Mỹ, đặc-biệt là D. Halberstam khai-thác tối-đa. Sự hiềm khích giữa các phóng-viên Mỹ tại VN và chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm bắt nguồn từ quyền tự-do báo chí mà các phóng-viên nầy muốn thực thi tại một nước Á-Châu trong thời chiến. Chính-phủ VNCH tức giận bởi các bài báo chỉ-trích tự do theo đường lối của Âu Mỹ nên đã gây khó khăn cho các phóng-viên ngoại quốc.

Một thí dụ tiêu biểu là do một bài báo đăng trong tạp-chí Newsweek vào tháng 9 năm 1962 phê-bình về đường lối chỉ-đạo chiến-tranh của chính-phủ và đoàn Thanh-nữ Cộng-hòa, Francois Sully, một phóng-viên kỳ cựu về chiến-tranh VN đã bị tống xuất. Ðể trả đũa, các phóng-viên Mỹ cố tìm các thất bại của chính-phủ VNCH hầu đưa lên mặt báo. Như đã nêu ra ở phần trên, năm 1962, quân CS gặp nhiều khó khăn do các cuộc hành-quân của QLVNCH. Chiều hướng chiến-tranh vẫn chưa thuận lợi cho phía CS như Thiếu-tá O’Ballance đã viết (22): “Tổng-quát năm 1962, chính-sách của quân-đội giải-phóng nhằm tấn-công các vị-trí phòng-thủ không được thành-công lắm mặc dù tinh-thần của QLVNCH không cao trong giai-đoạn nầy”. Thế nhưng D. Halberstam lại nhận xét như sau (23): “Trong những tháng của mùa Thu năm 1962, tôi và những người khác, mặc dù thấy rằng chiến-tranh không thắng lợi nhưng không hiểu được một cách rõ ràng bằng những người nông-dân về những trì trệ của chính-phủ … chính-phủ thất-bại trong việc sử-dụng các phương-tiện cơ-động cùng những quân cụ khác và đã mất đà. Các tiểu-đoàn quân chính-phủ không săn đuổi trừng trị địch quân; Việt Cộng được tự do sống thoải-mái hơn, quân-đội chính-phủ không dám ra khỏi địa bàn quận. Một lần nữa, những người đầu tiên nhận ra các dấu hiệu nầy không phải là các sĩ-quan tình-báo Mỹ tại Sài-Gòn, ngay cả tại Mỹ-Tho, cũng không phải là các phóng-viên hay các viên chức lạc quan tại Ngũ-giác-đài mà chính là những nông-dân đang sống tại các vùng có chiến-tranh. Họ là người biết rằng các đồn bót đã bị đánh chiếm, du-kích-quân được di-chuyển một cách tự-do, phía nào sẵn-sàng chiến-đấu. Nông-dân VN là những người rất thực-tế và họ có một giác-quan rất bén nhạy về chiều gió”.

Bàn về trận ấp Bắc, D Halberstam viết tiếp (23): “Chúng tôi đã nhiều lần quan-sát khả-năng kém cỏi của QLVNCH, thường không nghe lời các cố-vấn Mỹ hoặc lý lẽ tự nhiên. Chúng tôi đã từng nêu lên các cuộc đụng độ như vậy tuy nhiên cảm thấy rất khó khăn để có thể mô tả toàn cảnh cho độc-giả; thông thường bài viết chấm dứt với câu ‘Việt Cộng trốn thoát’, khó mà mô tả được thực tế. Ðối với chúng tôi cũng như các cố-vấn quân-sự Mỹ liên hệ, ấp Bắc tượng trưng cho các nhược điểm của hệ-thống: thiếu sự liều lĩnh, ngần-ngại trước tổn-thất, kém khả-năng lãnh-đạo, chỉ-huy không có hệ-thống. Hàng ngày trong suốt năm qua, những thất-bại tại ấp Bắc đã được lặp lại nhiều lần dưới hình-thức nhỏ hơn và nếu không được sửa-chữa nhanh chóng, chúng sẽ tạo ra những hậu-quả to lớn hơn trong tương-lai”.

Một phóng-viên đồng nghiệp và là bạn thân của Halberstam đã từng nhận-xét (24): “Kiến-thức của Halberstam khá nông cạn để tìm hiểu cặn kẽ những vấn-đề khó hiểu của vùng Ðông Nam Á”. Tổng-thống Kennedy cũng đã yêu-cầu báo New York Times thay đổi nhiệm sở của Halberstam sau bài tường thuật về ấp Bắc (25, 26).

Trận ấp Bắc còn tạo ra hố cách biệt giữa chính-phủ Mỹ và báo chí. Sau trận ấp Bắc, các viên chức cao cấp tại tòa đại-sứ Mỹ do thận trọng đã giới-hạn các cuộc tiếp xúc với báo chí và thường có khuynh-hướng quá lạc quan khi đề cập đến hiện tình VN. Các phóng-viên Mỹ ngược lại đã cố tình khai-thác các thất-bại của Mỹ và VNCH. Chính báo giới cũng đã nhìn nhận rằng đôi lúc họ đã đi đến mức phóng-đại sự thật. Tất cả những gì họ thấy đều được cho là sai lầm (3). Giáo-sư M B Young đã nhận-xét về hố cách biệt nầy như sau (27): “Các viên chức Mỹ càng lạc quan bao nhiêu thì báo chí lại càng nghi ngờ bấy nhiêu. Các phóng-viên như Halberstam, Francois Sully, Neil Sheehan, Malcolm Browne và Charles Mohr đã mô tả chi-tiết sự lỏng lẻo, tham-nhũng và thất-bại của bộ máy quân-sự của chế-độ Diệm trong chín năm được Mỹ huấn-luyện

 

 

cùng với cả núi quân-cụ”.

Nói tóm lại, báo chí nước ngoài do thành kiến sẵn có chỉ tìm cách khai-thác các nhược điểm của VNCH và đồng-minh. Một thí-dụ điển hình là trong tháng Chạp năm 1962, chính các đơn-vị của sư-đoàn 7 BB và chi-đoàn 4/2 cũng do Ðại-úy Bá chỉ-huy, trong một cuộc hành-quân tại Ðồng Tháp Mười đã đạt được một chiến thắng lớn với hơn 150 VC bỏ xác tại trận (11). Không một bài báo nào đề cập đến cuộc hành-quân nầy. Chỉ khoảng một tháng sau, qua báo chí cả nước Mỹ đã bàng hoàng trước thất bại tại ấp Bắc.

Chiến-thắng trên không phải là chiến-thắng duy nhất của Ðại-đội 7 Cơ-giới. Từ năm 1962, đại-đội nầy đã ngang dọc từ rừng tràm Mộc-Hóa với chiến lợi phẩm là những khẩu súng trường bá đỏ đến trận Tân Niên Ðông, Tân Niên Tây, quận Châu Thành, tỉnh Gò Công với đại-bác 57 ly không giật. Qua An Thạnh Thủy, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ-Tho với đại-bác 75 ly không giật. Ngược lên rừng tràm ổ Quạ, quận Tân Châu, Hồng Ngự, thiết-vận-xa đã nghiền nát cả đại-đội VC (16). Thế nhưng trong suốt 63 trang sách của quyển III, tập sách Sự Lừa Dối Hào Nhoáng (6), quyển sách đã khiến tác-giả của nó đoạt được giải Pulitzer, giải văn-chương cao quý nhất của Hoa-Kỳ, chỉ một trận đánh được nhắc đến, đó là trận ấp Bắc!

Cuối năm 1963, TQLC đã gây thiệt hại nặng cho VC khi giải vây chi khu Ðầm Dơi thuộc tỉnh An-Xuyên. Chiến thắng lớn nhất của QLVNCH trong năm đã không được giới truyền-thông phổ biến.

Trong khi cuộc chiến tại ấp Bắc vẫn còn đang tiếp diễn thì tuần báo Times đã viết (28): “Khoảng 1200 quân VNCH với chiến-đấu-cơ và thiết-vận-xa yểm-trợ đang mở một cuộc hành-quân tại Ðịnh-Tường. Những báo cáo mới nhất cho biết đang có đụng độ lớn và một tiểu-đoàn Dù đã được thả xuống để tăng-cường cho các lực-lượng bộ-binh”. Sau gần một phần tư thế kỷ, báo chí nước Mỹ vẫn tiếp tục nhìn trận ấp Bắc một cách lệch lạc (29): “350 du kích quân đã đứng dậy để làm nhục một quân-đội hiện-đại nhiều hơn gấp bốn lần, được yểm-trợ bởi thiết-giáp, pháo binh, trực-thăng và oanh-tạc-cơ. Họ chỉ tổn thất 18 chết và 39 bị thương trong khi các cố-vấn Mỹ và quân-đội Sài-Gòn đã tác-xạ hàng ngàn đạn súng trường và súng cộng-đồng, 600 đạn pháo-binh cũng như bom lửa và các vũ-khí khác từ 13 phi-cơ cùng với 5 trực-thăng vũ-trang”. Tuy nhiên họ đã nhân quân-số tham dự hành-quân lên gấp bảy lần (30): “Trở lại tháng Giêng năm 1963, trọn một sư-đoàn của QLVNCH, khoảng 10 ngàn người, đã bị ba đại-đội VC, khoảng 350 người, đánh tan tại ấp Bắc, cách Sài-Gòn khoảng 65 cây-số”. Rồi từ đó kết-luận (31): “Ấp Bắc cho thấy miền Nam VN đang thất-bại, một sự kiện càng ngày càng rõ ràng để đến năm 1965, nước Mỹ đã phải đưa quân-đội vào tham chiến trực-tiếp hầu đảo ngược tình thế”.

Trên thực tế ít người biết được rằng VC cũng đã bị tổn thất nặng-nề về nhân mạng

như một sĩ-quan CS đã viết (32): “Còn sau chiến thắng ấp Bắc thì hai đại đội Ðồng Khởi phần đông là lính mới của Ba Ðào ở Bến Tre đưa lên mất tên luôn. Số còn sống trốn về quê hết sạch. Hai ban chỉ huy chỉ sống sót một đại đội phó nhưng cũng bị thương

 

 

cưa cụt chân”.

Trận Ấp Bắc là một thất-bại lớn của QLVNCH kể từ khi được trang-bị trực-thăng và thiết-vận-xa. Tổn thất về vật-chất và nhân mạng không quan-trọng bằng việc các đơn-vị của CS đã tìm ra phương cách chống lại các cuộc hành-quân có sự yểm-trợ của những quân cụ tối-tân. Một phóng-viên chiến trường đã nhận xét (8): “Về thống-kê, ấp Bắc khó có thể được xem như một chiến-thắng thật sự hay một thất-bại cho cả hai phía. Thiệt hại về nhân mạng phía chính-phủ lên đến con số sáu mươi, nhưng những con số như vậy đã trở thành thông thường”.

Mặc dù ở thời điểm nầy, VC chưa được trang-bị các vũ-khí chống chiến-xa cũng như kiện toàn chiến-thuật chống trực-thăng-vận, tuy nhiên ưu thế của trực-thăng và thiết-vận-xa không còn được như trước nữa. Giáo-sư G. Kolko đã giải-thích cho lý do vừa nói khi viết (33): “Ðầu tiên Ðảng đối phó với những khó khăn về quân sự mà họ phải đối đầu trong năm 1963-64 bằng đường lối nghiên-cứu và phân tích. Họ tìm cách biến nhược điểm của cách-mạng thành ưu điểm và ưu điểm của địch quân thành nhược điểm. Trực-thăng cũng như xe bọc thép đã được chọn để thẩm định. Thảo-luận cũng như trắc-nghiệm đã được tổ-chức khắp nước và sau đó những khuyết điểm chính của trực-thăng đã được phổ-biến đến tất cả các đơn-vị. Trận ấp Bắc là một giai-đoạn quan-trọng trong tiến trình học hỏi nầy. Các xe bọc thép, phần lớn là M-113 cần một thời-gian nghiên-cứu lâu hơn và năm 1964 Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa đã yêu cầu Trung-Hoa và Liên-Bang Xô-Viết cung-cấp vũ-khí để đối phó. Ðồng lúc đó, kỹ-thuật sử-dụng đặc-công và súng cối để phá hủy phi-cơ tại mặt đất được kiện toàn thành một thứ vũ-khí chủ-yếu, tạo ra những hậu-quả to lớn trong suốt cuộc chiến, tương tự như trong chiến-tranh chống Pháp”.

Sau cuộc thăm viếng các nước Phi-Châu của ngoại-trưởng CSBV là Ung-Văn-Khiêm, Hà-Nội đã đồng ý huấn-luyện quân-đội Algeria và đổi lại Algeria sẽ cung-cấp các dữ-kiện về chiến-thuật chống trực-thăng-vận trong chiến-tranh chống Pháp (34). Năm 1958, Tổng-thống Charles de Gaulle chọn Tướng Maurice Challe làm Tư-lệnh quân-đội Pháp tại Algeria. Là một sĩ-quan không-quân, Tướng Challe đã áp-dụng không-lực vào chiến-tranh chống du-kích tại đây. Pháp dùng đến 600 trực-thăng trong đó 380 chiếc thuộc loại H-21 mà Mỹ sẽ sử-dụng tại miền Nam VN. Quân-đội Algeria do đó có khá nhiều kinh-nghiệm trong chiến-thuật chống trực-thăng-vận.

Về mặt chiến-lược, CS cho rằng (35): “Chiến thắng ấp Bắc có một ý nghĩa lịch sử quan trọng. Nó đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang cách mạng mới miền Nam. Nó mở đầu cho sự phá sản của chiến thuật ‘trực thăng vận’, ‘thiết vận xa’, các con chủ bài của Mỹ ngụy trong ‘chiến tranh đặc biệt’, đồng thời đánh sụp lòng tin của quân ngụy vào trang bị và kỹ thuật hiện đại tối tân, lực lượng yểm trợ cơ động và hoả lực của Mỹ, lòng tin của Mỹ vào khả năng chống đỡ của quân ngụy trước sức tiến công

của quân ta”.

Trên phương diện chiến thuật, lịch sử của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam đã ghi lại (36): “Sau chiến thắng nầy, cả miền Nam dấy lên phong trào thi đua ấp Bắc

– Giết giặc lập công. Phong trào ấy trở thành cao trào của Quân Giải Phóng hạ trực thăng bầy, diệt các chi đoàn xe thiết giáp. Dám trụ lại để thắng giặc trên chiến trường đồng bằng là một bước tiến đáng kể của Quân Giải Phóng lúc bấy giờ”.

Thất bại tại ấp Bắc là một dấu hiệu báo trước cho tất cả mọi người tại miền Nam VN về hiểm họa CS. Với Mỹ, phương-pháp huấn-luyện cũng như những vũ-khí tối-tân trang-bị cho QLVNCH trong mục-đích chống chiến-tranh qui ước như đã xảy ra tại Âu-Châu hay Triều-Tiên cần phải được xét lại. Từ lâu các cố-vấn quân-sự Mỹ hy-vọng quân CS sẽ đứng lại đối đầu trực-tiếp trên chiến-trường để Mỹ có thể sử-dụng những ưu thế của kỹ-thuật quân-sự, thế nhưng tại ấp Bắc khi quân CS chấp nhận giao chiến thì trực-thăng và thiết-vận-xa  vẫn chưa phải là điều-kiện tối ưu để mang lại chiến-thắng mong muốn. Bàn về hậu-quả của trận ấp Bắc, một sĩ-quan Mỹ cao cấp đã nhận xét như sau (21): “Nói cho cùng, trận đánh và phản ứng ồn ào của quần chúng sau đó chỉ nói lên rằng quân-đội miền Nam Việt-Nam chưa hẳn là quân-đội chuyên nghiệp được lãnh-đạo bởi cấp chỉ-huy có khả-năng. Sĩ-quan và binh-sĩ cần phải được huấn-luyện nhiều hơn nữa trước khi quân-đội nầy có thể hành-quân đơn-phương một cách có hiệu-quả. Xây dựng quân-đội là một tiến trình khó khăn và chậm chạp như các cố-vấn của George Washington đã học được”.

Với chính-phủ VNCH, trận ấp Bắc là lời cảnh cáo về phương cách điều hành quốc-gia cũng như về đường lối tuyển chọn nhân sự. Chính-phủ chẳng những không thấy được những thiếu sót về mặt quân-sự lại dấn thân thêm vào những cuộc khủng hoảng chính-trị mà điển hình là việc đàn áp Phật-giáo vào mùa hè năm 1963.

Ðiểm đáng đề cập sau cùng cũng quan-trọng không kém là những thủ-đoạn chính-trị giữa chính-phủ VNCH, CSBV và Mỹ. Ðể chống lại áp lực của Mỹ, Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm và cố-vấn Ngô-Ðình-Nhu đã toan tính hòa hợp, hòa giải với CS. Cựu Trung-tướng Tôn-Thất-Ðính đã ghi lại như sau (37):

“Từ tháng 11-1962, một bản tin tình báo tối mật đã được gửi về Ngũ Giác Ðài, qua trung gian của Bộ Tư Lệnh MACV, và cả của Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương do Ðô Ðốc Felt chỉ huy ghi nhận rằng Sư Ðoàn 7 Bộ Binh đã ‘thả’ cho Việt Cộng chạy! Trong 14 cuộc hành quân, Bộ Chỉ Huy Sư Ðoàn 7 Bộ Binh rất thận trọng để không chạm trán với VC, nên gần 4 tháng còn lại VNCH chỉ có 3 binh sĩ tử thương! Nếu lỡ gặp VC thì luôn luôn họ mở đường cho VC chạy trốn. Ngũ Giác Ðài đã hoảng hốt vì bản tin tình báo nầy, nên đã cấp tốc ra lệnh cho Tướng Harkins phải tìm thực hư ngay bằng cách tiếp xúc với giới lãnh đạo VNCH. Tướng P. Harkins đã xin yết kiến T.T. Ngô Ðình Diệm và đã được Tổng Thống xác định chắc chắn là không bao giờ có việc ấy.

“Nhưng sự thật như thế nào ?

“Theo lời của Willie, Cố vấn trưởng Quân Ðoàn IV, và cũng từng là Cố vấn lâu năm của Quân Ðoàn II khi tôi làm Tư lệnh trên đó, thì vấn đề này thuộc về chính trị, Tổng Thống dù có biết rõ thì vẫn nói không! Vì sao? Vì đây là một lệnh xuất phát từ ông Ngô Ðình Nhu, khẩu lệnh cho các đại đơn vị, mà tình báo chiến trường của Mỹ đã thu được qua các cuộc đối thoại. Các sĩ quan quân báo của Mỹ đều thống nhất tin tức về việc nầy, vì lệnh này xuống tận hạ tầng cơ sở, nên binh sĩ VNCH không còn truy lùng địch nữa.

“Cuối 1962, Ðại tá Willie đã kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện lạ lùng tương tự như thế về tình hình chiến sự ở Quân Ðoàn IV. Và chỉ riêng Quân Ðoàn nầy mà thôi, vì đây là miền có nhiều đơn vị tập kết của Việt Cộng trở về tham gia vào các đơn vị của MTGPMN, và ông luôn kết luận đó là do chính trị mà ra. Ông nói là các nhà lãnh đạo VNCH, đặc biệt là ông Ngô Ðình Nhu đang chơi với lửa, và lửa nầy sẽ đốt chế độ của ông trước khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản. Dù Mỹ có giúp gì đi nữa, cũng chỉ vô ích mà thôi, vì cuộc chiến tranh này không thể dùng chính trị mà thắng được. Với Cộng sản chỉ đập đầu con rắn trước khi nó cắn mổ mình chết, chứ chơi trò nước đôi nước ba với nó thì nó cũng cắn mình chết thôi. Tôi hỏi vì sao ông nói vậy. Ông chỉ lắc đầu và nói đó chỉ là chính trị và một ngày nào đó tôi cũng có thể bị sa lầy vào đó, và chắc ông sẽ rời khỏi VNCH trước khi chuyện gì xảy ra cho Quân Ðoàn III của tôi.

“Trận Ấp Bắc vào đầu năm 1963 đã diễn ra trong cái không khí gọi là chính trị đó. Phía Hoa Kỳ thì cương quyết sắp đặt một trận đánh để tiêu diệt Việt Cộng ở các cấp Tiểu Ðoàn, phía VNCH cũng sắp đặt các kế hoạch hành quân tương ứng với các chủ trương của Mỹ nhưng chắc chắn là với nhiều dụng ý khác nhau theo như sự ước tính của tình báo Mỹ: một cuộc hành quân phối hợp như vậy có cả Mỹ và VNCH dự trận chỉ đưa đến một tình trạng bất phân thắng bại giữa phía ta và phía địch; như vậy để xác định Mỹ không có cách gì tiêu diệt được VC ở các cuộc hành quân như thế! Một cuộc hành quân như thế có thể đưa đến thất bại, nếu do Mỹ chỉ huy và không có sự hợp tác của VNCH một cách tích cực, để cho thấy Mỹ không thể lãnh đạo chiến trường! Và ở giữa cái hòa và bại, thì Việt Cộng có đường mà chạy, mà rút, nếu họ bị Mỹ đánh bất ngờ theo các tin tức thu nhập được của Mỹ! Ðó là cảnh trống đáng xuôi, kèn thổi ngược của một chủ trương chính trị nào đó mà các cố vấn quân sự Mỹ xác định là từ phía Phủ Tổng Thống. Họ chỉ ngầm cho biết có thể là tư tưởng quốc gia cực đoan đã làm hao tổn đến tình huynh đệ chi binh của Mỹ và VNCH nếu có chuyện đó xảy ra. Nên họ muốn thử thách ngay tại tỉnh Ðịnh Tường với Trận Ấp Bắc ở vùng Tân Thới sau khi họ thu thập được đầy đủ tin tức tình báo về sự hiện diện của Việt Cộng ở đây”.

Tuy nhiên vẫn có thể các sĩ-quan trực tiếp điều khiển chiến trường không biết được những tính toán chính-trị vừa nói. Tiếc thay khả-năng của Bộ Tư-lệnh hành quân cũng đã được ông xác nhận (37): “Thật ra trước một sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ, tôi không muốn nói rõ cảm tưởng chân thật của tôi về khả năng yếu kém tồi tệ của Bộ Tham Mưu Quân Ðoàn. Ngay cho đến khả năng chỉ huy thiếu kinh nghiệm chiến trường của viên Tư Lệnh QÐ 4 mà tôi biết rất rõ về ông”.

Sau khi phân tích những sai lầm của VNCH, R. Shaplen đã kết-luận (38): “Và cái

gì sắp xảy ra tại Việt Nam, như bây giờ mọi người đã biết, không còn nghi ngờ gì được nữa là chính phủ Việt Nam của Ngô Ðình Diệm không có khả năng để chiếm được hậu

thuẫn của dân chúng cũng như đối đầu với những thử thách về chính trị”. Cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 với sự sụp đổ của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa đã chứng minh cho kết-luận nầy.

 

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

 

  1. S. Karnow,Vietnam – A History, Penguin Books Ltd., Middlesex, 1986
  2. K. M. Generous, Vietnam – The Secret War, Bison Books Ltd., London, 1986

3.W.L. Allen & al., The Vietnam War, Salamander Books Ltd., London, 1981

  1. Phạm Bá Hoa, Ðôi Dòng Ghi Nhớ, nxb Ngày Nay, Texas, 1995.
  2. Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975,Tập III, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  3. N. Sheehan, A Bright Shining Lie, Jonathan Cape Ltd., London, 1989
  4. N.T. Võ, Chủ biên, Gửi Người Ðang Sống -Lịch Sử Ðồng Tháp Mười, nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1993.
  5. M.W. Browne,The New Face of War, Cassell & Company Ltd., London, 1965.
  6. T. Latimer, Hanoi’s Leader and their South Vietnamese Policies 1954-68, Ph.D. Thesis, Georgetown University, 1972.
  7. Overseas 4 – Stamp Catalogue, National Front for the Liberation of South Vietnam, Stanley Gibbons Publication Ltd., London, 1978.
  8. D.A. Starry, Armoured Combat in Vietnam, Blanford Press, Dorset, 1981
  9. Phạm Kim Vinh, Thiên Anh Hùng Ca viết cho QLVNCH,nxb Tiếng Mẹ, Arizona, 1984.
  10. T. Maitland & S Weiss, Raising the Stakes, Boston Publishing Co., 1982.
  11. M.P. Trần, Việt Nam trong năm qua, Quê Mẹ,Số 56 & 57, trang 57-66, Paris, 1984.
  12. G. Lewy, America in Vietnam,Oxford University Press, New York, 1978.
  13. Lý Tòng Bá, Hồi Ký 25 Năm Khói Lửa Của Một Tướng Lãnh Cầm Quân Tại Mặt Trận, Tác giả xuất-bản, California, 1995.
  14. G. Gurney, Vietnam – The War in the Air, Sidgwick & Jackson, London, 1985.
  15. W.H. Morrison, The Elephant & the Tiger, Hipocrene Books, New York, 1990.
  16. Yên Tử Cư Sĩ, Vài nét về một anh hùng: Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn, Văn Nghệ Tiền Phong,trang 20-22, Số 510, 1997.
  17. D. Fulgham et al., South Vietnam on Trial, Mid-1970 to 1972, Boston Publishing Co., 1984.
  18. D.R. Palmer, Summons of the Trumpet, Presidio Press, California, 1978.
  19. C. Bishop, Ed., Vietnam War Diary, The Hamlyn Publishing Group, London, 1990.
  20. D. Halberstam, The Making of a Quagmire,The Bodley Head Ltd., London, 1965.
  21. P. Scholl-Latour, Eyewitness Vietnam – War Reports from Indochina 1945-1979, Orbis Publishing Ltd., London, 1985.
  22. H.G. Summers, Jr., Vietnam War Almanac, Facts on File Publications, New York, 1985.

 

  1. V. Brittain, Shooting an Official Line, The Guardian, Thursday Feb. 7, p. 21, 1991.
  2. M.B. Young, The Vietnam Wars 1945-1990, Harper Collins Publishers, New York, 199.1
  3. U.S. Helicopter men wounded, The Times, Jan. 3, col. e, p. 7, 1963.
  4. The Battle of Ap Bac, The Times, April 8, Part 3, 1989.
  5. H. Randal, Soldier of the South, Nam, Orbis Publishing Ltd., Vol. 1, No. 4, pp. 97-101, London, 1987.
  6. M. Woolacott, The man who saw the troubles,TLS, April 28 – May 4 1989.
  7. Dương Ðình Lôi & Xuân Vũ, 2000 Ngày Ðêm Trấn Thủ Củ Chi, tập Ba, nxb Trời Nam, Texas, 1993.

 

 

 

 

 

 

 

Trận Ðầm Dơi

 

 

 

 

An-Xuyên là tỉnh cực nam của miền Nam đất Việt. Bắc giáp hai tỉnh Kiên-Giang và Chương-Thiện. Phía đông bắc là tỉnh Bạc-Liêu. Hai phía tây và đông nam đều là biển. Bờ biển dài tổng-cộng khoảng hơn 300 cây-số. Khoảng cách đông tây nơi rộng nhất là 114 cây-số. Khoảng cách nam bắc nơi xa nhất là 117 cây-số. Diện-tích tổng-cộng khoảng 5000 cây số vuông (xem sơ-đồ 1).

Phía đông, từ Giá Rai xuống Vĩnh-Thịnh, Gành Hào thì nước lõm bõm như đồng chiêm. Vùng Ðầm Dơi Cái Nước qua Năm Căn đến mũi Cà-Mau là khu rừng sát, đa số là cây đước, phần còn lại là vẹt, cóc kèn và dừa nước. Ðất phần lớn còn mặn nhưng vì ẩm độ cao nên không có nhiều phèn.

Phía tây từ sông Ông Ðốc trở lên đến sông Cái Lớn của tỉnh Kiên-Giang là rừng tràm U-Minh. Ở giữa là sông Trẹm và sông Cái Tàu phân chia rừng U-Minh thành hai. Bắc là U-Minh thượng và nam là U-Minh hạ. U-Minh có một đầm lớn là đầm Ðồng Cùng hay còn gọi là đầm Bà Tường, rộng nhưng cạn và có nhiều thủy sản.

Ðường bộ từ Cần-Thơ đi Cà-Mau là 114 cây-số; Cà-Mau Cái Nước 32 cây-số; Cái Nước Năm Căn 21 cây-số. Khoảng cách Sài-Gòn Cà Mau là 344 cây số.

Lưu-thông bằng đường thủy dễ-dàng hơn đường bộ do An-Xuyên có nhiều sông và kênh rạch. Từ tây sang đông có sông Trẹm, sông Ông Ðốc, sông Ðồng Cùng, sông Bảy Háp, sông Cửa Lớn chảy ra biển phía tây. Sông Ðường Keo chảy ra biển phía nam. Sông Bồ Ðề, sông Gành Hào, sông Mỹ Thanh chảy ra biển phía đông. Các kênh ngang gồm kênh Ngạn Dừa, Cái Chanh lớn, Cạnh Ðền, Huyện Sử. Các kênh dọc là kênh Phụng-Hiệp, kênh Cà-Mau đi Bạc-Liêu.

Về đường hàng-không, An-Xuyên có hai phi-trường tại Cà-Mau và Năm Căn. Phi-trường An-Xuyên (Cà Mau) là một phi-trường dân-sự nhưng chỉ có khả-năng tiếp nhận máy bay dân-sự loại Cessna U-3 Blue Canoe. Về các phi-cơ quân-sự đáp tại đây chỉ có các quan-sát-cơ Cessna O-1 Bird Dog (trước đây là các phi-cơ L-19 do Pháp chuyển giao và được đổi danh hiệu O-1 kể từ năm 1962) và De Havilland Canada U-6A Beaver (trước đây là các phi-cơ L-20 cũng do Pháp chuyển giao và được đổi danh hiệu thành U-6 năm 1962) và vận-tải-cơ De Havilland C-7 Caribou do khả-năng cất và hạ cánh trên phi-đạo ngắn (STOL). Trong khi đó thì phi-trường Năm Căn chỉ là một sân bay dã-chiến dành cho các phi-cơ quan-sát.

Trên phương-diện hành-chánh, tỉnh An-Xuyên gồm có sáu quận là Quản Long, Thới Bình, Cái Nước, Năm Căn, Ðầm Dơi và Sông Ông Ðốc. Trong chiến-tranh Việt Pháp, khu-vực phía nam Ðầm Dơi là một khu-vực an toàn cho kháng-chiến do hệ-thống kênh rạch chằng chịt dễ di-chuyển khi bị ruồng bố. Phía đông là biển nên rất dễ canh gác phòng thủ. Từ đây có thể theo sông Gành Hào ra sông Ông Ðốc để lên sông Trẹm đi vào rừng U-Minh an toàn. Vùng U-Minh (căn cứ địa 483 trên các phúc-trình tình-báo của QLVNCH và thuộc quân khu 9 của CS) lại nối liền với Ðồng Tháp Mười (căn cứ địa 470 và thuộc khu 8 của CS) qua một hệ-thống kênh rạch. Từ vùng Chắc Băng, Huyện Sử, Thới Bình theo sông Cái Lớn, qua kênh Bà Ðầm Thát Lát, vượt Hậu-Giang đến Sa-Ðéc; vượt Tiền-Giang sang Cao Lãnh rồi theo sông Nhị Mỹ đi về phía Bắc một đổi là đến kênh Ðồng Tiến của vùng Ðồng Tháp.

 

  1. Diễn-Tiến

 

Trong kế-hoạch phá các ấp chiến-lược dọc theo sông Bảy Háp, quân-khu 9 của VC tập trung lực-lượng để tiêu-diệt hai chi khu Cái Nước và Ðầm Dơi vì đây là hệ-thống bảo vệ an-ninh cho khu-vực (xem sơ-đồ 2).

Chi-khu Cái Nước cách tiểu-khu An-Xuyên khoảng 32 cây-số về phía Nam. Vị-trí phòng thủ của chi khu đã được thiết-lập từ năm 1955. Quân-số của chi khu có khoảng 200 người gồm: 1 đại-đội Bảo-An, 3 trung-đội Dân-Vệ.

Về trang-bị, ngoài các vũ-khí cá-nhân còn có các vũ-khí cộng-đồng sau: 2 súng cối, 3 đại-liên, 10 trung-liên.

Trong khi đó, chi khu Ðầm Dơi cách chi khu Cái Nước khoảng 21 cây-số về phía đông bắc. Hệ-thống phòng-thủ chi khu cũng đã được thiết-lập từ năm 1955. Giữa chi khu có tháp canh cao bảy thước để quan-sát khu-vực chung quanh. Quân-số của chi khu khoảng 180 người gồm: 1 đại-đội Bảo-An, 1 trung-đội Dân-Vệ. Vũ-khí cộng-đồng gồm: 2 súng cối 81 ly, 2 súng cối 60 ly, 1 đại-liên.

Chiều ngày 9.9.1963, các đơn-vị CS phụ-trách tấn-công chi khu Cái Nước đã sẵn sàng tại vị-trí. Lực-lượng VC gồm (1): Tiểu-đoàn 306 chủ-lực của quân-khu 9 CS với quân-số 523 người gồm ba đại-đội bộ-binh, một đại-đội đại-bác không giật SKZ và các đơn-vị yểm-trợ. Trần-Tứ-Phương là tiểu-đoàn-trưởng. Ðoàn-Quang-Vũ là chính-trị-viên. Một đại-đội pháo. Một trung-đội trinh-sát đặc-công. Trung-đội địa-phương huyện Cái Nước.

Tất cả đặt dưới quyền chỉ-huy của Nguyễn-Hoài-Phô, Phó Tư-lệnh kiêm Tham-mưu-trưởng quân-khu 9. Bí-thư và Phó Bí-thư tỉnh-ủy Cà-Mau cùng với Huyện-ủy huyện Cái Nước cũng có mặt tại sở chỉ-huy của trận đánh.

Cũng trong chiều cùng ngày, trên hướng Ðầm Dơi, các đơn-vị VC dùng xuồng tiến đến mục-tiêu. Lực-lượng sử-dụng để đánh chi khu Ðầm Dơi gồm (1): Tiểu-đoàn U-Minh do Nguyễn-Ðệ làm tiểu-đoàn-trưởng và Vưu-Hoài-Thanh là chính-trị-viên. Một đại-đội đại-bác không giật SKZ. Một trung-đội đặc-công. Một phân-đội lăng xà bom. Ðại-đội địa-phương huyện Ðầm Dơi.

Khuya ngày 9, quân VC nổ súng tấn-công chi-khu Cái Nước. Sau một giờ chiến-đấu, chi-khu bị mất liên-lạc. Cả quận-trưởng và quận-phó đều bị VC bắt làm tù-binh.

Trên hướng Ðầm Dơi, đại-đội đại-bác không giật của VC trên đường tiến đến vị-trí chỉ định đã lọt vào bãi mìn khiến 6 người chết và hai đại-bác bị hư hại nặng. Chi-khu nghe tiếng mìn nổ đã báo động và dùng súng cối tác-xạ vào những vị-trí nghi ngờ. Mặc dù bị thiệt hại, VC vẫn tiếp tục kế-hoạch hành quân. 4 giờ 10 phút ngày 10.9, VC bắt đầu tấn-công. Lực-lượng chi-khu do được báo động từ trước nên có đủ thời-gian chuẩn bị kháng cự. Mặc dù quận-trưởng và quận-phó đều bị tử thương, VC chỉ chiếm được một phần của chi-khu. Trận chiến kéo dài đến sáng thì Bộ Chỉ-huy VC ra lệnh rút lui khi phi-cơ xuất hiện để oanh-tạc các khu vực nghi ngờ có quân CS.

Thiếu-tướng Huỳnh-Văn-Cao, Tư-lệnh quân-đoàn IV trực tiếp chỉ-huy cuộc hành-quân giải-tỏa áp-lực địch trong vùng. Bộ Tư-lệnh hành-quân đặt tại phi-trường An Xuyên.

Tiểu-đoàn 2 Thủy-quân Lục-chiến (TQLC) đang tăng-phái cho tiểu-khu An-Xuyên được lệnh hành-quân giải tỏa Ðầm Dơi. Bộ Chỉ-huy của tiểu-đoàn 2 TQLC gồm (2): Tiểu-đoàn-trưởng : Ðại-úy Nguyễn-Thành-Yên; Tiểu-đoàn-phó: Ðại-úy Nguyễn-Văn-Hay (xử-lý thường-vụ) Ðại-đội-trưởng Ðại-đội 1: Trung-úy Phạm-Nhã; ÐÐT/ÐÐ 2: Ðại-úy Nguyễn-Văn-Hay; ÐÐT/ÐÐ 3: Trung-úy Nguyễn-Năng-Bảo; ÐÐT/ÐÐ 4: Trung-úy Ngô-Văn-Ðịnh; ÐÐT/ÐÐ Chỉ-huy và Công-vụ: Ðại-úy Nguyễn-Văn-Khải.

Vì chỉ có năm trực-thăng H-21 để chuyển quân nên tiểu-đoàn 2 TQLC lập kế-hoạch hành-quân trực-thăng-vận với mỗi đợt là một đại-đội theo thứ tự sau (xem sơ-đồ 3):

. Ðại-đội 4 sẽ xuống bãi đáp Alpha cách chi-khu khoảng 3 cây-số về phía nam.

. Ðại-đội 3 xuống bãi đáp Bravo bên phải và cách đại-đội 4 khoảng  một cây-số.

. Bộ Chỉ-huy tiểu-đoàn và đại-đội 2 sẽ xuống bãi đáp Charlie.

. Ðại-đội 1 đổ quân gần chi-khu.

9 giờ sáng ngày 10.9.1965, đại-đội 4 được trực-thăng đổ xuống bãi đáp Alpha an toàn. Bãi đáp là một cánh đồng ngập nước. Khoảng một giờ sau, đại-đội 3 (trừ một trung đội do quân-đoàn giữ lại với mục-đích đưa vào nơi phi-cơ khu-trục AD-6 bị bắn rơi trước đó tại phía Bắc chi-khu) trực-thăng-vận xuống bãi đáp Bravo. Vừa đổ quân xong là chạm địch. Vì ở địa thế trống trải bất lợi, nhiều nơi tầm nước gần đến thắt lưng, đại-đội 3 bị cầm chân ngay tại chỗ. Pháo binh với các đại-bác 75 ly đóng tại An-Xuyên nên khu-vực Ðầm Dơi nằm ngoài tầm yểm-trợ.

Ðược tin chạm địch nặng, Bộ Tư-lệnh hành-quân trả lại trung-đội cho đại-đội 3. Trung-đội nầy tiếp tục được trực-thăng đổ xuống phía bên phải bãi đáp Bravo. Trận đánh kéo dài đến tối, cả hai đại-đội 3 và 4 mới chiếm được mục-tiêu. Tuy nhiên vẫn còn một số VC kẹt giữa vị-trí của hai đại-đội.

Ngay sau khi hai đại-đội 3 và 4 được trực-thăng-vận vào các bãi đáp Alpha và Bravo

thì Bộ Chỉ-huy tiểu-đoàn cùng hai đại-đội 1 và 2 cũng được đổ xuống các vị-trí đã định theo lệnh hành-quân. Bộ Chỉ-huy tiểu-đoàn và đại-đội 2 đóng quân qua đêm tại bãi đáp Charlie. Ðại-đội 1 tiến quân vào phòng-thủ chi-khu. Ðịch quân đã rút lui từ sáng sớm.

Sáng ngày 11.9, Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn và đại-đội 2 tiến dọc theo bờ sông đến vị-trí của hai đại-đội 3 và 4. Ðại-đội 2 tiếp tục lục soát khu vực chạm địch ngày hôm trước. Cuộc hành-quân chấm dứt vào buổi chiều cùng ngày. Sáng hôm sau, tiểu-đoàn di-chuyển băng đồng về Cà Mau. Sau đó tiểu-đoàn tham dự một cuộc diễn-hành do quân-đoàn tổ-chức tại Cần-Thơ và ngày hôm sau thì trở về hậu cứ tại Thủ Ðức. Khi về đến Sài Gòn, Ðại úy Nguyễn Thành Yên, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 TQLC đã được Tổng thống Ngô-Ðình-Diệm gọi vào dinh Ðộc-Lập để khen thưởng, trường-hợp hiếm thấy cho cấp tiểu-đoàn-trưởng lúc bấy giờ.

 

  1. Hậu-Quả

 

Ðại-đội 3 thuộc tiểu-đoàn 2 TQLC là đơn-vị bị thiệt-hại nặng nhất trong trận đánh với 14 binh-sĩ tử trận và 43 người khác bị thương kể cả ba sĩ-quan trung-đội-trưởng. Phía VC có 34 cán binh bỏ xác tại trận. TQLC tịch thu được 34 vũ-khí cá-nhân, 3 đại-liên, 1 đại-bác không giật cùng nhiều đạn dược (2).

Thông-cáo chính thức của chính-phủ VNCH ngày 12.9.1965 ghi nhận có 122 VC bị hạ. QLVNCH tịch thu được đại-bác, súng cối và nhiều vũ-khí khác (3).

Trong khi đó, CS cũng không chịu kém khi đưa ra hai kết-quả cho cùng một trận đánh.

Kết-quả đầu ghi nhận như sau (4): “Ðêm 9 rạng 10 tháng Chín – Trận tấn công hai chi khu quân sự Ðầm dơi Cái nước – Quân dân Cà Mau tiêu diệt chi khu Cái nước, gồm 1 chỉ huy sở và 10 cứ điểm trong non nửa giờ, tiêu diệt và làm tan rã 260 tên địch, bắn cháy và bắn rơi 2 khu trục, bắn hỏng 6 chiếc khác, thu toàn bộ vũ khí, làm chủ chi khu Cái nước trong 17 giờ. Cùng với trận tấn công vào Cái nước, quân dân Cà Mau còn đánh chi khu Ðầm dơi, tiêu diệt 325 địch, bắn rơi 3 máy bay, làm chủ chi khu Ðầm dơi cho tới chiều 11-9.” (sic)

Kết-quả thứ nhì to lớn hơn vì đây là một quyển lịch-sử kháng-chiến (1): “Trận tấn công Ðầm Dơi – Cái Nước ngày 9 và 10-9-1963, bộ đội chủ lực Quân khu IX và bộ đội địa phương Cà Mau tiêu diệt được hai chi khu, một số đồn bót, ấp chiến lược, loại khỏi vòng chiến đấu 327 tên, trong đó, diệt tên quận trưởng, tên quận phó Ðầm Dơi, bắt sống quận trưởng, quận phó Cái Nước, thu 179 khẩu súng các loại, 23 vô tuyến điện, hai tấn đạn. Phía ta, 60 đồng chí hy sinh, 46 bị thương. Ðây là một chiến công lớn của quân dân Cà Mau, của đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ chiến tranh đặc biệt, phá rã một mảng lớn ấp chiến lược ở tuyến sông Bảy Háp, dọc trục lộ Năm Căn – Cà Mau, giải phóng hàng ngàn gia đình khỏi ách kìm kẹp, mở ra vùng căn cứ liên hoàn hai huyện Ðầm Dơi – Cái Nước. Thắng lợi nầy khẳng định sự trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt của lực lượng vũ trang ba thứ quân và sức mạnh của nhân dân trong phong trào thi đua giết giặc lập công của toàn Khu IX. Ðây cũng là trận cường tập tiêu diệt được chi khu địch đầu tiên của Quân khu IX”.

 

  1. Nhận-Xét

 

Cho rằng kế-hoạch chống Cộng tại miền Nam của Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm đang gặp khó khăn, Tổng-thống Kennedy đã cử một phái-đoàn do Tướng M.D. Taylor, Tham-mưu-trưởng liên quân Mỹ cầm đầu sang thăm viếng Việt-Nam để thẩm định tình hình tại chỗ. Sau khi trở về Mỹ, phái-đoàn đã làm một phúc trình lên tổng-thống. Vì phó đoàn là W.W. Rostow, một nhân-viên thuộc bộ ngoại-giao Mỹ nên bản phúc trình được gọi dưới tên là phúc trình Taylor – Rostow*. Nội dung chính của bản phúc trình nầy đã được Tướng Taylor tóm tắt như sau (5):

. Ðưa cố-vấn Mỹ vào giúp đỡ để cải tiến nền hành-chánh của VNCH.

. Mỹ tổ-chức nghiên-cứu tình-trạng từng tỉnh của miền Nam Việt-Nam.

. Cải tiến việc huấn-luyện và trang-bị cho các lực-lượng Bảo-An và Dân-vệ để chủ-lực quân rảnh tay trong các cuộc hành-quân lưu-động.

Mỹ giúp đỡ VNCH tuần phòng ngăn chận các xâm nhập của CSBV theo đường biển.

. Gửi một lực-lượng chiến-đấu của Mỹ vào miền Nam ngụy-trang dưới hình thức giúp VNCH chống thiên tai bão lụt.

Ngày 15.11.1961, sau cuộc họp của Hội-đồng An-ninh Quốc-gia, Tổng-thống Kennedy đã chấp-thuận hầu hết các đề-nghị của phúc trình Taylor – Rostow ngoại trừ việc đưa quân tác-chiến Mỹ vào miền Nam VN. Nội-dung của chính-sách mới được ấn hành trong nghị-quyết 111 (NSAM 111) ngày 22.11.1961 (6). Ðiểm chủ yếu của nghị-quyết nầy là Mỹ sẽ gia tăng viện-trợ kinh-tế và quân-sự cho VNCH, kể cả việc gia tăng số cố-vấn trên mọi lãnh-vực hầu ngăn chận sự suy đồi của tình hình an-ninh tại miền Nam VN.

Ðể yểm trợ cho việc thi-hành chính-sách mới, Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại Việt-Nam (MACV) được thành-lập ngày 8.2.1962. Năm ngày sau, Ðại-tướng P.D. Harkins đến Sài-Gòn nhậm chức Tư-lệnh MACV thay thế Trung-tướng L.C. McGarr, Trưởng Phái-bộ Cố-vấn Viện-trợ Quân-sự Mỹ (MAAG).

Ngày 19.2.1962, tại hội-nghị quân-sự Honolulu, Hoa-Kỳ quyết-định viện-trợ phi-cơ trực-thăng cho QLVNCH để tổ-chức các cuộc hành-quân tảo trừ phiến loạn.

Ðến tháng 4.1962, hai đại-đội cơ-giới gồm các thiết-vận-xa M-113 thuộc hai sư-đoàn 7 và 21 Bộ-binh bắt đầu hoạt-động.

Với hai loại chiến-cụ mới, di-động-tính của QLVNCH đã được gia tăng một cách vượt bực so với trong chiến-tranh Việt Pháp trước đây. Các cuộc hành-quân do đó được tổ-chức liên tục để càn quét cả những nơi trước đây được xem như an toàn khu của VC. Cùng một lúc chính-phủ VNCH cũng đã đẩy mạnh quốc sách ấp chiến-lược. Trước nguy cơ tan rã của chiến-tranh du-kích, Bộ chính-trị CSBV phải mở một cuộc hội-nghị ngày 6.12.1962 để cứu xét việc đưa lực-lượng vũ-trang xâm nhập vào Nam hầu cứu nguy cho tình thế (7). Năm 1963 tiếp theo do đó là năm mà cả hai phe Quốc Cộng cố-gắng chiếm ưu thế trên chiến-trường. QLVNCH cố-gắng dẹp tan chiến-tranh du-kích với viện-trợ quân-sự của Mỹ trong khi VC với yểm-trợ của CSBV vùng lên để khỏi bị tiêu-diệt. Những trận đánh lớn hơn so với các năm trước đó phải xảy ra và chiến-trường chính là vùng đồng bằng sông Cửu-Long bởi hai lý do.

Ðầu tiên là các đơn-vị chính-qui của CSBV chưa có mặt tại miền Nam và lực-lượng chủ-yếu là VC. VC mạnh hơn tại đồng bằng so với miền núi. Lý do thứ hai là từ khoảng cuối năm 1962, các tàu chở vũ-khí của CSBV xâm nhập vào Nam đều cập bến trong vùng Cà Mau. Quân-dụng và vũ-khí do đó được trang-bị nhanh chóng hơn cho các đơn-vị trong khu-vực nầy. Ngày 11.12.1962, Phương Ðông 1, chuyến tàu đầu tiên chở vũ-khí rời bến Ðồ-Sơn, Hải-Phòng mang theo 30 tấn vũ-khí và cập bến Vàm Lũng, Cà Mau ngày 16.12. Trong vòng hai tháng sau đó, các tàu Phương Ðông 2, 3 và 4 đã vận-chuyển tất cả 111 tấn vũ-khí vào các bến tại Cà Mau (1).

Trên phương-diện chiến-thuật, việc sử-dụng TQLC để hành-quân trong vùng sông rạch là một quyết định đúng của Bộ Tư-lệnh hành quân. Tuy nhiên lệnh hành quân có lẽ đã thiếu sót khi không chú ý đến yếu-tố phi pháo yểm-trợ. Những thành-công từ các cuộc hành-quân diều hâu trong tam thức bộ-binh – thiết-giáp – trực-thăng năm 1962 đã khiến các sĩ-quan Mỹ khinh địch trong khi lập kế-hoạch yểm-trợ hành-quân cho QLVNCH. Một sĩ-quan TQLC tham dự trận đánh đã xác nhận điểm vừa nói khi viết (2): “Bộ Chỉ huy hành quân đã quá chủ quan khi ước tính tình hình và khả năng địch trong vùng hành quân. Hành quân không có hỏa lực pháo binh yểm trợ. Ðịch quân không có ý định chạm trán với ta, bằng chứng là chúng cũng không có hầm hố gì cả, nếu chúng chuẩn bị sẵn để đánh ta thì tôi nghĩ rằng với những khẩu đại liên và đại bác không giật địch đã bắn hủy tất cả những trực thăng khi Ðại đội 3 đến bãi đáp. Và sẽ không còn phương tiện để đưa các đại đội khác đến chiến trường. Về địa thế địch có lợi hơn ta nhiều, chúng ở bờ sông có thế đất cao và được che giấu ta không quan sát thấy, mà chúng thấy ta rất rõ ràng. Ðịch bắt buộc phải nổ súng chẳng qua là vì Ðại đội 3 đổ quân ngay bên hông chúng. Và mục đích làm chậm sức tiến quân của Ðại đội 4 cho đến khi trời tối để chúng rút”. Lỗi lầm tai hại nầy đã đưa đến thất bại tại ấp Bắc vào đầu năm 1963. Cuộc hành-quân trực-thăng-vận thiếu phi pháo yểm trợ đã bị VC chận đứng và gây nhiều thiệt hại. Giai-đoạn nguy hiểm nhất của một cuộc hành-quân trực-thăng-vận là lúc đổ quân khi hỏa lực của địch quân khống chế trận địa. Phi pháo do đó rất cần thiết trong giai-đoạn nầy để quân đổ bộ trực-thăng-vận có thể chiếm lĩnh vị trí thuận lợi trước khi tấn-công vào mục-tiêu.

Ðô-đốc H.D. Felt, Tư-lệnh các lực-lượng của Mỹ trong vùng Thái-Bình-Dương đến VN mấy ngày sau khi trận ấp Bắc xảy ra đã khiển trách Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) khi cho mở một cuộc hành-quân trực-thăng-vận lại không có đủ yểm-trợ của phi-cơ oanh-tạc chiến-thuật. Ông cũng đã yêu cầu Bộ TTM/QLVNCH tự hậu chỉ nên cho lệnh hành-quân trực-thăng-vận khi có oanh-tạc-cơ dọn bãi đổ quân. Yêu cầu nầy rõ ràng đã không được các giới chức quân-sự cao cấp của cả hai phía Việt và Mỹ tôn trọng trong khi hoạch định các cuộc hành-quân kế tiếp mà trận Ðầm Dơi là một thí dụ điển hình. Về phía Mỹ, nhược điểm của chiến-thuật trực-thăng-vận chỉ được nghiên-cứu và xác nhận vào năm 1970 khi kết thúc cuộc hành-quân Lam-Sơn 719 tại Hạ Lào với con số trực-thăng bị bắn hạ và phá hủy lên đến 108 chiếc.

Sáng ngày 10.10, khi không chiếm được chi khu Ðầm Dơi như kế-hoạch đã định, Bộ Chỉ-huy trận đánh của VC phải ra lệnh rút lui. Quyết-định nầy đã được VC xác nhận (1): “Ðến 6 giờ sáng, xét thấy nếu kéo dài thời gian trận đánh sẽ không có lợi, vì rất có thể địch tập trung lực lượng lớn phản kích vào chi khu, đồng chí Nguyễn Ðệ quyết định cho các đơn vị lui quân”. Tiểu-đoàn U Minh hoàn toàn không có kế-hoạch công đồn diệt viện. Chiến-thuật diệt viện đổ bộ đường không chỉ được VC bắt đầu áp-dụng từ năm 1964. Trận đánh với hai đại-đội 3 và 4 TQLC có lẽ chỉ là một trận tao ngộ chiến. Bộ Tư-lệnh quân-khu 9 của VC đã không tuân theo nguyên-tắc hành-quân của họ khi mở chiến-dịch Ðầm Dơi Cái Nước. Chiến-thuật tấn-công căn-cứ quân-sự và đánh quân tổng trừ-bị đến tiếp-viện đã được Tướng Văn-Tiến-Dũng phân-tích (8): “Ðể thực hiện được mục đích của chiến dịch tiến công là tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ của nhân dân, vấn đề cơ bản là phải tích cực tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, bao gồm cả sinh lực và phương tiện chiến tranh, cả quân cơ động và quân chiếm đóng, nhất là quân cơ động của địch … Ðịch thường chia đội quân xâm lược thành hai lực lượng chủ yếu: quân chiếm đóng và quân cơ động. Quân chiếm đóng được bố trí trong hệ thống đồn bót, căn cứ có nhiệm vụ bảo vệ khu vực chúng chiếm đóng, ứng phó với chiến tranh nhân dân của ta ở địa phương, khống chế, kìm kẹp nhân dân, ngăn chận quân ta tiến công vào hậu phương của chúng. Quân cơ động (bao gồm quân cơ động của từng vùng và lực lượng dự bị chiến lược) là lực lượng xung kích, nòng cốt của đội quân xâm lược, được bố trí ở những địa bàn cơ động, có nhiệm vụ tiến hành những cuộc hành quân tiến công và phản công ứng phó với lực lượng chủ lực của ta, bảo vệ và mở rộng khu vực chiếm đóng trên những địa bàn chiến lược quan trọng, ứng cứu những khu vực chiếm đóng bị uy hiếp, v.v. Do đó, khi tiến hành chiến dịch thì đối tượng tác chiến của ta thường bao gồm cả quân chiếm đóng và quân cơ động của địch. Có chiến dịch ngay từ đầu đã có sẵn hai lực lượng đó trên địa bàn chiến dịch. Có chiến dịch, lúc đầu chỉ có quân chiếm đóng, sau đó thì quân cơ động mới được điều đến để ứng cứu. Thông thường, hoạt động của quân cơ động chủ yếu là ở ngoài cứ điểm hoặc cụm thành những vị trí mới, tăng cường công sự để phòng ngự. Việc tiêu diệt quân chiếm đóng có ý nghĩa rất lớn đối với việc phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch và là điều kiện để buộc quân cơ động phải đến ứng cứu. Việc tiêu diệt quân cơ động lại có ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với thắng lợi của chiến dịch, thực sự phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, củng cố và mở rộng kết quả của việc đập tan hệ thống phòng thủ đó, tạo nên những chuyển biến của cục diện có lợi cho ta trên chiến trường. Tiêu diệt quân cơ động là triệt chỗ dựa cuối cùng của quân chiếm đóng, thông thường khi quân cơ động đến ứng cứu bị tiêu diệt thì quân chiếm đóng cũng nhanh chóng mất tinh thần, dễ tan rã, bỏ chạy hoặc bị tiêu diệt. Trong mỗi chiến dịch, lấy loại quân địch nào làm đối tượng tác chiến chủ yếu là phải căn cứ vào tình hình cụ thể. Tuy nhiên một yêu cầu có tính chất quy luật là, trong bất cứ chiến dịch nào ta đều phải xem trọng cả việc tiêu diệt quân cơ động và quân chiếm đóng. Chỉ có như vậy thì mới hoàn thành được toàn diện và triệt để mục đích của chiến dịch”.

Tình báo của CS có lẽ không hay biết được sự hiện diện của tiểu-đoàn 2 TQLC trong vùng. Họ đã phạm phải một lỗi lầm nghiêm trọng trong khi hoạch định cuộc tấn-công vì không để ý hoặc dự phòng sự can thiệp của lực lượng cơ-động của địch. Nếu không thanh toán được quân chiếm đóng thì làm thế nào có đủ khả năng để đánh lại quân cơ động như chiến thuật đã nêu? Một khi đã rơi vào thế lưỡng đầu thọ địch thì thất bại như đã cầm chắc trong tay.

Ðiểm quan-trọng đáng đề cập ở đây là sự lớn mạnh của lực-lượng CS. Từ phong-trào du-kích của năm 1962, họ đã phát-triển đến mức đủ sức đánh bại một cuộc càn quét của nhiều tiểu-đoàn chủ lực quân có trực-thăng và thiết-vận-xa yểm-trợ tại ấp Bắc vào đầu năm 1963. Ðến gần cuối năm, một tiểu-đoàn quân tổng trừ-bị gặp khó khăn tại Ðầm Dơi khi thiếu phi pháo yểm trợ. Ðiểm chủ yếu nầy đã không được Bộ TTM/QLVNCH quan tâm. Lực-lượng tổng trừ-bị là xương sống của một quân-đội, nếu làm suy yếu hoặc đánh bại được các đơn-vị nầy sẽ là một thắng lợi to lớn trên cả hai phương-diện tâm-lý và chiến-lược. Trong toán học, một phương-trình cân bằng 1 = 1, nếu bây giờ cộng thêm 2 chỉ một bên vế trái hoặc phải thì phương trình sẽ trở thành bất đẳng thức 3 > 1. Nói một cách khác là phương-trình mất cân bằng. Áp-dụng vào chiến-thuật, nếu có sự ngang nhau giữa cấp tiểu đoàn thì ném vào một phía của chiến trường thêm hai tiểu-đoàn nữa, người chỉ huy của phía đó có thể đạt được thắng-lợi vì quân-số trung-đoàn trội hơn nhiều so với cấp tiểu-đoàn. Ðó là nguyên-tắc khối-lượng theo Clausewitz (9): “Trong chiến-thuật cũng như trong chiến-lược, trội hơn về số lượng là yếu-tố thông thường nhất để chiến-thắng”. Bá-tước de Jomini, một chiến-lược-gia đồng thời với Clausewitz cũng đồng ý với nguyên-tắc khối-lượng khi đề ra bốn nguyên-tắc của chiến-tranh mà trong đó nguyên-tắc thứ nhì viết (10): “Ðiều động để toàn thể lực-lượng của ta giao chiến với một phần lực-lượng của địch”.

Ðể thấy một cách rõ ràng hơn nguyên tắc chỉ đạo chiến tranh nầy, hãy đọc lại những phân-tích của Mao-Trạch-Ðông (11): “Trong việc điều quân của một chiến dịch, khi địch quân sử dụng nhiều lữ đoàn (hay trung đoàn) và tấn công ta từ nhiều hướng, quân ta phải tập trung tối đa lực lượng – gấp 6, 5, 4 hay ít nhất là 3 lần lực lượng của địch – để tìm cơ hội bao vây và đập tan trước nhất một lữ đoàn (hay trung đoàn). Lữ đoàn nầy phải là lữ đoàn (hay trung đoàn) yếu nhất, hay là một đơn vị được yểm trợ ít nhất hoặc là một đơn vị đang đóng quân tại một nơi mà địa thế và dân tình có lợi cho ta và bất lợi cho địch. Trong việc điều quân của một trận đánh, một khi chúng ta đã tập trung tối đa lực lượng và bao vây được một đơn vị của địch (lữ đoàn hoặc trung đoàn), đội hình tấn công của ta không nên cố gắng tiêu diệt toàn bộ địch quân cùng một lúc vì làm như vậy ta sẽ tự phân tán và không đủ mạnh ở khắp nơi, tốn thì giờ và khó có được kết quả. Thay vì vậy, chúng ta nên tập trung tối đa lực lượng gấp 6, 5, 4 hoặc ít nhất 3 lần quân địch, tập trung tất cả hay phần lớn pháo binh rồi chọn một (chỉ một mà thôi) điểm yếu của địch để tấn công tới tấp cho đến khi thắng lợi. Làm như vậy ta sẽ lần lượt tiêu diệt được từng đơn vị một của địch quân và đạt được chiến thắng”.

Tiêu-chuẩn hành-quân của QLVNCH lúc bấy giờ là cấp tiểu-đoàn. Áp-dụng bội số nhỏ nhất của Mao thì phải cần đến cấp trung-đoàn để thỏa mãn sự ưu thắng về quân-số. Bây giờ nếu lừa được một tiểu-đoàn, dù cho đó là lực-lượng thiện chiến, lọt vào một điều-kiện bất lợi thí dụ như phục-kích đồng thời làm thế nào để tách rời các yểm-trợ phi pháo thì có thể bảo đảm được thắng-lợi. Ðó là tất cả những gì đã xảy ra trong những năm 1964-65. Cuối năm 1964, tiểu đoàn 4 TQLC đã bị trung đoàn Q761 VC phục kích gây thiệt hại nặng. Trận đánh xảy ra trong rừng cao-su Quảng-Giao nên TQLC không nhận được yểm trợ của phi pháo. Ðến tháng 6.1965, tiểu-đoàn 7 Dù lại bị cả trung-đoàn VC phục-kích với tổn-thất khá nặng tại đồn-điền Thuận-Lợi vào một buổi chiều không có phi pháo yểm trợ.

 

 

 

 

 

 

 

 

Tài-liệu tham-khảo

 

  1. Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975,Tập III, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  2. Ð.V. Ngô, Chiến Thắng Ðầm Dơi Ngày 10 tháng 9 năm 1963,Ðặc-San Sóng Thần 45, Trang 238-245, Iowa, 1999.
  3. Ðoàn Thêm, 1945-1964 Việc Từng Ngày, Hai Mươi Năm Qua,Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1966.
  4. Việt Nam Những Sự Kiện 1945-1975, Tập 1 (1945-1964), nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1975.
  5. M.D. Taylor, Swords and Plowshares,Da Capo Press, New York, 1972.
  6. W.C. Gibbons, The U.S. Government and the Vietnam War, Part II: 1961-1966, Princeton University Press, New Jersey, 1986.
  7. L.V. Cao, Chủ-biên,Lịch Sử Việt Nam 1954-1965, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1965.
  8. D.T. Văn, Chiến Tranh Nhân Dân Quốc Phòng Toàn Dân, Tập II, nxb Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, 1979.
  9. C.V. Clausewitz, On War, M Howard & P Paret, Ed. & Trans., Princeton University Press, New Jersey, 1989
  10. A.H. de Jomini, The Art of War,Greenhill Books, London, 1995.
  11. L. Jikun, Mao Zedong’s Art of War, Hai Feng Publishing Co., Hong Kong, 1993.

 

 

 

Trận Hiệp-Hòa

 

 

 

 

Ngày Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm bị lật đổ (1.11.1963) cũng là ngày Cơ-quan Trung-ương Tình-báo Mỹ (CIA) chuyển giao trách-nhiệm tuần phòng biên-giới VN lại cho Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV). Theo chỉ-thị của Tướng P.D. Harkins, Tư-lệnh MACV, Mỹ cho thiết-lập thêm các trại Lực-Lượng Ðặc-Biệt (LLÐB) dọc theo biên-giới. Tuy nhiên do vị-trí xa xôi, hiểm-trở, việc tuyển thu binh-sĩ để trấn đóng các trại LLÐB gặp nhiều khó khăn vì ít người tình nguyện. Một số các sắc dân thiểu-số địa-phương như Katu, Bru lại không chịu hợp-tác. Hậu-quả là nhiều trại LLÐB được thiết-lập nhưng chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn. Trại An-Ðiềm được thiết-lập vào tháng 3.1963 phải đóng cửa ngày 5.2.1965. Trại Kato mở ngày 1.9.1964 phải dẹp ngày 5.2.1965. Trại Aro mở ngày 6.6.1964 đóng ngày 24.4.1965 (1). Ngoài các trở-ngại vừa kể thì một khi chiến-tranh lan rộng, CS có thể tập-trung lực-lượng lớn để bao vây, công hãm thì các trại LLÐB rất khó tồn tại.

Nằm trong kế-hoạch khóa chặt biên-giới, ngăn chận sự xâm nhập từ Bắc vào Nam, trại LLÐB Hiệp-Hòa đã được thành-lập trên địa bàn quận Ðức-Huệ thuộc tỉnh Long-An, sau thuộc tỉnh Hậu-Nghĩa. Trại nằm tại một vị-trí chiến-lược để án ngữ đường xâm nhập của CS từ các mật khu trên đất Cao-Miên như Ba Thu, Mỏ Vẹt, Cánh Thiên Thần vào khu-vực Củ-Chi. Việc thành-lập tỉnh Hậu-Nghĩa cũng nằm trong mục-đích tạo thành vòng đai bảo-vệ an-ninh cho thủ-đô Sài-Gòn. Tỉnh-lỵ Khiêm-Cương chỉ cách Sài-Gòn khoảng 30 cây-số theo đường chim bay.

Tỉnh Hậu-Nghĩa được thành lập theo sắc luật số 120/SL/CP do Tổng thống Ngô-Ðình-Diệm ký ngày 15.10.1963 (2). Tuy nhiên theo một tài-liệu khác thì tỉnh Hậu-Nghĩa được thành-lập bởi sắc lệnh số 124/NV với tỉnh-lỵ là Khiêm-Cương (Bàu Trai cũ) (3). Tài-liệu đầu có lẽ chính xác hơn vì CS cũng cho rằng tỉnh Hậu Nghĩa được thành lập ngày 15.10.1963 (4-5). Có lẽ họ đã căn-cứ vào các tài-liệu tịch thu được của VNCH sau khi chiếm miền Nam.

Tỉnh Hậu-Nghĩa gồm có bốn quận được tách ra từ các tỉnh lân cận: hai quận Ðức-Hòa và Ðức-Huệ thuộc tỉnh Long-An, Trảng-Bàng thuộc tỉnh Tây-Ninh và Củ Chi thuộc tỉnh Bình-Dương (xem sơ-đồ 1). Hậu-Nghĩa nằm về phía tây bắc Sài-Gòn, phía đông giáp giới tỉnh Gia-Ðịnh, phía Tây là Cao-Miên, phía đông bắc là tỉnh Bình Dương, phía tây bắc là tỉnh Tây-Ninh, phía tây nam là tỉnh Kiến-Tường và phía đông nam là tỉnh Long An. Chiều dài từ bắc xuống nam khoảng 43 cây-số, chiều rộng từ đông sang tây khoảng 50 cây-số. Hai quận Ðức-Hòa và Ðức-Huệ có vị thế đất thấp và đầm lầy. Vùng đầm lầy rộng lớn là Ðồng Tháp Mười thuộc quận Ðức-Huệ. Một vùng đầm lầy khác với diện-tích hẹp hơn là Kênh Thầy Cai với bề ngang rộng khoảng 5 dặm nằm giữa Ðức-Hòa, Ðức-Huệ và Trảng-Bàng, Củ Chi. Phía bắc vùng Kênh Thầy Cai thế đất tương đối cao trải dài sang hai tỉnh Bình-Dương và Tây-Ninh. Ðất đai khô ráo quanh năm nên quốc lộ 1 được thiết-lập chạy qua vùng nầy nối liền Sài-Gòn và Nam-Vang. Trên phía bắc hai rừng Hố Bò và Bời Lời chia cắt ranh-giới Hậu-Nghĩa và hai tỉnh Tây-Ninh, Bình-Dương. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Thời gian nóng nhất trong năm là từ tháng 2 đến tháng 4. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1900 mm (6). Diện tích tổng cộng khoảng 1000 dặm vuông với dân số chừng 250 ngàn người (7). Dân chúng có khoảng 40% theo Phật-giáo; 30% theo đạo thờ cúng ông bà; 15% theo đạo Thiên-chúa, đa số là dân di-cư từ miền Bắc và sinh sống dọc theo hai bên quốc lộ 1. Khoảng 10% là tín-đồ đạo Cao-đài. Số còn lại là Tin-lành, Hồi-giáo, v.v.

Nguồn kinh-tế chính của tỉnh Hậu-Nghĩa là canh-nông với diện-tích canh-tác khoảng 47 ngàn héc-ta. Nhà máy đường Hiệp-Hòa nằm trong quận Ðức-Huệ sản-xuất đường cát trắng cung-cấp cho cả miền Nam. Ðồn-điền cao-su Filhol cũng là một nguồn sản-xuất kỹ-nghệ khác của tỉnh Hậu-Nghĩa. Tuy nhiên tất cả các nguồn kinh-tế nầy đã giảm dần khi chiến tranh càng ngày càng lan rộng.

 

  1. Diễn-Tiến

 

Từ tỉnh-lỵ Khiêm-Cương theo tỉnh lộ 10 đi về phía Tây Bắc, đến ngã tư Tân Mỹ quẹo vào Tỉnh lộ 7A rồi theo hướng sông Vàm Cỏ Ðông sẽ đi đến cầu ngã ba, tại đây có lộ tẽ đi vào khu-vực nhà máy đường Hiệp-Hòa. Khoảng giữa nhà máy đường và ngã tư Tân-Mỹ là đồn La Cua và nhà thờ La Cua. Qua khỏi nhà máy đường một đoạn ngắn là chợ Hiệp-Hòa với nhà thờ Hiệp-Hòa, một kiến-trúc tôn-giáo lâu đời nhất của Ðức-Huệ (xem sơ-đồ 2).

Nhà máy đường Hiệp-Hòa tọa lạc tại một khu đất rộng nằm cạnh sông Vàm Cỏ Ðông. Hãng đường có một sân bay dã-chiến dài khoảng 300 mét và bề ngang khoảng 10 mét được trải đá và đất đỏ, vừa sử-dụng để các phi-cơ nhỏ như  Cessna U-3 Blue Canoe, Cessna O-1 Bird Dog (L-19) và De Havilland Canada U-6A Beaver (L-20) lên xuống vừa để xe cộ vào ra hãng đường (xem sơ-đồ 3). Bên cạnh sân bay là trại LLÐB. Ở cuối sân bay là nhà thờ Văn Hiệp do đồng bào Công-giáo dựng lên sau năm 1954 (8).

Trại LLÐB Hiệp-Hòa rộng khoảng một cây-số vuông gồm hai vòng đai phòng thủ. Vòng ngoài là hệ-thống công-sự chiến-đấu bao bọc bởi nhiều lớp kẽm gai. Phía bên trong là một hệ-thống công-sự bằng bê-tông với mỗi cạnh khoảng 100 thước. Trại được yểm-trợ bởi toán A-21 LLÐB do Ðại-úy D. Horne chỉ huy. Quân-số của trại gồm 12 sĩ-quan và binh-sĩ thuộc liên-đoàn 5 LLÐB Mỹ, 195 binh-sĩ và 47 khóa sinh Dân-Sự Chiến-Ðấu (DSCÐ). Phần lớn DSCÐ là người Việt gốc Miên. Hiệp-Hòa cách tỉnh-lỵ Khiêm-Cương khoảng 10 cây-số và cách Sài-Gòn khoảng 40 cây-số theo đường chim bay.

Cuối tháng 10.1963, một số cán binh VC về đầu thú được phép ở ngay trong trại. Ðại-tá G.C. Morton, Chỉ-huy-trưởng LLÐB của MACV trong khi đi thanh-tra các trại LLÐB biết được việc làm nầy đã khiển-trách Ðại-úy Horne và ra lệnh cho các hồi-chánh-viên phải ra tạm trú phía bên ngoài trại. Lệnh của ông không được thi-hành.

Ngày 23.11.1963, Ðại-úy Horne hướng-dẫn một toán tuần tiễu gồm 7 LLÐB Mỹ, 3 LLÐB/VN và 36 DSCÐ ra khỏi trại. Trung-úy J. Colby cùng với 4 LLÐB Mỹ, 9 LLÐB/VN và 206 DSCÐ ở lại để phòng giữ trại. Khuya cùng ngày, với sự nội-tuyến của trung-đội 5* thuộc lực-lượng phòng-thủ trại, VC đột nhập một cách bất ngờ. Lực-lượng của VC sử-dụng trong cuộc tấn-công trại LLÐB Hiệp-Hòa gồm hai đại-đội bộ-binh, một trung-đội công-binh và lực-lượng địa-phương huyện Ðức-Hòa. Tất cả đặt dưới quyền chỉ-huy của Huỳnh Công Thân**, Tỉnh đội trưởng (4).

Chỉ một thời-gian ngắn sau khi nổ súng, Trung-úy Colby nhìn thấy không còn ai chiến-đấu tại tuyến phòng-thủ ở mặt Bắc nên đã chạy vào hầm súng cối, nơi sĩ-quan LLÐB/VN và các binh-sĩ Mỹ đang tác-xạ. Trong khi đó, VC chiếm được ổ súng đại-liên và dùng súng nầy bắn hạ các binh-sĩ đồn trú. Sau đó, các binh-sĩ LLÐB đã chiếm lại được ổ súng nầy. Trước áp-lực càng ngày càng tăng, sĩ-quan LLÐB/VN cùng với Trung-úy Colby và khoảng 30 DSCÐ trốn thoát khỏi trại. Trung-úy Colby do bị thương nên đã lẩn trốn vào ruộng mía cho đến khi được cứu thoát ngày hôm sau.

Ðồng lúc với cuộc đột kích trại LLÐB, VC đã pháo kích vào đơn-vị đang trú đóng tại nhà máy đường Hiệp-Hòa và nhiều nơi tại tỉnh-lỵ để ngăn chận viện binh. Sau đó phi-cơ đến thả hỏa châu và tác-xạ vào các vị-trí nghi ngờ nhưng VC đã rút lui.

Bốn binh-sĩ LLÐB Mỹ bị VC bắt được tại Hiệp-Hòa. VC đã chuyển các binh-sĩ tù binh nầy lên giam giữ tại chiến khu C thuộc tỉnh Tây-Ninh. Khoảng 18 tháng sau ngày bị bắt giữ, một trong bốn binh-sĩ nầy tên là I Camacho đã tìm cách trốn thoát khỏi nơi bị giam giữ. Sau nhiều ngày lẩn trốn, I Camacho về đến làng Minh Thành và được cứu thoát. Ðây là trường-hợp vượt ngục thành-công đầu tiên của một quân-nhân Mỹ trong chiến-tranh VN. Trong ba tù-binh còn lại thì hai người sau đó được trao trả, người thứ ba tên là K.M. Roraback đã bị VC hành-quyết (1).

LLÐB Mỹ chính thức bỏ trại Hiệp-Hòa ngày 31.12.1963.

  1. Hậu-Quả

 

Tài-liệu của CS cho biết họ đã giết được 190 DSCÐ, bắt giữ và làm bị thương 65 DSCÐ khác. Tám cố-vấn Mỹ bị tử thương, bốn người bị bắt giữ. Họ cũng đã ghi nhận chiếm được 400 vũ-khí các loại không kể 8 đại-liên, 6 súng cối 60 và 81 ly cùng với nhiều tấn đạn dược (9). VC đã đốt cháy trại Hiệp-Hòa trước khi rút lui.

Sau khi chiến-tranh chấm dứt, CS đã viết lại trận đánh Hiệp-Hòa như sau (4): “Nhờ trinh sát, điều tra tình hình chu đáo, xây dựng quyết tâm chiến đấu sát thực, công tác bảo đảm được chuẩn bị kỹ lưỡng, chỉ hơn nửa giờ (từ 1 giờ đến 1 giờ 40 phút) đêm 22-11-1963, ta đã làm chủ được mục tiêu, diệt 78 tên địch, bắt làm tù binh gần 100 tên khác, thu 500 khẩu súng các loại (trong đó có 12 súng cối và đại liên, 18 trung liên, 100 tiểu liên, 400 các bin, súng trường tự động, gần bốn tấn đạn các loại cùng nhiều trang dụng, thuốc chữa bệnh). Phía ta, hai đồng chí hy sinh, hai bị thương”.

Trong khi đó, theo phúc-trình của LLÐB Mỹ thì tổn thất tại Hiệp-Hòa gồm (1): 41 DSCÐ bị thiệt mạng và 120 người khác bị thương. 4 LLÐB/VN và 28 DSCÐ bị mất tích. VC bỏ lại 7 xác chết. Phía Mỹ có 4 LLÐB bị mất tích gồm I. Camacho, K.M. Roraback, C. McClure và G.E. Smith.

Ðiểm đáng chú ý ở đây là chỉ trong khoảng 30 năm (1965-1997), các nhà viết sử của CS đã tự ý thay đổi những dữ kiện lịch sử do chính họ viết ra. Từ chiến thắng nhờ nội tuyến, binh vận (9) đã trở thành thắng lợi nhờ trinh-sát, quyết tâm chiến-đấu (4). Sự thật chỉ vì người ‘chiến-sĩ vô danh’ cầm đầu đám nội-tuyến đã bị vắt chanh bỏ vỏ, sống những ngày điên loạn cuối đời tại Bàu Trâu.

 

  1. Nhận-Xét

 

Tổ-chức của các trại LLÐB trong thời-gian mới thành-lập thường lỏng lẻo. Do vị-trí xa xôi, hẻo lánh, thường không nằm trong tầm yểm-trợ của quân bạn cũng như phương-tiện liên lạc với các nơi, công-tác tiếp-vận thường phải dựa vào đường hàng-không. Việc tuyển thu DSCÐ do đó thường gặp nhiều khó khăn. Hậu quả là quân phòng thủ trại thường là một tập hợp rất hỗn-tạp do thu nhận bừa bãi. Một sĩ-quan chỉ-huy toán B thuộc LLÐB Mỹ đã mô tả tổng-quát thành-phần của một trại LLÐB như sau (1): “Một hỗn tạp đàn ông, lao công, chuyên viên cơ-khí, hợp đồng, binh-sĩ, lính đánh thuê, thông-dịch-viên, sĩ-quan, người Thượng, người Nùng, ma cô, ma cạo. Một số yêu nước, một số là can phạm. Tất cả đều ích kỷ. Mọi người đều mạnh bạo. Chỉ có người cứng rắn mới sống còn. Ở đây người ta dùng đến năm ngôn-ngữ khác nhau và đôi khi đến tám. Không có luật pháp mà chỉ có nội-qui của trại và những nội-qui nầy chỉ hiệu-quả như vị trưởng trại. Mỗi người trong trại đều có một mục-tiêu và một kế-hoạch để đạt được cho riêng mình. Trại có khoảng từ 20 đến 40 phụ-nữ để cùng chia xẻ những khó khăn. Một số là thân-nhân, một số có mặt do được mời đến, một số khác ở đây vì không có nhà cửa cũng như bạn bè. Tất cả mọi người đều được trả lương trong chừng mực nào đó. Tất

 

 

cả cũng đều giữ một nhiệm-vụ nào đó trong việc phòng-thủ trại”.

Thành-phần hỗn-tạp khiến CS dễ-dàng xâm nhập để tổ-chức nội tuyến. LLÐB Mỹ cũng biết rõ được hàng ngũ DSCÐ của họ tuy nhiên có lẽ khinh địch nên mới bị đánh úp. Một quân-nhân LLÐB Mỹ đã ghi lại tình-trạng của trại Hiệp-Hòa trước khi trận đánh xảy ra như sau (10): “Một ngày trước lễ Tạ ơn, một trực-thăng mang thư tín vào khiến chúng tôi hay tin toán anh em với chúng tôi, A-21 tại trại Hiệp Hòa đã bị tràn ngập vào tối đêm hôm trước. Tôi vừa mới chuyện trò với một toán viên A-21 trước đó mấy ngày tại Sài-Gòn, anh ta cho tôi biết tình hình tại Hiệp Hòa không khá. Anh ta chê trách toán LLÐB/VN và cho biết tinh-thần DSCÐ rất thấp. Cũng như tình-trạng toán chúng tôi tại Tân Phú, những cấp cao tại bộ chỉ-huy áp lực họ phải tung ra nhiều cuộc hành-quân. Christ, một toán viên A-21 đã nói: chúng tôi chỉ vừa hành quân xong ngày hôm trước là ngày hôm sau họ đã ra lệnh cho chúng tôi kéo dài những cuộc hành-quân với những DSCÐ kém khả-năng. Cục c., chúng tôi biết phân nửa là VC”.

Trong chiến-tranh VN, CS đã phối-hợp hai hình thức đấu-tranh là chính-trị và vũ-trang. Ðấu-tranh chính-trị lại bao gồm ba mũi là địch-vận, binh vận và dân vận. Tất cả được CS gọi chung là hai chân ba mũi. Ðịch vận nhằm lôi cuốn sự ủng hộ của nhân-dân miền Nam và dân-tộc các nước trên thế-giới. Binh vận với mục-đích lung lạc tinh-thần chiến-đấu của QLVNCH, tổ-chức nội-tuyến, kêu gọi đào ngũ, rã ngũ, v.v. Sau cùng là dân vận nhằm kiểm-soát dân chúng trong các vùng do CS chiếm. Mũi đấu tranh chính-trị thứ nhì, binh vận đã được VC khai-thác trong kế-hoạch đánh chiếm trại LLÐB Hiệp-Hòa. Một tài-liệu lịch-sử của CS đã xác nhận mũi binh vận nầy như sau (11): “Trận tiêu diệt căn cứ Hiệp Hòa (huyện Ðức Hòa, Long An) đêm 22 rạng ngày 23-11-1963 là một trận thắng giòn giã do 3 mũi giáp công kết hợp với nhau rất chặt chẽ, trong đó nổi bật lên thành tích của binh vận. Ban binh vận huyện Ðức Hòa phát hiện được dưới danh hiệu trại huấn luyện thanh niên chiến đấu Hiệp Hòa thật sự là một trung tâm huấn luyện biệt kích đồng thời là một căn cứ biệt kích trực tiếp làm nhiệm vụ càn quét đánh phá dọc biên giới Việt – Kampuchia do 12 tên cố vấn Mỹ chỉ huy. Tỉnh ủy cho thành lập một bộ phận theo dõi nghiên cứu gồm các cán bộ tham mưu, cán bộ binh vận tỉnh và huyện và một đảng viên trong xí nghiệp đường Hiệp Hòa. Ta gài được một đảng viên, một đoàn viên và một nồng cốt trong căn cứ. Khi trên quyết định đánh căn cứ nầy, ta hướng dẫn cho mấy anh em nội tuyến trên tìm cách xin được đổi về trung đội làm nhiệm vụ canh gác. Nội tuyến đã cung cấp đầy đủ tình hình địch như quy luật canh gác, sơ đồ vị trí, quân số, vũ khí, đưa trinh sát và đặc công vào ngồi trong lô cốt quan sát, phá trước một số hàng rào. Mở đầu trận đánh, nội tuyến đưa anh em đặc công áp sát đồn và tự tay sử dụng một đại liên của địch ở lô cốt bắn vào toán địch đi tuần. Sau 30 phút chiến đấu, ta tiêu diệt hoàn toàn căn cứ, thu trên 800 súng, bắt được 65 tù binh, giáo dục xong thả tại chỗ”.

Sau khi trại Hiệp-Hòa mất, phúc trình của quân-đội Mỹ cho rằng dân làng, cả ông cố đạo và lực-lượng tự vệ tại Hiệp-Hòa biết trước được cuộc đột kích của VC nhưng giữ im lặng không thông báo cho LLÐB (1). Không ai kiểm chứng được điều nầy, ngoài ra cũng có thể Mỹ vu cáo để có lý do giải thích cho thất-bại. Tiêu hủy cả một trại LLÐB không phải là một việc tầm thường. Mà dù cho có thật đi nữa, thì vẫn không phải là một điều lạ lùng khó hiểu trong chiến-tranh Việt-Nam. Người nông dân VN sống giữa thế gọng kềm, ngày của quốc-gia, đêm thuộc về CS, thì trung-lập, ngậm miệng để được yên thân cày sâu cuốc bẫm. Im-lặng là phương cách duy nhất để sinh tồn giữa chốn loạn ly.

Sự nhẫn-nại chịu đựng của người nông dân VN đã được một quân nhân Mỹ tại trại LLÐB Tân-Phú thuộc tỉnh An-Xuyên ghi lại qua một thí dụ nhỏ như sau (10): “Thực sự việc đắp mô đã do nông dân địa phương làm, có lẽ vì bị bắt buộc. Phản ứng của chúng tôi tại Tân-Phú là đi dọc theo những con đường đó vào ban ngày và bắt nông dân địa phương phá mô. Tội cho những người nông dân phải mất ngủ, ban đêm phải đi đắp mô dưới sự kiểm-soát của VC và đến ban ngày lại phải phá mô cho chúng tôi”.

Ðại-úy S.A. Herrington, một sĩ-quan tình báo Mỹ, dù chỉ phục-vụ tại Hậu-Nghĩa trong một thời gian ngắn nhưng đã mô tả được tình-trạng vừa nói khi viết (12): “Dân làng Việt Nam rất thành thạo trong vai trò của con cắc kè chính trị. Từ đó hầu hết những con số thống kê về sự ủng hộ xuất hiện trên các tài-liệu của cả quốc-gia lẫn VC trên thực tế chỉ là những con số vô nghĩa bắt nguồn từ những hành động của người nông dân để có thể hòa hợp với cả hai phía. Cả hai bên đều có thể phô-trương rằng mình được ủng hộ mạnh-mẽ tại nông thôn căn-cứ trên hành-động của những người nông dân uyển chuyển nhất thế-giới nầy”. Ngoài ra để chắc chắn kiểm-soát được dân chúng, CS gây căm thù, tạo ra đấu tranh giai cấp, đưa đến sự chia rẽ, nghi ngờ lẫn nhau. Ðại-úy Herrington viết tiếp (12): “Tại Hiệp-Hoà, hầu hết dân làng đều biết gia đình nào theo VC và ai là người trong chi bộ đảng. Tuy nhiên không ai có thể chắc chắn tin được người hàng xóm của mình. Mỗi chi bộ đảng của làng đều có các nhân-viên ngành hành-chánh và quân-sự với nhiệm-vụ tuyển thu bộ hạ và cảm tình viên trong làng. Gần như mỗi làng tại VN đều có ít nhất một gián-điệp sẵn sàng báo cáo cho VC tên của người nông dân đã báo cho Mỹ biết về mìn bẫy. Tổ-chức của VC do đó là công cụ chính từ đó họ bảo đảm được sự im lặng tuyệt đối của người dân và sự im lặng nầy đủ để gây ra thất bại cho các nỗ-lực của chúng ta”. Tuy nhiên đây chỉ mới là một khía cạnh của cuộc chiến. Chắc chắn ông không ngờ được rằng ngay trong tỉnh Hậu-Nghĩa mà ông đang phục-vụ, không cách xa Hiệp-Hòa lắm, chỉ cần theo tỉnh lộ 10 đi ngược về phía Tây Bắc đến một vùng mà đa số dân chúng có thân nhân ở phía bên kia thì người ta sẽ thấy được bộ mặt thật của ‘chiến tranh nhân dân’ do CS phát động.

Một sĩ-quan BÐQ hành quân trong vùng đã ghi lại những nét chấm phá của cuộc chiến-tranh nầy như sau (13):

“Vùng Lộc Giang đâu phải chỉ có những thằng du kích. Ở đây, phần lớn những gia đình đều có người tập kết ra Bắc, hoặc thoát ly vô mật khu. Số còn lại, có giấy tờ hợp lệ, thì nằm vùng hoạt động. Các bà già cũng không kém phần nguy hiểm, họ thường là mẹ chiến sĩ. Một trái bí đem cho người khác, trong ruột bí có thể giấu một lá thư liên lạc. Một tấm vải nylon dầu, cũng có thể gửi cho du kích làm võng. Một gói bột ngọt, cũng được chuyển ra bưng. Dưới mọi hình thức sinh hoạt, tưởng chừng đơn sơ nhưng đều làm lợi cho đối phương. Thằng què bán cà rem, hay lân la với lính để nghe ngóng tin tức. Thằng mua bán ve chai, đi xe đạp khắp xóm làng để theo dõi tình hình. Tất cả đều khó tin.

“Chẳng hạn, khi tiểu đội tuần tiễu ngang ấp, gặp ông già ngồi vót nan. Ông già vui vẻ: ‘Chào các chú em. Mời các chú uống nước’. Anh tiểu đội trưởng đáp lời: ‘Cám ơn bác. Chúng cháu phải đi ngay, không ghé được’. Lúc tiểu đội bước qua bên kia hàng tre, thì một loạt súng nổ theo sau lưng. Quay lại truy kích. Chỉ còn thấy bóng dáng ông già phóng như bay biến theo những lũy tre dày đặc. Chỗ ông già ngồi, còn lại manh chiếu rách, cái mác, vài ống tre và những bó nan.

“Lần khác, đơn vị đột kích vào ấp lúc nửa khuya, chạm súng lẻ tẻ với du kích. Khi tiếng súng ngưng, một anh lính đứng gần vách liếp, nghe tiếng bà già từ dưới hầm trong nhà, hỏi vọng lên : ‘Bọn ngụy chạy hết rồi hả con ?’. Biết bà già ngộ nhận anh là du kích, nên cũng trả lời: ‘Dạ, chạy hết rồi’. Hỏi tiếp: ‘Có thằng giặc nào đền tội không?’.

“Thế đó, tiểu đoàn về đây phải chiến đấu với những kẻ không ngờ họ là đối phương. Như thằng Son, một thời theo Việt Cộng, rồi ra chiêu hồi, và được đưa đi cải huấn vài tháng. Nó trở lại Lộc Giang trong tư thế người dân, đầy đủ giấy tờ hợp lệ. Ai cũng gọi tên nó, kèm theo hai tiếng chiêu hồi, như một xác định lý lịch: Son chiêu hồi. Hàng ngày, nó vẫn có mặt ở mấy cái sòng xóc dĩa, đánh bạc ăn thua đủ với lính. Hàng ngày nó vẫn ngồi nhậu với lính, và cãi vã ỏm tỏi nơi cái quán cháo lòng của bà Tư. Thế mà khi đơn vị phục kích đêm, bắn hạ được một tên du kích đang rình mò đặt mìn phá hoại hương lộ 14. Lật mặt lên coi, nó là thằng Son chiêu hồi, bên hông còn đeo hai trái lựu đạn và một khẩu CKC làm tang vật. Lúc ấy, nó mới hiện nguyên hình là Việt Cộng, và chiêu hồi chỉ là hình thức trá hàng để nằm vùng hoạt động”.

Ðây chính là một trong những nguyên-nhân đã khiến CS thành công trong chiến-tranh. Lường gạt những người dân nghèo khó, kém học thức để biến chiến-tranh phiến loạn thành chiến-tranh giải-phóng, kéo dài chiến-tranh chống thực-dân sang chiến-tranh chống đế-quốc. Từ chiến-tranh Ðông-Dương lần thứ nhất, một ký-giả đã ghi lại những khó khăn mà người Pháp phải đối đầu (14): “Quân-đội viễn-chinh không chỉ thiệt mạng hàng loạt trong những xác chiến-xa và xe vận-tải không thôi; họ không thể sống còn nếu không có những phương-tiện ưu thắng khi đối diện với một đối thủ rất linh-hoạt, nguy-hiểm và hiện diện ở khắp nơi, nắm trong tay tất cả mọi thứ, do đó phần lớn những cú đánh (của Pháp) đều rơi vào chân không. Quân-đội Pháp đã mệt mỏi và một hệ-thống rất mãnh-liệt đã giết chết họ. Chiến-tranh không phân biệt giữa vỉa hè của một quán cà-phê hay bờ mẫu của một thửa ruộng, những xóm làng có vẻ thụ-động đã trở thành những pháo đài, một đứa trẻ chăn trâu là kẻ thám thính, những phụ-nữ già cả đi gài mìn, những thợ thuyền biến thành những cán-bộ cao cấp. Ðể bảo-vệ 20 cây số của trục lộ giao-thông, người ta phải dùng đến nhiều tiểu-đoàn, các pháo đội và những xe thiết-giáp để rồi khi chiều xuống, tất cả sẽ rút về phía sau chiến lũy, bỏ không-gian lại cho địch quân. Nếu người ta nghĩ rằng có sự hiện hữu của một chiến-tuyến thì ranh-giới nầy

 

 

ở khắp mọi nơi vì tất cả đều có vẻ đe dọa và nguy hiểm”.

  1. Giltner, một sĩ-quan trung-đội-trưởng thuộc sư-đoàn 25 BB Mỹ, hoạt-động trên địa-bàn hai tỉnh Tây-Ninh và Hậu-Nghĩa, cũng đã ghi lại giống hệt những gì đã xảy ra, hơn mười năm sau khi quân-đội Mỹ can-thiệp vào chiến-trường VN (15): “Ðây là một dấu ấn của chiến-tranh: người ta không thể xác nhận được giữa bạn và thù. Do đó người ta nhìn mọi người với sự nghi ngờ. Kẻ thù ở khắp mọi nơi, bất cứ lúc nào và có thể là bất cứ ai, chúng tôi là ngoại nhân trên đất nước của họ. Chúng tôi xem người dân chỉ là những nông-dân chất phác bị kẹt giữa cuộc xung đột bi thảm mà họ không hiểu được lý do, họ chỉ muốn yên thân để tiếp tục lối sống của tổ tiên trên đồng ruộng của họ. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng hệ-thống tổ-chức của Việt-Cộng tại miền Nam VN là một phần của chốn ruộng đồng nầy. Chúng tôi biết VC sống trong làng xã và tàng trữ vũ-khí, tiếp-liệu và gạo tại đây. Chúng tôi cũng biết rằng những nông-dân thường là du-kích VC hay ít ra cũng đã thu thập tin-tức tình-báo, quan-sát các hoạt-động của Mỹ, tham-gia các cuộc phục-kích, đột-kích, v.v. Không thể nào xác-định được ai là VC, có cảm tình hay đã theo CS”.

Tuy nhiên điểm quan trọng đáng nói hơn ở đây không phải là một thất bại quân-sự, thua một trận đánh không hẳn sẽ thua một cuộc chiến-tranh, mà là chính-sách và chiến-lược.

Ðể đối phó với chiến-tranh do CS phát động khai thác quan-niệm cá và nước thì điều hợp lý nhất, trên nguyên-tắc, là tách cá ra khỏi nước. Tại Ðông Nam Á Châu không phải chỉ có VN mới có chinh chiến do CS phát động, Phi-Luật-Tân và Mã-Lai cũng đã sống trong thảm trạng nầy. Tuy nhiên sự thành-công của chính-phủ Anh trong việc dập tắt phong-trào CS tại Mã-Lai đã được đem áp-dụng tại miền Nam VN bởi hai lý do:

. Người Mỹ muốn thực-hành ngay để có một cơ-sở ổn định và an toàn hầu cung-cấp các tiện nghi lợi ích công cộng như cầu cống, đường xá, bệnh viện, v.v.. Dân chúng trong cộng đồng do đã đóng góp sức sẽ phải bảo-vệ thành quả của mình trước các âm mưu phá-hoại của quân phiến-loạn CS.

. Ông Ngô-Ðình-Nhu qua đó tạo uy thế chính-trị độc đảng hầu chống lại chủ-nghĩa CS.

Ấp chiến-lược, một trong những phương-pháp tiêu diệt chiến-tranh du-kích tại Mã-Lai do đó đã được du nhập vào VN và trở thành quốc sách. Việc phân-tích quốc-sách ấp chiến-lược đã vượt khỏi phạm-vi của bài viết nầy.

Ấp chiến-lược được nhắc đến ở đây vì là một mâu thuẫn của chiến-tranh VN và có liên-quan đến trận Hiệp-Hòa. Gọi đó là một mâu-thuẫn vì cả hai phía quốc-gia và CS đã theo đuổi một mục-tiêu không tưởng với công sức, xương máu của người dân. Có liên quan đến trận Hiệp-Hòa vì mục-tiêu của CS trong năm 1963 là đánh phá các căn-cứ, đồn bót bảo-vệ các ấp chiến-lược, bước đầu trong kế-hoạch phá hoại quốc sách của chính-phủ VNCH.

Về phía quốc-gia, việc dẹp bỏ các ấp chiến-lược sau ngày 1.11.1963 chỉ là chấm

dứt một thất bại của chính-quyền cũ chứ không phải là một sai lầm của chính-quyền

mới như một tác-giả VN nhận định (16). Việc dân chúng bỏ trở về làng cũ ngay sau khi quốc sách cáo chung cũng như sự thay thế ấp chiến-lược bằng ấp tân sinh đã nói lên được điểm chủ yếu. Thế thì tại sao ấp chiến-lược đã được áp-dụng thành-công tại Mã-Lai lại thất bại tại VN?*

Việc du nhập không xét nét kỹ-lưỡng là nguyên-nhân đã đưa đến thất bại. Ðể đánh bại chiến-tranh du-kích thì nguyên-tắc căn-bản là phải tách rời những yểm-trợ của dân chúng cho quân phiến loạn về nhân lực cũng như về vật lực. Ấp chiến-lược chính là một phương-tiện để cắt đứt những yểm trợ vừa nói đồng thời lực-lượng an-ninh sẽ kiểm-soát, sàng lọc bạn hay thù. Tuy nhiên có một số điểm chủ yếu mà chính-phủ VNCH không để ý đến khi áp-dụng:

. Tầm mức rộng lớn của quốc sách. Tại Mã-Lai, ấp chiến-lược chỉ tập-trung ở một số vùng không quá rộng lớn như bao gồm gần khắp lãnh thổ tại miền Nam VN. Tầm mức rộng lớn tại VN khiến việc bảo-vệ an-ninh, một yếu-tố mấu chốt của vấn-đề, không hữu hiệu một khi ấp chiến-lược đã thành hình. Tại Mã-Lai, chính-phủ Anh chỉ phải tập-trung khoảng 423 ngàn Hoa-kiều vào 410 ấp chiến-lược. Trong khi đó, chính-phủ VNCH phải dời cư khoảng 8 triệu dân để thành-lập từ 12 đến 17 ngàn ấp chiến-lược theo kế-hoạch dự trù (17). Kế-hoạch đã vượt khỏi khả-năng của một quốc-gia đang phát-triển (18).

. Tại Mã-Lai, chính-phủ Anh chống lại chiến-tranh du-kích do thiểu-số Hoa-kiều phát động. Việc phân biệt giữa người Hoa và người Mã-Lai bản xứ rất dễ dàng. Ðiều-kiện nầy không đúng cho trường-hợp nước ta vì cả hai phía quốc cộng đều là người VN.

. Ða số các vùng phải dời cư tại Mã-Lai gồm các làng xã (Malay Kampong) của Hoa kiều. Dân tộc tính của người Hoa khiến việc di dân vào các vùng do chính-phủ kiểm-soát không làm cho họ bận tâm mấy. Trong khi đó, việc rời bỏ quê cha đất tổ, ruộng vườn, mồ mả tổ tiên để đi vào ấp chiến-lược thực sự là một đổi đời của người dân Việt. Ðó là chưa kể đến những công-tác tạp dịch, phát-triển cộng đồng, cũng như thiếu sót những giúp đỡ khi dời cư để bắt đầu cuộc sống mới. Viện-trợ Mỹ đổ vào quốc-sách ấp chiến-lược rất nhiều nhưng đến tay người dân thì chả có bao nhiêu.

Một sĩ-quan cao cấp của QLVNCH đã phân tích những khuyết điểm của quốc-sách ấp chiến-lược ngay từ lúc hình thành như sau (19):

“Ðem sang VN, quá sống sượng nó (ấp chiến-lược) trở thành một chính sách ‘không được lòng dân’ của một chính quyền yếu kém cố kiểm soát dân chúng vùng quê, phần lớn là ‘xôi đậu’, đậu nhiều hơn xôi. Giam hãm họ lại trong một khu vực có rào kẽm gai hay tre vót nhọn, xa nơi đồng ruộng mà họ cày sâu cuốc bẫm. Ðến sáng chợt mới để cho họ đến nơi làm lụng đầu tắt mặt tối, không ra đi được từ lúc trời còn mờ tối. Không ai có thể chấp nhận được một nếp sống tù hãm nửa quân nửa dân nằm trong lồng chim, đào hào đắp lũy, canh cánh một cuộc đột kích bất cứ lúc nào dù rằng nói là để đảm bảo an ninh thôn xóm. Tự nhiên nêu lên một viễn ảnh kềm hãm, giam cầm lương dân.

“Cố vấn Ngô Ðình Nhu lúc ban đầu đã từ chối quan điểm xây dựng ‘Ấp Chiến Lược’, chỉ chủ trương tập trung nỗ lực phá hoại để cắt đứt nguồn tiếp tế lương thực và tiếp liệu cho kẻ địch, hơn là tìm đụng độ và tấn kích quân sự. Cho đến khi Hoa Kỳ thấy có thời gian trắc nghiệm chương trình dân sự chiến đấu ở Cao Nguyên, Ấp Chiến Lược cho đồng bằng, để cấp thêm ngân khoản thì lúc đó Ông Nhu mới cho nảy sanh phong trào đổ xô lấy Ấp Chiến Lược làm quốc sách và mở Trung Tâm Huấn Luyện Ấp Chiến Lược ở Thị Nghè, bắt buộc toàn thể công chức, sĩ quan đi thụ huấn. Ðể nói lên quyết tâm của chế độ tiến tới một sự thành công mô tả được vẽ thêm rồng thêm rắn tại đất Mã Lai. Dù vậy, chẳng ai thông suốt được tiêu chuẩn chắc chắn của nó ra làm sao mà dựa theo địa phương này một ít mắm, địa phương kia một ít muối, một phần chương trình Khu Trù Mật, một phần GAMOQ, một phần cứu tế xã hội trước kia, một phần dinh điền thuở nọ, với danh từ gọi là của ‘nhân dân’ nửa thần kỳ, nửa ảo thuật với áo bà ba đen, dép cao su Nhật và phương châm hoạt động mượn nguyên bản của nhóm ‘bôn sơ vích’ ào ạt chen vào các thôn ấp. Nói tóm lại là khác biệt giữa hai quan niệm, giữa hai địa phương với nếp sống và phong thổ dị biệt không được đem ra nghiên cứu kỹ khi soạn thảo kế hoạch Xây Dựng và Phát Triển nầy”.

Sir R. Thompson, người lập ra kế-hoạch ấp chiến-lược tại Mã-Lai và cũng là trưởng phái-đoàn cố-vấn Anh sang giúp đỡ VN đã ghi lại ý kiến của Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm trong một buổi họp như sau (20): “Ấp chiến-lược khiến người Mỹ hài lòng và không làm cho tôi cũng như phía CS bận tâm”. Năm 1963, quốc sách ấp chiến-lược bắt đầu cho thấy những khuyết điểm. Trong một buổi tiếp tân tại tư gia của Ðại-sứ Mỹ tại Sài-Gòn, ông Ngô-Ðình-Nhu đã đề cập đến Sir R. Thompson như là cha đẻ của quốc-sách ấp chiến-lược tại VN. Sir R. Thompson đã trả lời rằng ông lại không nhận ra được các đứa con của mình (20).

Mục đích chủ yếu của ấp chiến-lược là cắt đứt các yểm trợ cho du kích (tách cá ra khỏi nước) đồng thời lực-lượng an ninh sẽ truy tầm tiêu diệt hạ tầng cơ sở của đối phương để bảo-vệ trật tự an-ninh cho ấp chiến-lược. Thế nhưng một cán-bộ cao cấp, nồng cốt của chính-phủ lại không nắm vững được vấn-đề (19): “Bác sĩ Tuyến ‘lý thuyết gia’ của chương trình đã nhiều lần lên lớp thuyết giảng, nhiệm vụ các Ấp Chiến Lược không phải là chống VC xâm nhập mà là phải chạy thoát ra khỏi cuộc đột kích của VC vào thôn ấp, ‘giữ lấy mạng sống, không giữ của cải tiền tài’. (Nguyên văn bài giảng Trung Tâm Huấn Luyện Thị Nghè cuối 1962)”. Như vậy đâu là mục tiêu của ấp chiến-lược ?

Một chi-tiết quan trọng khác nữa là Ðại-tá Phạm-Ngọc-Thảo, thanh-tra quốc-sách ấp chiến-lược lại là một cán-bộ CS trá hình (21). Sau khi chiến-tranh chấm dứt, CSVN đã chính thức truy phong liệt sĩ và cấp bậc Ðại-tá Quân-đội Nhân-dân Việt-Nam cho ông (22).

Trong khi đó vì là quốc-sách của địch nên phía CS phải triệt tiêu bằng mọi cách. Ðây chính là sự mâu-thuẫn. Quốc-sách sai lầm thì không cần đánh cũng sẽ đổ. Có thể nói những năm đầu của thập niên 60, VNCH có một đối-phương quá kém. Chiến-tranh chấm dứt đã lâu nhưng một quyển lịch-sử kháng-chiến, có lẽ vẫn còn bị ru ngủ bởi những quảng cáo tuyên truyền của Bộ thông-tin VNCH trước đây về quốc-sách ấp chiến-lược nên vẫn cố-gắng nhào nặn cho được những hoạt-động phá-hoại thành-công của họ (4):

“Ði đôi với việc tàn phá xóm ấp, quân ngụy khẩn trương xây dựng các trục giao thông, ấp chiến lược Mỹ Hạnh. Ðây là ấp chiến lược rất kiên cố. Chung quanh ấp là bờ tường đất đắp cao, cắm chông dày đặc, tiếp đến là hệ thống hàng rào dây thép gai ba lớp đơn, bùng nhùng và cũi lợn. Ðịch dồn được quá nửa dân số xã Mỹ Hạnh (khoảng 1.500 người) vào ấp chiến lược.

“Cũng như cách làm ở Mỹ Hạnh, địch dồn dân ở 8/10 xã của huyện Ðức Hòa vào ấp chiến lược. Ở Ðức Huệ, địch tập trung củng cố khu ấp chiến lược Quéo Ba xã Mỹ Quý Tây. Ở Bến Lức, chúng xây dựng khu ấp trọng điểm ở Voi Lá, Tán Lông … phát triển ra các địa bàn khác. Riêng ở Cần Giuộc, tất cả các xã đều có ấp chiến lược. Ðến tháng 9.1963, địch lập được 270 ấp chiến lược trên 85 xã của tỉnh Long An. Phần lớn vùng giải phóng của ta giành được từ phong trào đồng khởi bị quân địch lấn chiếm. Ðến đây, quân ngụy thực hiện được một phần mục đích là tách lực lượng cách mạng ra khỏi quần chúng, làm cho bộ đội và du kích lâm vào tình trạng khó khăn. Tỉnh ủy và Ban quân sự tỉnh chỉ đạo các địa phương bám trụ, khẩn trương xây dựng lại các cơ sở bí mật, dùng đại đội cơ động của tỉnh và các đơn vị vũ trang huyện mở các trận tiến công vào một số đồn bót, ấp chiến lược, nhưng không có kết quả. Vì lực lượng vũ trang của tỉnh đột nhập vào ấp chiến lược, giải tán toàn bộ dân vệ, thanh niên chiến đấu, thu vũ khí, vận động nhân dân nổi dậy phá rào, phá bờ tường đất bảo vệ chung quanh, sau đó rút quân, nhưng sáng hôm sau, địch chiếm lại. Tình trạng phá ấp chiến lược kiểu nầy diễn ra ở nhiều địa phương của tỉnh Long An. Tỉnh ủy rút kinh nghiệm, thay đổi phương pháp, đưa cán bộ vào bí mật hoạt động trong ấp, xây dựng lại cơ sở, tổ chức các đội du kích mật, sẵn sàng phối hợp với lực lượng quân sự, chính trị bên ngoài, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào”.

Rõ ràng cả hai phía không đạt được gì cả khi dựng và phá một sản-phẩm được du nhập sai lầm. Ðiều may mắn là ấp chiến lược chỉ tồn tại có vài năm trong khi điều bất hạnh là việc du nhập một chủ nghĩa CS ngoại lai đã tàn phá đất nước một cách lâu dài.

Năm 1963 có ba trận đánh lớn được xem như tiêu biểu cho giai-đoạn chiến-tranh đặc-biệt là Ấp Bắc, Ðầm Dơi và Hiệp-Hòa. Hai trong ba trận nầy có liên-quan đến việc lập và phá ấp chiến-lược. Mâu thuẫn nầy đã được bàn luận ở trên. Cả ba trận đều là thất-bại của VNCH. Chiến-tranh du-kích được CSBV khởi động lại từ năm 1959 rõ ràng đã lớn mạnh mà bằng chứng là họ đã đánh bại cuộc hành quân của nhiều tiểu-đoàn có sự yểm-trợ của trực-thăng và thiết-vận-xa tại ấp Bắc. Sau đó chi khu Cái Nước bị chiếm. Tiểu-đoàn 2 TQLC can-thiệp bất ngờ mới cứu được chi khu Ðầm Dơi. Sau cùng trại LLÐB Hiệp-Hòa với cả một tiểu-đội cố-vấn Mỹ đã bị VC phá tan. Viện-trợ Mỹ càng ngày càng tăng, quân chính-qui CSBV vẫn chưa có mặt tại miền Nam để làm sai lệch cán cân lực-lượng. Thế thì tại sao miền Nam không theo kịp sự lớn mạnh của đối-phương? Lỗi lầm nầy bắt buộc phải đến từ giai-cấp lãnh-đạo.

Chính-sách sử-dụng cán-bộ sai lầm của dinh Ðộc-Lập đã đưa đến thất-bại (23-25). Cuộc đảo-chính của Nhảy Dù năm 1960 là một lời cảnh cáo chế-độ (26). Vị Tổng-thống xuất thân là quan thượng thư triều Nguyễn luôn luôn nêu cao khí khái tiết trực tâm hư đã phản bội lời hứa với quân-đội để tiếp tục đường lối độc tài. Hiểm họa giặc ngoài vẫn chưa đủ làm thức tỉnh Tổng-thống và cố-vấn của ông. Hệ-thống gia đình trị, kỳ-thị tôn-giáo đã tạo thêm thù trong cho chế-độ. Từ cổ chí kim, không một quốc-gia nào lại dùng bạo-lực đàn áp Phật giáo trong đất nước của mình. Ngay cả lịch-sử Việt-Nam cũng cho thấy không có triều-đại nào đã ngược đãi Phật giáo. Thế mà hành-động sai trái trên lại xảy ra trong một chế-độ được mệnh danh là đã khai sáng nền Cộng-Hòa. Với sự sụp đổ của nền Ðệ Nhất Cộng-Hòa và theo thời-gian người ta lại biết thêm rằng trong khi Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm với chính-sách tố Cộng và hình luật 10/59 đặt CS ra ngoài vòng pháp-luật thì ông cố vấn Ngô-Ðình-Nhu lại bí mật tiếp xúc với CS để tính toán việc hòa hợp và hòa giải (27-30). Mặt khác chính-quyền lại lợi-dụng chiêu bài chống Cộng để đàn áp, giam cầm, tra tấn những người quốc-gia bất đồng chính kiến với chế-độ (31, 32). Cuộc cách mạng 1.11.1963 do đó đã nổ ra đúng lúc, đáp ứng được nguyện vọng của người dân, mặc dù có sự khuyến khích của Mỹ (33), để chấm dứt một chế-độ có quá nhiều khuyết điểm. Những diễn biến chính-trị sau đó là đáng tiếc, tuy nhiên đây là diễn biến luôn luôn xảy ra khi một đất nước non trẻ chập chững đi vào tiến trình dân-chủ. Nhìn lại các quốc-gia trong khu-vực Á-Châu Thái-Bình-Dương, nhiều thập niên sau đó và dù không có chiến-tranh, như Thái-Lan, Ðại-Hàn, Mã-Lai, Nam-Dương và Phi-Luật-Tân luôn luôn có những cuộc đảo chính, biến động chính-trị thì người ta sẽ giải thích được một cách dễ-dàng những gì đã xảy ra. Lịch-sử giữ nước của Việt-Nam cũng cho thấy rằng mỗi khi thời thế nhiễu nhương, vận nước suy đồi, đất nước không có một nhà lãnh đạo anh minh, sáng suốt thì đều đưa đến việc mất nước về tay giặc. VNCH ở những thập niên 60, 70 đã rơi vào chu kỳ tuần hoàn của lịch-sử. Tốt thì vững bền, xấu sẽ tàn lụn. Ðất nước không có được một giai cấp lãnh-đạo với đầy đủ khả-năng, dân chúng quá mệt mỏi vì chiến-tranh kéo dài nên không còn thiết tha ủng hộ cho các nỗ-lực chiến-tranh dù là để tự vệ, một đồng-minh chỉ liên kết vì quyền-lợi căn-cứ trên địa hình chính-trị và chiến-lược toàn cầu giai-đoạn; đồng thời lại phải trực diện với một đối thủ dày dạn kinh-nghiệm đấu tranh, sẵn sàng đạt chiến thắng với bất cứ giá nào. Chiến-tranh Việt-Nam do đó đã kết thúc một cách hết sức là thuần lý.

 

 

 

 

 

 

Tài-Liệu Tham-Khảo

 

  1. S.L. Stanton, Green Berets at War, Presidio Press, California, 1990.
  2. L.V. Huỳnh và nhiều người khác, Sơ Lược Tiểu Sử Tỉnh Hậu Nghĩa, Ðặc San Hậu Nghĩa, Số Ra Mắt, Trang 19-21, California, 1999.
  3. Ðoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua – Việc Từng Ngày (1945-1964), nxb Xuân Thu, California.
  4. Bộ Quốc Phòng – Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam,Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975, Tập III, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  5. Trần Văn Giàu và nhiều người khác, Nam Bộ Xưa & Nay, nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1999.
  6. E.M. Bergerud, The Dynamics of Defeat, Westview Press, Oxford, 1993.
  7. S.T. Tôn, Ðôi Dòng Tản Mạn về Tỉnh Nhà, Tài-liệu đã dẫn trên (2), Trang 25-28.
  8. Tài-liệu riêng của cựu Trung-tá Bùi-Văn-Ngô gửi cho tác-giả ngày 5.12.1999.
  9. L.H. Le, D.T. Vuong & S.Q. Nguyen, Ap Bac, Foreign Language Publishing House, Ha Noi, 1965.
  10. L.Wade,Tan Phu, Ballantine Books, New York, 1997.
  11. D.D. Nguyễn,Vận Ðộng Cách Mạng Trong Hàng Ngũ Ðịch, Chung Một Bóng Cờ, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1993.
  12. S.A. Herrington, Silence Was A Weapon, Presidio Press, California, 1982.
  13. C. Lân,Kịp Không, Tài-liệu đã dẫn trên (2), trang 205-209.
  14. J. Roy, La Bataille de Dien Bien Phu,Editions Albin Michel, Paris, 1989.
  15. E.M. Bergerud, Red Thunder Tropic Lighting,Westview Press, Inc., Colorado, 1993.
  16. Võ Minh, Ngô Ðình Diệm – Lời Khen Tiếng Chê, Thông Vũ xuất bản, California, 1998
  17. B.B. Fall, Street Without Joy, Natraj Publishers, India, 1987.
  18. R.O. Tilman, Non-Lessons of the Malayan Emergency,Asian Survey, No. 6, p.416, August 1966.
  19. Vĩnh Lộc, Thư Gửi Người Bạn Mỹ, nxb Ngày Nay, Texas, 1998.
  20. Sir R. Thompson, Make For The Hills, Leo Cooper Ltd., London, 1989.
  21. S. Karnow, Vietnam, Penguin Books Ltd, England, 1984.
  22. N.A. Nguyễn và nhiều người khác, Tài Trí Việt Nam, Tập I, nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
  23. Chính Ðạo chủ-biên, Nhìn Lại Biến Cố 11/11/1960,nxb Văn Hóa, Texas, 1997.
  24. J. Race, War Comes to Long An, University of California Press, California, 1972.
  25. Hoàng Ngọc Thành & Thân Thị Nhân ÐứcNhững Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm; Quang Vinh, Kim Loan & Quang Hiếu xb, California, 1999.
  26. T.T. Hoàng, Cuộc Ðời Tôi 1945-1975, Hồi ký chưa xuất-bản, Oklahoma City, 1995.
  27. Trần Văn Ðôn, Our Endless War Inside Vietnam, Presidio Press, California, 1987.
  28. Hoàng Linh Ðỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Tác giả xuất bản, California, 1987.
  29. Tôn Thất Ðính, 20 Năm Binh Nghiệp, nxb Chánh Ðạo, California, 1999.
  30. Chính Ðạo,Tôn Giáo & Chính Trị – Phật Giáo 1963-1967, nxb Văn Hóa, Texas, 1994.
  31. Cửu Long Lê Trọng Văn, Những Bí-ẩn Lịch-Sử Dưới Chế-Ðộ Ngô Ðình Diệm, nxb Mẹ Việt-Nam, California, 1989.
  32. Hồ Sĩ Khuê, Hồ Chí Minh – Ngô Ðình Diệm và Mặt Trận Giải Phóng, nxb Văn Nghệ, California, 1992.
  33. F. Fitzgerald, Fire in the Lake, Vintage Books, New York, 1972.

 

 

 

Trận Suối Ðá

 

 

 

 

Nói đến Tây Ninh, người ta thường nghĩ ngay đến núi Bà Ðen, đến Toà Thánh, đến đạo Cao Ðài, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ. Tuy nhiên đây chỉ là những ý nghĩ của thời bình, của thời xa xưa cũ. Cũng giống như khi nói đến Châu Ðốc thì người ta thường nghĩ đến Thất Sơn, đến Vía Bà. Mấy ai biết được những trận đánh khốc liệt giữa hai bên để chiếm cho bằng được núi Bà Ðen hay núi Cô Tô.

Từ tỉnh lỵ Tây Ninh chỉ cần đi khoảng 40 cây số là đã đến biên giới Việt Miên. Từ vùng biên giới này chạy dài lên đến Mimốt trên đất Miên là nơi đặt trụ sở của Trung ương cục Miền Nam hay Cục R. Vùng biên giới phía tây của quốc lộ 22, gần Tà Nốt là khu vực trú chân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Chếch về phía nam Tà Nốt, chạy dài từ Bến Rạ đến Xóm Giữa là nơi hoạt động của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (1) (xem sơ đồ 1). Ðây là vùng đất dữ như một sĩ quan của QLVNCH đã viết (2): “Khi chiến tranh chưa bùng lớn, nhu cầu chiến thuật chưa đòi hỏi phải thành lập thêm tỉnh Hậu Nghĩa; Tây Ninh bắt đầu từ Trảng Bàng với những hàng cây thốt nốt cao vút và những tô bánh canh lòng heo nổi tiếng. Rồi Tây Ninh phải đứt ruột cắt Trảng Bàng cho Hậu Nghĩa, để chỉ còn lại bốn quận Hiếu Thiện, Khiêm Hanh, Bến Cầu và Châu Thành. Từ Gò Dầu Hạ rẽ vào con đường đất đỏ bên phải qua Suối Cao, căn cứ Ðinh Bộ Lĩnh đến Khiêm Hanh; tiếp tục đi nữa sẽ tới Truông Mít, Ngã Ba Ðất Sét; từ đó nếu rẽ phải qua suối Ông Hùng, Bến Củi, Cổng Ðen đến Dầu Tiếng; nếu đi thẳng sẽ băng ngang một rừng cao su hun hút vắng tanh đến cầu Khởi, đồn Bắc Tiến rà Chà Là; tại đây, nếu quẹo phải sẽ lên suối Ðá, núi Bà Ðen; nếu đi thẳng sẽ về Long Hoa, Toà Thánh. Cũng từ Gò Dầu Hạ, nếu quẹo trái theo quốc lộ I sẽ lên Trà Cao, Gò Dầu Thượng tiếp tục qua biên giới. Suốt một dọc dài mút mù bên trái giòng sông Vàm Cỏ là những bưng biền xa tắp dẫn đến các mật khu Ba Thu, Mỏ Vẹt. Các căn cứ Trà Cú, Bến Kéo như một hành lang thép bảo vệ thủy lộ dẫn về Tây Ninh. Từ châu thành Tây Ninh, qua chiếc cầu nhỏ phân chia khu hành chánh và khu thương mại, nếu quẹo phải sẽ qua Cầy Xiên, Trảng Sụp, Trại Bí; nếu đi thẳng băng ngang con phố chính, đường sẽ nhỏ lại và dẫn đến Trảng Lớn, Cao Xá, qua bến phà Phước Tân và đi lên nữa. Tất cả các ngả đường này đều dẫn đến vùng núi rừng biên giới với một dọc các căn cứ biên phòng heo hút và bất an: Thiện Ngôn, Bạch Ðằng, Lạc Long, Hưng Ðạo. Tây Ninh chỉ có vậy, mỗi địa danh tôi nhắc tên đến đều đã có lần, hay nhiều lần, là bãi chiến trường. Chốn địa đầu giới tuyến này phải thường xuyên đối phó với một lực lượng đối phương lúc nào cũng rình rập ở các an toàn khu bên kia biên giới. Tây Ninh có nhiều mật khu với một lực lượng xâm lược hùng hậu cùng một hệ thống tiếp tế, tiếp liệu được tổ chức hoàn chỉnh và qui mô. Tây Ninh như một cái gai chiến lược cần phải xoá đi và đã nhiều lần phải hứng chịu những trận đòn thù trí mạng trong sách lược xâm lăng của đối phương nên nó phải trải mình ra chống đỡ, phải đổ máu ra để sống còn, để bảo vệ cho từng người dân, từng tấc đất của tổ quốc, của quê hương”.

Với CS, đây là chiến khu Dương Minh Châu, thường được báo chí trong và ngoài nước gọi lầm là chiến khu C (3): “Lật bản đồ Tây Ninh ra, ta thấy ngay chiến khu Dương Minh Châu là vùng rừng thưa, cây tạp và thấp khởi đầu từ xã Ðôn Thuận quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh, dọc theo sông Sài gòn chạy lên Sóc Lào, Bà Nhả, Bến Củi rồi rẽ vào sông Bà Hảo (một nhánh của sông Sài gòn bên bờ hữu ngạn), lấy sông Bà Hảo làm ranh giới chạy ngược lên Trại Ðèn, Tha La, cầu Cần Ðăng (nằm trên lộ đá đỏ Sóc Ông Trăng – Bổ Túc – Kà Tum – Cầu Cần Ðăng – Trại Bí). Vùng rừng núi nằm phía hữu ngạn của sông Sài gòn từ Ðôn Thuận chạy dài lên Bà Hảo, cho đến hữu ngạn của sông Tha La (tức ngọn sông Bà Hảo) đến Cần Ðăng, đó là chiến khu Dương Minh Châu”.

Những đường giao liên trong chiến khu này đã được một sĩ quan pháo binh của VC vạch rõ như sau (4): “Từ trường đoàn phải ra lộ Thống Nhất là con đường giao liên của T14. Ðến ngã ba rẽ về phía mặt trời lặn đi thẳng đụng cầu Suối Dây, qua cầu đi tiếp đụng cầu suối Tha La rồi ra đường đá đỏ. Ðó là tỉnh lộ 4. Ði luôn về phía nam về hướng núi Bà Ðen thì đụng ấp chiến lược Khe Don gần bót Suối Ðá. Còn đi lên hướng bắc là đến Kà Tum rồi vòng qua đồn Bổ Túc. Từ đó đi theo con đường mòn chừng hai cây số là đến lộ ủi Trần Lệ Xuân… Ði trên đường lộ ủi sẽ đụng suối Sóc Ky. Ở đây có một xóm nhà chừng chục rưỡi nóc của dân đánh xe bò chuyên môn tải gạo cho hậu cần R – cũng gọi là Xóm Mới. Huyện ủy Tân Biên của bà Út Tức bám trụ ở đây. Từ Xóm Mới đi hết lộ ủi sẽ đụng đường đá xanh: Ðó là quốc lộ 22 chạy thẳng lên Xa Mách ngã ba Sóc Xoài, là biên giới Việt Miên. Gần ngã ba quốc lộ 22 với lộ ủi, về phía bắc có một cây cầu bắc ngang qua suối Sóc Ky gọi là cầu Cần Ðăng. Cầu này bị máy bay Mỹ bỏ bom sập xuống suối. Mỹ tưởng như vậy là đã cắt đường gân chính của CS nhưng chúng không ngờ xe bò vẫn qua lại như thường hằng đêm hết đoàn này đến đoàn khác bằng con đường mòn hai bên móng cầu xuyên qua lòng suối cạn có lúc không có nước. Ngoài ra những người đi xe đạp có thể vác xe đi trên thành cầu không khó khăn lắm. Từ ngã ba này ra tới ấp chiến lược Trại Bí chừng 10 cây số. Gần đó là ấp Mỏ Công. Qua ấp này chỉ một quãng ngắn là đến thị xã Tây Ninh. Tóm lại đường chim bay đo từ trường pháo binh của chúng tôi đến thị xã không đầy 30 cây số… cũng như Củ Chi cách Sài gòn 20 cây số”.

Cũng nằm trong chiến khu này, Suối Ðá là trạm giao liên chủ yếu của đường mòn

 

Hồ Chí Minh. Nơi gặp gỡ của các cán bộ nằm vùng từ vùng tề ra và các cán bộ Mùa Thu, tập kết từ Bắc về (3): “Ðến giữa năm 60, việc đưa Nguyễn Hữu Thọ ra làm chủ tịch Mặt Trận vẫn chưa thành, Trung ương cục Miền Nam bèn dự định chọn bác sĩ Phùng Văn Cung. Sứ giả được tung ra, đi mời những đại biểu được vận động trước và chọn sẵn về dự buổi họp tại căn cứ giữa rừng sâu, gần cầu Cần Ðăng, trên đường đá đỏ Trà Băng – Trại Bí – Xóm Mới – Bổ Túc – Sóc Ông Trang thuộc tỉnh Tây Ninh, cách biên giới Việt Miên khoảng 7 cây số ngàn. Nhưng… vào một sáng tháng mười năm 1960, trạm giao liên Suối Ðá của ‘đường dây Ông Cụ’ (tức đường giao liên đưa cán bộ từ Bắc vào Nam) tiếp nhận hai người khách đặc biệt cùng một đại đội theo bảo vệ. Họ đi từ phía sông Ðồng Nai, vượt qua đồi Bù Cháp, đồi Tam Cấp đến… Hai người khách được một đại đội hộ tống sáng hôm đó là Nguyễn Hữu Thọ và Trần Bửu Kiếm”.

Ðể theo dõi và ngăn chặn các hoạt động của CS tại vùng biên giới Việt Miên và chiến khu Dương Minh Châu, hai trại Lực lượng Ðặc biệt Trảng Sụp và Suối Ðá được thiết lập vào khoảng đầu năm 1964. Trại Trảng Sụp nằm sát cạnh tỉnh lỵ, trong khi trại Suối Ðá cách Tây Ninh khoảng 20 cây số về phía đông bắc. Quân số của trại Suối Ðá khá đông, gồm 3 đại đội Dân sự Chiến đấu Việt, 3 đại đội Dân sự Chiến đấu Miên và 2 đại đội Dân sự Chiến đấu Thượng.

Nằm trong kế hoạch phát động chiến tranh lên một cấp cao hơn, mục tiêu đầu của CS sẽ là nhổ bỏ các trại LLÐB nhằm mở rộng các đường xâm nhập và tiếp liệu. Trung đoàn chủ lực miền Q-765 VC đã được lệnh tiêu diệt trại LLÐB Suối Ðá.

 

  1. Diễn Tiến

 

Do tin tức tình báo, quân lực VNCH đã phát giác được sự hiện diện của trung đoàn VC tại đồng Bà Chánh nằm về phía bắc trại Suối Ðá. Một cuộc hành quân truy lùng được tổ chức với thành phần tham dự gồm các lực lượng rút ra từ hai trại LLÐB Trảng Sụp và Suối Ðá.

Cuộc hành quân khai diễn ngày 14.5.1965. Cánh quân đầu tiên phát xuất từ trại Suối Ðá tiến dọc theo kinh Sanh Ðôi đi về hướng bắc. Do nghi ngờ có phục kích, cánh quân này đã dừng lại tại Bầu Cối ở khoảng giữa Suối Ðá và đồng Bà Chánh. Thấy kế hoạch bị lộ, VC phải lộ mặt chiến đấu. Cánh quân VNCH nhờ đó tránh được những thiệt hại nặng nề.

Ngày hôm sau, cánh quân thứ nhì tiến theo trục lộ phía tây với mục đích tạo thế gọng kềm để áp đảo địch. Ðơn vị này đã tịch thu được nhiều tiền VNCH và khoảng 100 nón sắt của Trung Cộng (5). VC sau đó đã phản công. Trận chiến kéo dài suốt đêm. Ðến 16 giờ ngày kế tiếp, cánh quân VNCH này mất liên lạc với bộ chỉ huy hành quân (Toán B-16 LLÐB). Ngày 17.5, khoảng 40 binh sĩ sống sót của cánh quân thứ nhì lác đác trở về trại Suối Ðá.

Thất bại này cho thấy tầm mức quan trọng của chiến trường đã vượt khỏi khả năng của hai trại LLÐB trong vùng. Thiếu tá Phạm Văn Phú, Liên đoàn trưởng Liên đoàn

 

77 LLÐB đã đến Tây Ninh để thẩm định tình hình đồng thời lập kế hoạch phản công.

Lực lượng tham dự cuộc hành quân lần này gồm tiểu đoàn 33 Biệt động quân, LLÐB thuộc hai trại Trảng Sụp và Suối Ðá, một tiểu đoàn Ðịa phương quân thuộc tiểu khu Tây Ninh và một chi đoàn thiết vận xa.

Ngày 19.5, lực lượng hành quân tạo thành hình cánh cung để tảo thanh ngược về phía bắc. VC tránh né đụng độ với mục đích nhử quân VNCH tiến sâu vào bẫy, nơi họ đã lập sẵn công sự chiến đấu để tiêu diệt. Tuy nhiên VC đã khai hoả với cường độ dữ dội khi trực thăng của Thiếu tá Phú đáp xuống gần cánh quân LLÐB. Cuộc chiến sau đó trở nên khốc liệt. Ðôi lúc hai bên phải đánh cận chiến. Một tấm gương hy sinh tiêu biểu của người chiến binh quân lực VNCH đã được ghi lại như sau (5): “Ðó là trường hợp người anh hùng Mũ Xanh LLÐB, hạ sĩ Huỳnh Báu, khi phải trực diện với 6 tên VC sử dụng AK và lưỡi lê cùng nhào tới anh một lúc. Anh đã thúc thủ trước hoàn cảnh bất công, tàn nhẫn này. Nhưng hành động và quyết định sau cùng của anh đã cứu được những bạn đồng đội khác và làm cho quân thù khiếp sợ. Người lính anh hùng trong thế cùng, đã mở kíp lựu đạn cầm sẵn nơi tay. Lúc những tên VC cùng nhào tới, trái lựu đạn nổ, xác anh và những xác địch cùng tung lên một lượt. Ðó cũng không phải là trường hợp duy nhất qua các màn cận chiến trong trận Suối Ðá. Ba chiến sĩ Biệt kích và Biệt động quân anh hùng khác cũng đã hy sinh tương tự như vậy.”

Sau khoảng hai giờ chiến đấu, VC yếu thế dần nên tìm cách rút lui chạy về phía bắc. Do đã tiên liệu từ trước, pháo binh và không quân đã đánh phủ chụp vào hướng rút lui gây thêm nhiều thiệt hại cho tàn quân VC.

 

  1. Hậu Quả

 

Trong khi tiến vào vùng Bầu Cối để lục soát đồng thời thu nhặt xác các Dân sự Chiến đấu bị thiệt mạng từ trước, các binh sĩ Quân lực VNCH đã tìm thấy rất nhiều mồ chôn tập thể các cán binh VC. Tổng cộng có khoảng 200 VC bị chết trong đó 83 xác đếm được tại chiến trường (5). Khoảng 100 vũ khí các loại của CS đã bị tịch thu.

Trên thực tế, trận đánh đã xảy ra tại vùng Bầu Cối, tuy nhiên vì cuộc hành quân bắt đầu từ trại Suối Ðá cũng như việc Trung tướng Trần Ngọc Tám, Tư lệnh Quân đoàn III đã gắn huy chương cho các quân nhân hữu công tại trại Suối Ðá nên báo chí đã gọi trận đánh tại Bầu Cối là trận Suối Ðá.

 

  1. Nhận Xét

 

Có hai điểm chính cần đề cập qua cuộc hành quân tại Suối Ðá. Ðó là việc sử dụng lực lượng Dân sự Chiến đấu trong các cuộc tảo thanh quân CS và vị trí quan trọng của trại Suối Ðá.

Dân sự Chiến đấu trên thực tế chỉ là những đơn vị bán quân sự, được trang bị các vũ khí cũ, kém khả năng so với vũ khí của đối phương. Ban đầu, DSCÐ được Cơ quan Trung ương Tình báo Mỹ (CIA) tổ chức với mục đích hướng dẫn các sắc dân thiểu số chống lại CS. Ðến khi DSCÐ được giao lại cho Bộ binh Mỹ, DSCÐ được tổ chức thành đơn vị nòng cốt cho các trại LLÐB với nhiệm vụ theo dõi và ngăn chặn các hoạt động xâm nhập của CSBV vào Nam. Với mục tiêu và võ trang như vừa nói, DSCÐ thích hợp với các hoạt động phòng thủ hơn là tấn công. Họ rất thành thạo trong các cuộc tuần tiễu vì quen thuộc địa thế, mìn bẫy cũng như dễ dàng phát giác sự xâm nhập và vị trí ẩn náu của địch quân. Tuy nhiên khi sử dụng các đơn vị DSCÐ xa địa bàn hoạt động quen thuộc, đồng thời phải đối đầu với các đơn vị chủ lực của CS, người ta có thể thấy được ngay những nhược điểm. Trận Suối Ðá cho thấy ngay cả các đơn vị chính quy của QLVNCH như Biệt động quân, Lực lượng Ðặc biệt đã phải chiến đấu chật vật với quân CS tại chiến trường mà họ đã lựa chọn. Thất bại của các đại đội DSCÐ tại Bầu Cối do đó là điều hiển nhiên. Tuy nhiên điểm đáng nói ở đây không phải là sự tan rã của một vài đại đội mà là bài học về phương cách sử dụng Dân sự Chiến đấu. Ngày 5.1.1965, 6 đại đội DSCÐ thuộc hai trại Trảng Sụp (toán A-411) và Suối Ðá (toán A-114) lại được sử dụng để hành quân vào chiến khu Dương Minh Châu. Sau một cuộc đụng độ nhỏ, hai đại đội DSCÐ 324 Việt và 326 Miên đã tan hàng bỏ chạy. LLÐB sau đó đã giải tán hai đại đội này (6). Tháng 11.1966, nhiều đại đội DSCÐ từ hai trại Ðức Cơ (toán A-253) và Plei Djeng (toán A-251) được sử dụng trong cuộc hành quân Paul Revere IV tại thung lũng Plei Trap nằm về phía tây Pleiku. DSCÐ phải rút lui khi đụng độ với các đơn vị thuộc trung đoàn 88 CSBV (6).

Về địa thế thì Suối Ðá nằm trên đường giao liên chính của CS tại chiến khu Dương Minh Châu đồng thời không xa núi Bà Ðen, cao điểm duy nhất trong vùng để quan sát các di chuyển của đối phương nên không lạ gì khi đây là vị trí mà hai bên đã cố gắng tranh giành. Trận Suối Ðá năm 1964 là trận đánh lớn đầu tiên của địa danh này trong giai đoạn chiến tranh đặc biệt. Ðến khi quân đội Mỹ can thiệp trực tiếp vào chiến trường VN, khu vực này tiếp tục chịu áp lực thường xuyên của CS. Một sử gia Mỹ viết (6): “Núi Bà Ðen là một chiến trường lạ lùng nhất trong quân sử Mỹ. Ðây là một khối đá hoa cương cao 3000 bộ, đơn độc nổi lên giữa một vùng bằng phẳng. Núi Bà Ðen còn có một núi chị em xa về phía nam, tuy nhiên quân đội Mỹ không đóng tại đó. Hình dạng toàn hảo, đây là một cảnh đẹp hiếm có. Ðứng tại bất cứ nơi nào, người ta cũng có thể trông rõ ngọn núi trong những ngày trời trong nếu tầm mắt không bị che bởi những tàn cây. Toạ lạc tại ranh phía nam của chiến khu C, đỉnh núi dĩ nhiên đã trở thành một vị trí quan sát. Lực lượng Ðặc biệt Mỹ đã thiết lập một vị trí tại đây trước khi sư đoàn 25 đến. Chẳng bao lâu sau khi được gửi đến đây, sư đoàn đã nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ trạm truyền tin, và vùng đất lồi lõm tại chân núi cũng nằm dưới quyền kiểm soát của sư đoàn 25 Bộ binh. Tuy nhiên tại các hang động gần như bất khả xâm phạm trên lưng chừng núi là địch quân. Khó biết được có bao nhiêu địch quân ở tại đây. Mỹ cho rằng hoả tiễn giấu trong các hang để bắn vào các vị trí của sư đoàn 25. Quân Mỹ thỉnh thoảng có những cuộc tuần tiễu. Ðôi khi từ dưới chân núi lên, lúc khác từ phía trên đỉnh núi xuống – và các cuộc tuần tiễu này thường lọt vào các ổ phục kích chết người. Ðịch quân thường xuyên tấn công quân Mỹ trên đỉnh núi tuy nhiên không bao giờ thành công. Kết quả trở thành tình trạng ai ở đâu ở đó. Mỹ giữ đài truyền tin trên đỉnh núi và kiểm soát dưới chân núi. Ở giữa núi là địch quân. Cả hai phía đều có được những gì họ muốn, và cũng đều không muốn bị những thiệt hại to lớn để chiếm lấy những gì của phía bên kia”.

Một quân nhân Mỹ đóng trên đỉnh núi viết (7): “Ban đêm, khung cảnh rất lôi cuốn khi mây không che phủ miền quê phía dưới. Chúng tôi có thể ngắm hoàng hôn và nhìn thấy nhiều trận đánh đang xảy ra dưới chân núi cùng với những cuộc oanh tạc kinh khủng của B-52. Tuy nhiên cũng biết rằng trời tối mang VC đến nên lúc nào trong tâm trí cũng nghĩ đến sự nguy hiểm này. Chúng tôi rất đơn độc và đó là điều khó khăn trên đỉnh núi. Chúng tôi bắt đầu tin rằng sẽ an toàn nếu thám sát phía dưới hơn là cố thủ trong các pháo đài về đêm, cố gắng nhìn xuyên thấu qua những đám mây đang lững lờ ngay phía trước vị trí của chúng tôi.”

Năm 1974, khu vực này lại tiếp tục là nơi xảy ra những trận đánh đẫm máu. Quân đội CSBV tấn công đài tiếp vận truyền tin trên đỉnh núi do một đại đội Ðịa phương quân trấn giữ. Trung đoàn 205 CSBV đánh phá các làng xã dọc theo quốc lộ 13 phía đông bắc Tây Ninh. Sau đó, hai tiểu đoàn 8 và 9 CSBV đánh vào phía tây nam Suối Ða, hai tiểu đoàn D-14 và D-16 cắt đứt đường tiếp viện phía tây nam. Tiểu đoàn 7 thuộc trung đoàn 205 tấn công trại Suối Ðá nhưng bị thất bại phải bỏ lại cả trăm xác cán binh. Trung đoàn 46 sư đoàn 25 BB/QLVNCH trên đường đến giải toả áp lực địch đã bị phục kích cách Suối Ðá ba cây số với thiệt hại nặng.

Trận Suối Ðá của những ngày sắp tàn cuộc chiến đã được một sĩ quân QLVNCH ghi lại như sau (2): “Chuyện bắt đầu từ một đêm tối trăng; đạn bắn rực trời ở Suối Ðá, tiếng reo dậy đất ở Suối Ðá. Tại Trung tâm Hành quân Tiểu khu, máy truyền tin mở hết tần số làm việc. Ðồn Suối Ðá I báo cáo bị tấn công. Ðồn Suối Ðá II báo cáo bị tấn công. Lực lượng hành quân dã ngoại ở gần Suối Ðá báo cáo bị tấn công. Lệnh báo động khẩn cấp được ban bố. Mọi nỗ lực lớn nhất đã được huy động nhưng không có kết quả. Trong một đêm, toàn bộ khu vực Suối Ðá được khoanh đỏ trên bản đồ hành quân: dấu hiệu không còn quân bạn. Chuyện lớn, chiến trường đã vượt quá khả năng điều động và giải quyết của tiểu khu. Sư đoàn 25 tham chiến, Tiểu đoàn X/49 vào trận, không xong, Tiểu đoàn trưởng vĩnh viễn ở lại Suối Ðá. Ngày thứ hai của trận chiến, 2/46 vào trận; ngày thứ ba 1/46 và 2/10 thiết kỵ vào trận. Khúc xương thật khó nuốt nhưng không có cách nào khác. Hồi trước, khó khăn một chút là có người chia sẻ, ới một tiếng là có Mũ Ðỏ Nhảy Dù, Mũ Xanh Thủy Quân Lục Chiến. Bây giờ lực lượng tổng trừ bị đang ghìm súng ở đâu đó tuốt ngoài Trung, Bộ binh thành chủ lực chiến trường, anh em Ðịa phương quân, Nghĩa quân họ đã ới thì phải tới cho dẫu thế nào. Nhiệm vụ thật chết người! Ðánh đám cái gì mà cái bìa làng có bờ đất cao, có hầm hào sâu địch đã chiếm; có ngọn Bà Ðen hiểm trở bên trái địch đã chiếm; còn chút rừng cao su bên phải có thể ẩn nấp, di chuyển được địch cũng đã chiếm. Nó chọn lựa địa thế, chỉ định mục tiêu, lãnh hết mọi phần thuận lợi và chừa cho người lính 25 hai cây số đồng trống để đưa những cái đầu mềm có trái tim cứng cáp một chút ra hứng pháo. Bọn ác ôn khôn như cáo, mỗi lần pháo kích nó đốt khói đầy núi Bà Ðen, phe ta có đưa ống nhòm nhìn nổ con mắt cũng không biết pháo départ chỗ nào mà phản pháo. Còn cái cách nó xung phong nữa, đúng là hù người ta mà, lớp lang bài bản và tàn khốc kinh hồn lắm. Ðầu tiên nó sẽ chơi hoả tiễn SA 7, AT 3 gì đó từ núi Bà Ðen xuống, rồi thổi sơn pháo 85 từ rừng cao su qua, cộng thêm cối 82 cối 61 giã như mưa từ Suối Ðá. Nó chơi từng đứa để quần cho phe ta đừ; chơi đồng loạt để phe ta ngóc đầu không lên rồi nó thổi còi như giặc tới, nó la ó như cháy nhà, ào ra một cái đông như kiến, toàn là thứ áo quần kaki Nam Ðịnh, dân chơi thứ thiệt ‘Sinh Bắc Tử Nam’.

“Suối Ðá dữ như vậy nhưng không sao, chơi thì chơi, bộ bọn qua chưa từng thấy pháo, chưa từng thử sức với chính qui Bắc Việt sao? Mình biết nhau quá mà. Bọn qua không hay ho tài giỏi gì đâu, cũng không có chiến thuật chiến lược tân kỳ mới mẻ gì hết, đơn giản lắm: ‘Ôm bờ mẫu, nằm tại chỗ, tác xạ’. Lệnh chỉ có vậy, vấn đề là có lì, có chịu chơi đủ để thi gan với nhau đến viên đạn cuối cùng hay không mà thôi. Bọn qua đâu có ớn, mấy em lên lẻ tẻ thì chơi M16; mấy em muốn tràn ngập thì xổ đại liên M60; mấy em còn xa thì câu M79; mấy em xáp lại gần thì thảy lựu đạn mini, cỡ nào cũng ôm bờ mẫu. Nói thật tình, hoả lực đối phương áp đảo quá, quân số đối phương áp đảo quá, ớn lắm; ai cũng máu thịt cha sanh mẹ đẻ ra cả chứ có phải mình đồng da sắt gì mà không sợ! Ôm bờ mẫu, được rồi, nhưng sợ dần dà rồi có gan cũng không còn mạng mà tiếp tục cuộc chơi, thực tế như vậy nhưng không sao, Pháo binh đâu có bỏ bạn bè; tất cả các vị trí hoả lực đều hướng về Suối Ðá; tất cả các pháo đội hành quân lưu động đều nhận lệnh kéo về Suối Ðá. Ðạn 105, 155, 175 nổ chụp, chạm nổ và trì hoãn thi nhau hoả tập lên mục tiêu như sét giáng, như trời gầm, mấy thằng em ngóc đầu không lên nhưng chưa hết đâu, ‘phở bò’ ngưng tác xạ giùm đi, có gunship lên thế chỗ cho bạn rồi. Cái đám ‘giặc lái’ thường ngày vẫn thấy bận đồ bay, đeo súng Colt xệ xệ như cao bồi Texas, la cà ở mấy quán cà phê lấy le với mấy em nữ sinh không ngờ gan cùng mình; phòng không của người anh em bắn như đan lưới mà dám lái trực thăng bay là là trên ngọn cây, phóng rocket quả nào quả đó bay ụ súng, tốc nắp hầm, đứng tim bể phổi người ta. ‘Ðầm già’ rời vùng thì bán phản lực A37 sẽ ào tới, phản lực F5 sẽ ào tới. Tiếng rít như xé trời, mảnh bay như vãi cát, mấy thằng em khựng lại hết, dội ra hết, dĩ nhiên là lớp lớp tử Nam. Xin lỗi nghe, đợi khi nào thư thả và thuận tiện, chúng ta sẽ có thể ngồi lại với nhau để cùng nguyền rủa cái kinh tởm, tàn khốc của chiến tranh, còn bây giờ đã chơi thì phải chơi hết mình, mấy em không chết thì bọn qua chết; luật chơi như vậy mà, thông cảm giùm đi, có trách thì trách đám lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ đã lùa mấy em vào đây, còn bọn qua chỉ làm những việc phải làm mà thôi.”

Ngày 6.1.1975, sau hơn một tháng bị bao vây và tuyệt đường tiếp tế, đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 314 Ðịa phương quân phải rút lui khỏi đài truyền tin trên đỉnh núi. Núi Bà Ðen mất về tay giặc nhưng đồn Suối Ðá vẫn đứng vững trước quân thù. Chuyện dũng cảm của người lính VNCH đã được kể lại như sau (2):

“Tôi có nói là tất cả các đơn vị ở Suối Ðá đều mất liên lạc vô tuyến, sự thường điều ấy có nghĩa là tất cả đã thương vong, đã tan hàng thất tán hết. Suối Ðá không giống như vậy. Trong suốt mười bốn ngày đêm của trận chiến vẫn còn một người lính ôm súng ngồi dưới giao thông hào đồn Suối Ðá. Chuyện có vẻ như không tưởng nhưng hoàn toàn có thật. Tôi không biết tên họ, số quân nhưng tôi biết cấp bậc, chức vụ của người chiến sĩ đó. Thiếu úy, Phân chi khu trưởng Suối Ðá. Sự thật, khi đồn Suối Ðá bị tấn công, ấp Suối Ðá bị tràn ngập, người sĩ quan trẻ này còn dưới tay mười một người lính và những người lính thổ địa này biết rành rẽ từng đường ngang ngõ tắt nên hy vọng có thể rút khỏi Suối Ðá an toàn trước khi địch quân củng cố xong vị trí. Không phải anh em muốn bỏ ‘ông thầy’, họ đã thuyết phục: ‘Thầy coi, đồn Suối Ðá I không còn liên lạc được nữa, cả cái ấp này đều nghẹt bọn nó lúc nhúc ngoài kia, một mình mình ở đây tứ đầu thọ địch không chịu nổi nữa rồi, phải di tản và hậu xét, thầy đi với bọn em’. Ðúng, những người lính nói không sai, cái đồn ranh giới cuối cùng này quả đang đứng bên bờ vực thẳm, thẩm quyền nào cũng có quyền ra lệnh di tản trong những điều kiện như thế. Tuy nhiên có một chút gì không ổn, đâu phải điều gì hợp lý cũng đúng, đâu phải cứ không có lỗi theo sự phán xử của đời thường là có thể thanh thản được với chính lương tâm mình. Bài Tiếng gọi quân trường đã bảo: ‘Ðem máu hồng pha mồ hôi giữ non sông này’ mà, dẫu chỉ còn một người lính cũng chứng tỏ sự hiện diện, sự xác nhận chủ quyền lãnh thổ. Không thể bỏ Suối Ðá, bước chân ra khỏi cổng đồn này khác nào một sự phản bội, máu thịt của Tây Ninh sẽ nhỏ lại một tí, gấm hoa của tổ quốc sẽ mòn đi một tí, trách nhiệm ấy thuộc về người chỉ huy. Không thể được, người sĩ quan trẻ nghĩ như thế và anh quyết định ở lại, một mình.

“Thật ra chữ ‘một mình’ tôi dùng có lẽ không được chính xác, nó đúng khi chỉ lực lượng phòng thủ Suối Ðá nhưng nếu kể về số người thực sự có mặt thì không. Người bạn trẻ của chúng ta có hai người ‘khách không mời’: hai tù binh bắt được từ chiều hôm trước, trước khi căn cứ bị vây hãm, chưa kịp giải giao. Người sĩ quan trẻ lo củng cố vị trí phòng thủ: những cái nón sắt được cắm cọc móc nhú lên khỏi bờ đất thoạt trông có thể lầm là có người bố trí kín bưng vòng đai. Người chiến sĩ vô vọng nhưng không tuyệt vọng, anh chạy vòng vòng dưới giao thông hào, chỗ này bắn một loạt M16, chỗ kia xổ một tràng đại liên M60, góc trái sịt một quả signal, cạnh mặt bấm một trái mìn định hướng. Trận địa cũng ì đùng rôm rả lắm nhưng địch quân chắc thừa kinh nghiệm để biết lực lượng phòng thủ không nhiều. Tuy nhiên công đồn chỉ là chuyện phủ, đả viện mới là mục tiêu chính. Con cá Suối Ðá đã thọ thương, đã hết còn khả năng gây tác hại, cứ nằm yên trên thớt đi, muốn thịt lúc nào cũng được, vì thế suốt mười bốn ngày đêm của cuộc chiến không có cuộc tấn công nào nhắm vào căn cứ. Người lính trẻ sống giữa trùng vây quân địch với nỗi cô đơn cùng cực cùng thiên thu giờ khắc của những căng thẳng kinh hồn. Bị tấn công hay không, tính chất bi thảm vẫn không có gì khác nhau. Người lính đã trải qua những giờ phút tưởng không thể trải qua, đã chịu đựng nhưng áp lực vượt quá sức chịu đựng. Như vậy đó, mười bốn ngày đêm. Khi quân bạn vào bắt tay, người lính trẻ như đã già hơn mấy mươi tuổi, anh không đủ động tác hay ngôn ngữ để diễn tả nỗi vui mừng, chỉ đứng yên một chỗ và chảy nước mắt. Không ai có thể diễn tả được hết ý nghĩa những giọt nước mắt của một anh hùng. Tôi đứng nghiêm chào anh, bình sinh tôi vốn dễ cảm động trước những sự việc phi thường, những con người phi thường nên đã nghẹn ngào không nói thành lời, cứ đứng im và cũng chảy nước mắt. Trong cuốn Tâm hồn cao thượng có tả cảnh một đại úy chỉ huy cánh quân bị vây hãm, khi được giải toả vào bệnh viện thăm một em bé liên lạc đã liều mình chạy giữa lằn đạn, hy sinh cả một bàn chân để kịp báo tin kêu quân tiếp viện. Viên đại úy đứng nghiêm chào và khi em bé sửng sốt hỏi lý do, đã trả lời: ‘Ta chỉ là một viên đại uý, em mới thực sự là một anh hùng’”.

 

 

 

 

 

 

 

 

Trận An Lão

 

 

 

 

Tỉnh Bình Ðịnh phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đèo Chương Hoá và đường hầm xe lửa là ranh giới; phía tây là Kontum, toả ra một cao nguyên lớn, kéo dài sang tận Lào; phía nam là tỉnh Phú Yên với rặng núi Cù Mông và phía đông là biển. Bề ngang rộng khoảng 60 cây số. Hai sông An Lão (Lại Giang) và Hà Giao (Mang) đều ngắn nên chỉ tạo nên những thung lũng dài và hẹp nhưng đất tốt, nhiều rừng rậm và dân cư đông đúc.

Vùng đất này xưa kia thuộc nước Chàm. Năm 1470 đời Hồng Ðức nhà Lê, nước ta chiếm được vùng này kể cả khu vực Trà Bồng và đặt tên lại là phủ Qui Nhơn năm 1604. Sau đó vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc xưng là Thái Ðức Hoàng Ðế đóng đô ở Trà Bàn (Chợ Chàm). Cuối thế kỷ 18, nơi đây đã là bãi chiến trường. Trận thủy chiến Thi Nại năm 1794 làm vua Quang Trung bực tức. Một năm sau, thành Qui Nhơn bị quân của Nguyễn ánh bao vây ròng rã suốt ba tháng trời. Năm 1883, vua Gia Long đặt tên tỉnh là Bình Ðịnh.

Thung lũng An Lão nằm giữa vùng đồi núi chập chùng phía tây tỉnh Bình Ðịnh và vùng đồng bằng ven biển ở phía đông. Từ An Lão người ta có thể đổ xuống thung lũng Vĩnh Thạnh rồi đi đến đèo An Khê. Với vị trí địa thế quan trọng như vậy, thung lũng An Lão luôn luôn là mục tiêu tranh chấp giữa quốc gia và cộng sản.

Quân lực VNCH thiết lập chi khu An Lão tại phía bắc sông An Lão và cách Bồng Sơn khoảng 25 cây số về phía tây bắc. Chạy dọc theo sông An Lão là một vùng ruộng đất phì nhiêu, dân cư đông đúc. Thung lũng An Lão được bao bọc bởi hai dãy núi có độ cao từ 500 thước đến 1000 thước.

Chi khu An Lão là một đồn binh cũ của Pháp có tiết diện hình tam giác. Quân số đồn trú tại đây gồm có 1 đại đội Ðịa phương quân với 3 sĩ quan cố vấn Mỹ. Cách chi khu khoảng 1 cây số về phía bắc là cao điểm 193. Ðóng trên cao điểm này là 1 trung đội Pháo binh với 2 đại bác 105 ly. Phía nam chi khu, dọc theo đường đi Bồng Sơn là 3 đồn Ðịa phương quân Vạn Khánh, Hội Long và Mỹ Thuận (xem sơ đồ 1 và 2). Chi khu An Lão cùng với các ấp chiến lược tạo thành một hệ thống phòng thủ dài khoảng 12 cây số, ngăn chặn sự xâm nhập của các lực lượng CS xuống đồng bằng.

Một quyển sách lịch sử của CS đã xác nhận ảnh hưởng chính trị của khu vực này

như sau (1): “Nam Trung bộ lại có đặc điểm nổi bật là trong suốt 9 năm chống Pháp, có một vùng đất tự do mà quân Pháp chưa bao giờ đặt chân tới được, trừ chiến dịch Atlante ở Phú Yên cuối chiến tranh. Vùng này gồm bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên nằm giữa sông Thu Bồn ở phía bắc và đèo Cả ở phía nam, với dân số trên 2 triệu người, có 15 vạn đảng viên làm nòng cốt được xây dựng thành hậu phương trực tiếp rất quan trọng của chiến trường miền Nam suốt thời kháng chiến chống Pháp”.

 

  1. Diễn Tiến

 

Ðể mở đường xâm nhập vùng đồng bằng duyên hải Bình Ðịnh, đồng thời lập thành tích chào mừng “Hội nghị Quốc tế Ðoàn kết với Nhân dân Việt nam chống Mỹ”, VC được lệnh tấn công chi khu An Lão.

Ðể cô lập chi khu này, đêm 6.12.1964, quân CS đã cùng một lúc tấn công cao điểm 193 phía bắc chi khu, đồng thời tấn công các đồn Hội Long, Mỹ Thành, Vạn Khánh ở phía nam. Cao điểm 193 và hai đồn Hội Long, Vạn Khánh bị địch chiếm, tuy nhiên đồn Mỹ Thành vẫn tiếp tục kháng cự. Hai khẩu đại bác trên cao điểm 193 đã được quân phòng thủ phá huỷ để khỏi rơi vào tay địch quân.

Sáng ngày 7.12, quân CS chiếm dần các ngọn đồi chung quanh chi khu. Chiến trường ngày càng trở nên ác liệt. Không quân oanh tạc vùng chung quanh chi khu, tuy nhiên không có kết quả nhiều do thời tiết xấu và hoả lực phòng không của CS.

Ngày hôm sau, sư đoàn 22 BB tổ chức ba cánh quân để giải toả An Lão. Cánh đầu tiên gồm 1 tiểu đoàn được trực thăng vận đến phía đông chi khu. Cánh quân tiếp viện thứ hai dùng đường bộ đi từ Bồng Sơn. Cánh này gồm hai toán. Toán I gồm 6 thiết vận xa và 1 đại đội tùng thiết. Toán II gồm 9 thiết vận xa cùng với 2 đại đội tùng thiết. Cánh quân thứ ba gồm 1 đại đội theo đường mòn từ Hoài Nhơn đi đến giữa hai cứ điểm Vạn Khánh và Hội Long.

Cánh quân thứ nhất chỉ chạm địch nhẹ do trực thăng đổ quân khá xa vị trí của chi khu. Cánh thứ nhì lọt vào ổ phục kích của quân CS nên bị thiệt hại nặng vì các đại bác 75 ly của địch. Hai cố vấn Mỹ của đơn vị này tử trận. Cánh thứ ba trên đường tiến về hướng đồn Hội Long phải dừng lại vì du kích CS đã giật mìn làm sập cầu gần Phước Bình. Chi khu An Lão do đó phải tiếp tục cầm cự đơn độc với sự yểm trợ kém hữu hiệu của không quân. Các trực thăng tản thương không thể đáp xuống chi khu để chuyên chở thương binh.

Ðến ngày 9, các cánh quân tiếp viện bắt đầu đổ về An Lão. Quân đội CS trước tình thế bất lợi nên được lệnh rút lui.

 

  1. Hậu Quả

 

Các tài liệu báo chí Tây phương ghi nhận có khoảng 50 binh sĩ VNCH chết và bị

 

thương tại An Lão. Trong khi đó VC tuyên bố giết và gây thương tích cũng như bắt giữ được 681 người kể cả 5 sĩ quan cố vấn Mỹ (2). Phía VC có khoảng 65 người chết và bị thương.

 

  1. Nhận Xét

 

Năm 1964 là năm có nhiều biến động cả quân sự lẫn chính trị tại Miền Nam VN.

Ngày 2.5.1964, đặc công VC đặt thủy lôi hàng không mẫu hạm chuyên chở trực thăng Card trọng tải 16500 tấn đang đậu tại bến Sài gòn. VC tấn công quận lỵ Ðức Hoà (17.6), trại LLÐB Polei Krong cách Kontum 40 cây số (14.7), trại LLÐB Nam Ðồng, Thừa Thiên (15.7), đồn Hoà Mỹ, Hiệp Hưng, Phong Dinh (17.8), đồn Lương Phước, Kiến Hoà (23.9), Gò Dầu Hạ (11.10), Mỹ Thanh, Bến Cát, Bình Dương (16.10), pháo kích phi trường Biên Hoà (1.11), tấn công các quận Bình Chánh, Gò Ðen, Bến Lức gần Sài gòn (3.11).

Các hoạt động khủng bố cũng gia tăng đáng kể. Mìn nổ tại một quán rượu đường Nguyễn Cư Trinh, Sài gòn (7.2), tại phi trường Tân Sơn Nhất (10.2), rạp chiếu bóng Kinh Ðô (17.2), rạp chiếu bóng Eden (23.8), khách sạn Caravelle (25.8) và câu lạc bộ phi trường Tân Sơn Nhất (18.11).

Trên phương diện chính trị, Trung tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý ngày 7.2.1964. Các Trung tướng Trần Văn Ðôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Ðính và Mai Hữu Xuân bị bắt giữ. Ðến ngày 13.9, Trung tướng Dương Văn Ðức và Thiếu tướng Lâm Văn Phát đảo chính nhưng bất thành. Các cuộc biểu tình chống đối của các tôn giáo và sinh viên tiếp tục diễn ra. Ngày 18.9, 5 trại LLÐB Thượng tại Ban Mê Thuột nổi loạn.

Năm 1964, năm đầu tiên của ba năm xáo trộn đã được một chính trị gia tóm tắt như sau (3): “Ba năm vừa qua chỉ là 3 năm xáo trộn trong khi chúng có thể là 3 năm cách mạng. Một lần nữa, cũng như năm 1954, chúng ta lại đánh mất một cơ hội tìm giải pháp cho những vấn đề căn bản của đất nước. Mà trong lịch sử, những cơ hội không có nhiều. Không ai có thể phủ nhận niềm hứng khởi đã bùng lên rạng ngày mùng 2.11.1963 ngay khi khói lửa chưa tắt hẳn tại Ðô thành. Sáng hôm ấy, lịch sử như dừng bước trước một ngã ba đường, tất cả đều có thể làm được! Nhưng rồi 3 năm qua chúng ta đã không làm được gì cả: bao nhiêu biến đổi thăng trầm, bao nhiêu hy vọng chớm nở rồi héo dần, bao nhiêu phong trào vươn lên rồi sụp đổ. Còn lại cái gì? Còn lại nguyên vẹn những vấn đề của đất nước, từ những vấn đề lụn vụn đến những vấn đề trọng đại, tất cả đều nằm lù lù như những đống rác Ðô thành. Còn lại vấn đề mênh mông bao trùm các vấn đề khác là cuộc chiến tranh mỗi ngày thêm khốc liệt, chồng chất tang thương trên cái hình hài mỗi ngày thêm loang lổ của dân tộc.”

CS không bỏ lỡ cơ hội trước những xáo trộn tại Miền Nam như một quyển sử đã xác nhận. Trong hai ngày 25 và 26.9.1964, bộ Chính trị CSVN họp để đánh giá tình hình và đề ra những nhiệm vụ cấp bách nhằm tranh thủ thời cơ thuận lợi. Ngày 11.10, Quân uỷ Trung ương, bộ Tổng tư lệnh Quân đội CSBV chỉ thị cho các chiến trường mở đợt hoạt động quân sự trên toàn Miền Nam. Kế hoạch tấn công Ðông Xuân gồm hai hướng chính. Tại Miền Nam lấy hướng điểm Long Khánh Bình Tuy hoặc Bình Long Phước Long – Ðường số 14. Ngoài Trung (Khu 5) hoạt động tại cả hai vùng nam Quảng Ngãi và bắc Bình Ðịnh. Tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương được phái vào Nam để trực tiếp chỉ huy chiến trường (4).

Tại Miền Nam, bộ Chỉ huy Quân sự Miền quyết định chọn Bình Giã để mở đầu chiến dịch Ðông Xuân 1964-65. Lực lượng tham dự chiến dịch này lên đến 7000 quân. Cùng lúc với chiến dịch đánh Bình Giã, VC cũng tổ chức tấn công chi khu An Lão. Kết quả trận đánh, CS không thắng thế nên đã rút lui. Phía VNCH thấy không giữ được trước áp lực nặng nề và địa thế phức tạp nên sau cùng cũng bỏ rơi vùng này. Trong nhất thời là tình trạng bất phân thắng bại.

Tuy nhiên trên phương diện chiến lược, đây là một bước ngoặt của chiến tranh VN. Với mục tiêu giành dân lấn đất, quân lực VNCH đang bị động khắp nơi vì phải phân tán lực lượng để bảo vệ lãnh thổ. Trận đánh tại An Lão cho thấy quan niệm phòng thủ cứ điểm do địa thế hẹp của thiên nhiên cũng không hữu hiệu trước sự tấn công của quân CS. Do đó phân tán hay tập trung lực lượng cũng đều không ổn. Tại thời điểm này, phía VNCH lại không đi tìm một chiến lược thích hợp. Với người Mỹ, chỉ có một phương cách duy nhất là oanh tạc miền Bắc và đưa quân Mỹ vào tham chiến trực tiếp tại Miền Nam VN. Ðây chính là đầu mối của sự thất bại trong tương lai dù quân đông và vũ khí tối tân.

Năm 1968, khi mức độ gia tăng quân đội Mỹ tại VN sắp lên đến cực điểm, Mỹ có khoảng 11 sư đoàn và 9 không đoàn chiến thuật. Bên cạnh đó, số sĩ quan và hạ sĩ quan cố vấn Mỹ tương đương cấp số 7 của sư đoàn bộ binh. Gần như toàn thể lực lượng không quân của lục quân Mỹ đã hiện diện tại miền Nam VN. Chưa kể đến gần 3 sư đoàn khác của các nước đồng minh. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ một phần nhỏ của quân số nói trên là lực lượng tác chiến vì hệ thống yểm trợ và tiếp vận quá cồng kềnh của quân đội Mỹ.

Tháng 12.1967, quân số Mỹ tại VN là 473 ngàn người, trong đó lực lượng tác chiến chỉ gồm 90 tiểu đoàn với quân số vào khoảng 50 ngàn. Theo tỉ lệ thì các đơn vị tác chiến chỉ chiếm khoảng 10% tổng số lực lượng, pháo binh và công binh khoảng 12%, không lực khoảng 2%. Phần còn lại khoảng 75% là các bộ Tư lệnh, Chỉ huy và hệ thống tiếp vận (5).

Nhược điểm này của quân đội Mỹ đã được tướng Văn Tiến Dũng phân tích một cách chi  tiết như sau (6): “Trong cuộc chiến tranh thông thường, có trận tuyến rõ ràng, hậu phương trực tiếp ổn định, không có chiến tranh nhân dân phát triển, không có hình thái chiến tranh xen kẽ cài răng lược, hẳn mấy trăm ngàn quân sẽ hình thành được những quả đấm lớn có tính chất quyết định. Nhưng trong tình hình cuộc chiến tranh nhân dân ở Miền Nam lúc đó, 50 vạn quân ngụy đã không làm nổi chuyện gì thì 20 vạn quân Mỹ thật cũng không khác muốn bỏ biển…. Hiện nay 70 vạn quân Mỹ ngụy phải phân tán đóng ở 9 căn cứ của Mỹ và trên 3000 đồn bót của ngụy. Các căn cứ của Mỹ không bao giờ được an toàn cả, đã hút mất của Mỹ một số rất lớn quân chiếm đóng và tuần tiễu, canh gác bảo vệ căn cứ. Vì vậy quân Mỹ vào nhiều nhưng lực lượng cơ động không tăng bao nhiêu. Kể cả lực lượng cơ động chiến lược và lực lượng cơ động của vùng chiến thuật, địch quân cũng chỉ có khoảng 20 đến 25% tổng số quân của chúng (trong cuộc chiến tranh xâm lược đất nước ta trước đây, số quân của Pháp chỉ bằng trên một nửa số quân của Mỹ ngụy, nhưng lực lượng cơ động của Pháp lại gấp đôi lực lượng cơ động của Mỹ ngụy). Ðịch cũng phải kêu là quân cơ động của chúng nhiều khi phải làm nhiệm vụ chiếm đóng và bình định, còn ‘1 trung đoàn của VC thì là một đơn vị cơ động hoàn toàn’. Ðịch muốn tập trung được một lực lượng cơ động lớn hơn nhưng không nổi, vẫn phải phân tán đối phó chung quanh căn cứ và đồn bót của chúng. Rút bớt đồn bót để có thêm quân cơ động thì không kiểm soát được dân, vùng tạm chiếm bị thu hẹp. Ðánh chiếm mở rộng vùng kiểm soát, lại phải dàn mỏng quân, lực lượng cơ động không tăng mà còn giảm. Việc đóng một vị trí hoặc chiếm thêm một vị trí đặt ra cho địch rất nhiều vấn đề phức tạp, quân chiếm đóng, quân ứng chiến, quân càn quét để bình định, pháo chi viện, vấn đề vận tải tiếp tế… Riêng việc giải toả và bảo vệ cách mạch máu giao thông cũng đòi hỏi một lực lượng lớn. Trong khi đó thì chỉ cần vài tiếng súng nổ của quân du kích cũng đủ kìm chân và làm mất ăn mất ngủ hàng trung đội địch. 100 chiến sĩ giải phóng bao vây căn cứ địch có thể buộc địch phải dùng hàng nghìn quân để giữ. Trong cuộc chiến tranh thông thường, quân cơ động đánh chiếm một vùng, tiêu diệt hoặc trục xuất được quân chủ lực của đối phương thì coi như làm chủ được vùng đó. Nhưng ở Miền Nam thì không thể. Quân cơ động địch rút đi thì đâu lại hoàn đó. Thật như đấm vào nước. Nếu ở lại chiếm đóng, bình định thì hết là quân cơ động!”

Một đại tá Mỹ cũng đồng ý với nhận định của tướng Dũng khi viết (7): “Tại VN, trong một trận chiến không giới tuyến, chỉ một điều kiện cần thiết để bảo vệ an ninh cho các căn cứ đã quá to tát. Tại sư đoàn 1 Kỵ binh Không vận, cả một lữ đoàn – 1/3 sư đoàn – chỉ dùng để bảo vệ căn cứ An Khê. Tương tự như vậy, lúc tôi rời Lữ đoàn 1/101 Dù trong tháng 6, một phần ba lực lượng tác chiến bận rộn trong việc bảo vệ căn cứ tại Phan Rang. Với Lữ đoàn 1/101 đây là một việc rất đáng kể. Lúc ban đầu khi chúng tôi mới đến Phan Rang, vùng này gần như không có bóng dáng của VC. Tuy nhiên khi chúng tôi đóng tại đó càng lâu thì địch quân lại tỏ vẻ quan tâm càng nhiều đến vùng này. Lúc tôi rời đơn vị, địch quân thường xuyên phá nổ xe cộ, thỉnh thoảng pháo kích bằng súng cối và bắn sẻ. Gần như do thiết kế, các căn cứ lôi cuốn địch quân và rồi sau đó lực lượng tác chiến của đơn vị bị giảm đi để được sử dụng vào việc chống lại địch quân. Quân số tại tuyến đầu cũng bị hao hụt vì một số cần ở lại căn cứ để phục vụ khi các căn cứ này càng ngày càng bành trướng và đầy đủ tiện nghi hơn. Các căn cứ này cũng làm dao động tinh thần của binh sĩ khi họ rời khỏi bệnh viện hoặc trở lại sau khi hết phép. Họ có thể hưởng thụ trước khi trở lại đơn vị. Chẳng bao lâu các căn cứ này sẽ trở nên nguy hiểm không kém gì địch quân.”

Vũ khí tối tân chỉ là yếu tố cần thiết nhưng không bao giờ là nguyên nhân quyết

định trong một cuộc chiến. Những chiến thắng của quân đội Ðức trong giai đoạn đầu của hai cuộc thế chiến không chỉ đơn giản do vũ khí tối tân mà còn do ở sự hoạch định, giai cấp lãnh đạo, động cơ thúc đẩy cũng như phẩm chất của binh đội. Rồi đến những giai đoạn chót của hai cuộc thế chiến, những vũ khí tối tân cũng không thể giúp nước Ðức lật ngược được thế cờ.

Chiến tranh VN một lần nữa cho thấy rằng vũ khí tối tân không phải là yếu tố duy nhất quyết định cho sự thành bại. Trung tướng B. Palmer, nguyên Tham mưu phó Lục quân Mỹ viết (8): “Nước Mỹ đã quá tự tin khi cho rằng sự siêu đẳng của kỹ thuật, tinh xảo của Mỹ, bộ máy quân sự và kỹ nghệ, tổ chức quân sự hiện đại, chiến thuật, kỹ thuật và truyền thống giải quyết khó khăn trong thời chiến cũng như thời bình chắc chắn sẽ mang lại thành công tại VN, nơi mà người Pháp đã thất bại. Nhiều cấp chỉ huy quân sự Mỹ, kể cả tôi, đã nhìn thấy được những bất lợi nghiêm trọng khi tự giới hạn trong thế phòng thủ và đóng khung các cuộc hành quân trên bộ chỉ trong lãnh thổ của Miền Nam VN. Chúng tôi vẫn tin rằng bằng cách nào đó sẽ tìm được phương cách vượt qua các bất lợi này từ hội chứng ‘bất cứ cái gì cũng làm được’. Tuy nhiên với đa số chúng tôi khi nhìn thấy được rằng thời gian sắp hết thì đã quá muộn.”

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong quyển hồi ký của ông đã nêu ra 11 lý do khiến Mỹ thất bại tại VN. Trong đó nguyên nhân thứ 5 cũng nói lên điểm vừa đề cập (9): “Chúng ta đã thất bại và vẫn còn thất bại khi không nhận chân được giới hạn của quân cụ với kỹ thuật cao cấp, tối tân, lực lượng và học thuyết để đối đầu với hoạt động của các dân tộc có ý chí mạnh mẽ và không qui ước.”

 

 

 

Trận Bình-Giã

 

 

 

 

Bình-Giã là một làng thuộc tỉnh Phước Tuy. Tỉnh Phước-Tuy trước đây mang tên là Bà-Rịa với bốn quận là Ðất Ðỏ, Xuyên Mộc, Long Ðiền và Ðức Thạnh (xem sơ-đồ 1). Ðây là một địa danh lịch-sử lâu đời của Việt-Nam. Bà Rịa là một trong những vùng đất thuộc ba tỉnh miền Ðông Nam Kỳ mà triều-đình Huế phải nhường cho Pháp sau hòa ước Nhâm-Tuất (5.6.1862). Không giống như những tỉnh miền Tây hoàn toàn dựa vào nông nghiệp, Bà Rịa còn có hai ngành hoạt-động chính là đánh cá và làm muối với ba thị-trấn là Long Ðiền, Ðất Ðỏ và Phước Lễ. Các ruộng muối trải dài từ Long Hải đến Vũng Tàu đã cung-cấp muối với phẩm-chất tốt cho nghề đánh cá từ địa-phương cho đến vùng đồng bằng sông Cửu-Long và sang tận Cao-Miên. Ðến năm 1897, cao-su được đưa từ Mã-Lai sang để trồng thử tại đây. Ðất tốt cùng với sản-lượng cao nên từ năm 1938, nước Pháp đã có thể thỏa mãn được nhu-cầu về cao-su khai-thác tại VN.

Bên cạnh đó, cuộc sống kham khổ và những đàn áp dã man trong các đồn-điền cao-su đã khiến phong-trào Cộng-Sản phát-triển mạnh. Những đảng viên CS một thời nổi tiếng gồm Dương Bạch Mai trong ban biên tập báo La Lutte và Võ Thị Sáu, một thiếu-nữ 16 tuổi đã mưu toan ám-sát Tỉnh-trưởng Lê-Thanh-Tường trong dịp lễ kỷ-niệm ngày phá ngục Bastille tại chợ Ðất Ðỏ năm 1948. Ðến khi đình chiến, Bà Rịa là một trong những điểm tập kết của CS. Từ một bãi biển gần Xuyên-Mộc, đã có khoảng 10 ngàn cán-binh, 5 ngàn cán-bộ CS và thân-nhân xuống tàu đi tập-kết năm 1954. Trong khi đó thì gần cả triệu đồng bào miền Bắc đã di-cư vào Nam. Một số được đưa đến thị-trấn Phước-Tỉnh gần bờ biển. Một số khác từ Thanh-Hóa và Nghệ-An được định-cư tại làng Bình-Giã năm 1955.

Ðến năm 1964, dân-số Bình-Giã được ước-lượng có khoảng 6 ngàn người, hầu hết là giáo dân di-cư từ miền Bắc. Làng Bình-Giã được tổ-chức thành một ấp chiến-lược nằm dọc theo hai bên một trục lộ trải đá, bao bọc bởi một hàng rào tre và các bãi mìn và lựu đạn phòng thủ, cách chi-khu Ðức-Thạnh khoảng 4 cây-số. Phía tây Bình-Giã là Ngãi-Giao, phía đông là rừng cao-su Quảng-Giao với sông Ray chảy từ bắc xuống nam. Qua sông nầy đi sâu về phía tây nam là làng Xuyên-Mộc kém an-ninh. VC thường xuất hiện tại làng nầy để tuyên-truyền, thu thuế và dùng làm nơi xuất phát các cuộc tấn-công

 

vào Bình-Giã (xem sơ-đồ 2).

Bình-Giã ở về phía đông và cách Sài-Gòn khoảng 67 cây-số theo đường chim bay. Cách Phước Lễ (Bà Rịa) khoảng 18 cây số và cách Vũng Tàu khoảng 38 cây số. Trục giao thông chính qua Bình-Giã là liên tỉnh-lộ 2, nối liền quốc-lộ 1 và 15 qua thành-phố Biên-Hòa. Phước-Lễ là vùng đất đỏ với nhiều rừng và các đồn-điền cao-su trong khi Vũng Tàu là một bãi biển tốt với một phi-trường quân-sự có khả-năng tiếp-nhận các phi-cơ phản-lực.

 

  1. Diễn-Tiến

 

Chấp-hành chủ-trương của Bộ Chính-trị, ngày 11.10.1964, Quân-ủy Trung-ương, Bộ Tổng Tư-lệnh quân-đội CSBV chỉ-thị cho các chiến-trường mở chiến-dịch mùa khô hay Thu Ðông 1964-1965.

Thi-hành chủ-trương nói trên, Ðảng ủy và Bộ Chỉ-huy Miền lập kế-hoạch tác-chiến với địa-bàn hoạt-động trên hai hướng (1): Hướng chủ-yếu là Bà Rịa – Long Khánh. Hai hướng phối-hợp là Nhơn Trạch – Long Thành (Biên-Hòa) và Hoài Ðức – Tánh-Linh (Bình-Thuận).

Lực-lượng tham-dự khoảng 7000 quân gồm các đơn-vị sau: 2 trung-đoàn Q761 và Q762 bộ-binh; Ðoàn 80 Pháo-binh Miền gồm 4 tiểu-đoàn; 2 tiểu-đoàn 500 và 800 chủ-lực của quân-khu miền Ðông; Tiểu-đoàn 186 của quân-khu 6; Các đơn-vị địa-phương tỉnh, huyện và du-kích xã.

Bộ chỉ-huy chiến-dịch gồm: Chỉ-huy-trưởng: Trần-Ðình-Xu; Chính-ủy: Lê-Văn-Tưởng; Phó Chính-ủy: Lê-Xuân-Lựu; Chỉ-huy phó: Nguyễn-Hồng-Lâm; Tham-mưu-trưởng: Nguyễn-Hòa.

Ðể kỷ-niệm 4 năm ngày thành-lập Mặt-trận Dân-tộc Giải-phóng Miền Nam, đại-đội 445 thuộc lực-lượng địa-phương tỉnh Bà Rịa tấn-công ấp chiến-lược Bình-Giã do hai trung-đội Bảo-an trấn giữ vào rạng sáng ngày 3.12.1964. Ðồng lúc đó, tiểu-đoàn 1, trung-đoàn Q761 bao vây và pháo kích vào chi-khu Ðức-Thạnh. Hai ngày sau, Bộ Tư-lệnh quân-đoàn III cho trực-thăng-vận tiểu-đoàn 30 Biệt-Ðộng-Quân (BÐQ) xuống một địa-điểm tại phía Tây Nam chi-khu để từ đây mở cuộc hành-quân giải-tỏa Bình-Giã. Cuộc đụng độ khá ác-liệt nhưng quân CS yếu thế đã rút lui.

Ngày 8.12, đại-đội 445 cùng với một đại-đội thuộc trung-đoàn Q761 tấn-công ấp chiến-lược Bình-Giã lần thứ nhì. Trong lúc đó, tiểu-đoàn 3 thuộc trung-đoàn Q761 và tiểu-đoàn 5 thuộc trung-đoàn Q762 đánh chi-khu Ðất Ðỏ. Các đơn-vị thuộc đoàn 80 Pháo-binh pháo-kích vào chi-khu Xuyên-Mộc, Ðức-Thạnh và Trung-tâm Huấn-luyện Vạn-Kiếp để hợp-đồng yểm-trợ các cuộc tấn-công trên. Tuy nhiên quân CS đã bị đẩy lui. Các cuộc pháo-kích của địch quân không gây ra thiệt hại nào đáng kể.

Ngày 9.12, chi-đoàn 3 thuộc Trung-đoàn 1 Thiết-giáp được lệnh mở cuộc hành-quân giải-tỏa liên tỉnh-lộ 2. Bốn ngày sau, trên đường di-chuyển trở về, chi-đoàn 3 đã lọt vào ổ phục-kích của trung-đoàn Q762 tại Bình Ba, cách sông Cầu khoảng 600 thước. Cả 14 thiết-vận-xa đã bị phá hủy và Ðại-úy Ngọc, chi-đoàn-trưởng tử trận. Mặc dù phóng-đại, tài-liệu của CS cho thấy cường-độ khốc-liệt của cuộc phục-kích nầy (2): “Sau 15 phút giao tranh, ba xe bọc thép đã bị phá hủy. Ðể tự vệ, các xe còn lại cố gắng tập trung thành một ‘vòng đai thép di động’ và bắt đầu bắn các tên lửa tầm ngắn. Các máy bay chiến-đấu, oanh-tạc và các máy bay lên thẳng của địch dội bom và bắn tên lửa một cách bừa bãi vào quân giải phóng. Trận đánh trở nên dữ dội. Tuy nhiên các chiến sĩ của ta dán chặt vào từng gốc cao su, với những nhóm nhỏ tiến gần đến các xe nầy để sau cùng tấn công. Tất cả các vũ khí cơ hữu đều được sử dụng. Ta dùng súng tiểu liên để diệt địch trong xe trong khi thượng liên và súng trường yểm trợ hữu hiệu các toán có nhiệm vụ dùng thủ pháo ném tay để phá hủy xích sắt của các ‘quái vật bằng thép’. Các toán chống máy bay đã khiến chúng phải bay thật cao. Quân giải phóng cũng không bỏ phí thời gian, sử dụng ngay đại liên trên các xe bị phá hủy để bắn máy bay. Kết quả của lưới phòng không dày đặc nầy, bốn máy bay lên thẳng và một máy bay quan sát đã bị bắn rơi, ba chiếc khác bị hư hại, các chiếc còn lại phải bay xa. Trong khi đó, một xe bọc thép vội vàng chạy về hướng cầu để tẩu thoát. Quân giải phóng đuổi theo và xe nầy do bị bắn rát đã lạc tay lái rơi xuống sông. Không còn khả năng thủy bộ nữa nên xe đã chìm lỉm. Trận đánh đã chấm dứt một cách gọn gàng”.

Một ngày sau khi chi-đoàn 3 Kỵ-binh bị phục-kích, tiểu-đoàn 4 Thủy-quân Lục-chiến (TQLC), lực-lượng trừ-bị cuối cùng của quân-đoàn III được trực-thăng-vận xuống bìa làng phía Tây Bình-Giã để giải tỏa áp-lực địch và thu dọn chiến-trường tại Bình-Ba. TQLC không gặp kháng-cự nào của VC. Sau khi giải tỏa trận địa tại Bình Ba, tiểu-đoàn 4 TQLC được lệnh hành-quân tảo-thanh suốt quốc lộ 20 (Sài-Gòn ố Vũng-Tàu) từ Phước-Tuy đến quận lỵ Long-Thành. Không có hoạt-động đáng kể nào của địch quân được ghi nhận trong cuộc hành-quân nầy.

Ngày 22.12, một tàu vận-chuyển vũ-khí từ miền Bắc vào cập bến Lộc An mang theo 44 tấn vũ-khí. Trong số nầy đáng kể nhất là các súng trường CKC, tiểu-liên AK-47, K-50 nòng rỗ, thượng-liên RPD và súng chống chiến-xa B-40. Số đạn dược và vũ-khí nầy đã được trang-bị ngay cho các lực-lượng CS đang tham-gia chiến-dịch.

Khuya ngày 28.12, đại-đội 445 cùng với đại-đội 2 thuộc tiểu-đoàn 1, trung-đoàn Q761 trở lại tấn-công Bình-Giã lần thứ ba đồng thời dùng đại-bác 75 ly không giật pháo-kích chi-khu Ðức-Thạnh. Sáng ngày hôm sau, tiểu-đoàn 38 BÐQ được trực-thăng-vận đến trảng trống  phía tây nam Ðức-Thạnh để giải tỏa áp lực địch. BÐQ chia thành ba mũi tiến quân vào Bình-Giã nhưng cả ba mũi đều chạm súng nặng. VC đã đào sẵn công-sự kiên-cố để chờ đánh viện binh. Trước tình hình nghiêm trọng, tiểu-đoàn 33 BÐQ được gửi đến để tăng viện. VC phục-kích bãi đổ quân gây thiệt-hại nặng cho tiểu-đoàn nầy. Tiểu-đoàn-trưởng và một đại-đội-trưởng bị tử thương.

Ngày hôm sau, tiểu-đoàn 30 BÐQ được trực-thăng-vận xuống phía tây nam Bình-Giã. Cuộc đổ quân không gặp sự kháng-cự nào của địch quân. Tuy nhiên trong suốt ngày, tiểu-đoàn 30 BÐQ vẫn không đánh lên được mục-tiêu để bắt tay với những thành-phần còn lại của tiểu-đoàn 38 BÐQ, với sự giúp đỡcủa dân làng đang cố thủ trong nhà thờ

 

lớn giữa ấp chiến-lược Bình-Giã.

Ngày 30.12, tiểu-đoàn 4 Thủy-Quân Lục-Chiến (TQLC) được trực-thăng-vận xuống phía đông nam ấp La Vân để tăng-cường cho lực-lượng đã có sẵn tại đây, chiếm lại Bình-Giã. Sau đó TQLC bắt tay được với các cánh quân của hai tiểu-đoàn 30 và 38 BÐQ mà quân số còn lại khoảng 100, tất cả đều bị thương. Tiểu-đoàn 4 TQLC tiếp tục đẩy lùi quân CS về phía đông (đồn-điền cao-su Quảng-Giao). Khuya cùng ngày, quân CS trở lại tấn-công Bình-Giã để thăm dò nhưng đã bị đẩy lui sau gần một giờ giao-tranh. Trong khi yểm-trợ, một trực-thăng của Mỹ đã bị bắn rơi trong đồn-điền cao-su Quảng-Giao. Phi-hành-đoàn bốn người đều bị tử thương (xem sơ-đồ 3).

Quân-số khiển-dụng hành-quân của tiểu-đoàn 4 TQLC ngày hành-quân trực-thăng-vận gồm khoảng 550 người. Khoảng 100 sĩ-quan và binh-sĩ được cấp phép thường niên trong thời bình và độ vài chục binh-sĩ trốn trại đi chơi không về kịp khi có lệnh hành quân khẩn cấp. Bộ Chỉ-huy của tiểu-đoàn gồm: Tiểu-đoàn-trưởng: Thiếu-tá Nguyễn-Văn-Nho; Tiểu-đoàn phó: Ðại-úy Trần-Văn-Hoán; Ðại-đội-trưởng Ðại-đội 1: Trung-úy Trần-Ngọc-Toàn, xuất thân khóa 16 Trường Võ-bị Quốc-gia Việt-Nam (TVBQGVN); ÐÐT/ÐÐ 2: Trung-úy Ðỗ-Hữu-Tùng, xuất thân khóa 16 TVBQGVN; ÐÐT/ÐÐ 3: Thiếu-uý Nguyễn-Văn-Huệ, xuất thân khóa 17 TVBQGVN; ÐÐT/ÐÐ 4: Trung-úy Nguyễn-Ðằng-Tống, xuất thân khóa 16 TVBQGVN.

Khi được trực-thăng-vận từ Biên-Hòa vào Bình-Giã, tiểu-đoàn 4 TQLC có hai sĩ-quan cố-vấn Mỹ là Thiếu-tá Eller, cố-vấn-trưởng và Trung-úy Brady, phụ-tá. Sau khi tái chiếm làng Bình-Giã ngày 31.12, tiểu-đoàn lại nhận thêm một sĩ-quan nữa là Ðại-úy D.G. Cook và hai hạ sĩ-quan thuộc sư-đoàn 3 TQLC Mỹ đóng tại Okinawa đến để quan-sát chiến-trường Việt-Nam. Ðại-úy Cook được chỉ-định theo Ðại-đội-trưởng đại-đội 1. Trong cuộc giao tranh mở đường vào Quảng-Giao, Thiếu-tá Eller bị thương ở mặt nên được tản thương. Trung-úy Brady lên thay tiếp tục hành-quân. Ông sống sót trở về sau trận Bình-Giã và đã được thăng cấp đại-úy tại mặt trận. Ðại-úy Cook bị thương ở đùi được một binh-sĩ TQLC đưa khỏi trận địa. Tuy nhiên sau đó cả hai bị VC bắt. Khi VC dẫn giải đi trong đêm tối, người lính TQLC/VN trốn thoát. Năm 1973, qua cuộc trao đổi tù binh theo hiệp-định Ba-Lê, Ðại-úy Cook được xác-nhận bị bắt trong trận Bình-Giã năm 1965 và đã chết trong một mật khu của CS tại miền Nam. Về phía Mỹ, ông chỉ được ghi nhận là mất tích nên tiếp tục được truy thăng đến cấp trung-tá.

Sáng sớm ngày 31.12, tiểu-đoàn 4 TQLC được lệnh đưa quân vào đồn-điền cao-su Quảng-Giao để tìm trực-thăng bị nạn đêm hôm trước. Tiểu-đoàn-trưởng tiểu-đoàn 4 TQLC ra lệnh cho đại-đội 2 thi-hành công-tác tìm kiếm về hướng Quảng-Giao. Khi tiến đến đồn-điền cao-su, cách làng Bình-Giã độ hai cây-số về phía Ðông, đại-đội 2 đã tìm thấy chiếc trực-thăng bị rơi cùng với xác của phi-hành-đoàn. Ngay lúc đó quân VC đã tràn lên vây đánh. Ðại-đội 2 vẫn cầm cự một cách hiệu-quả mặc dù đã bị thiệt-hại một trung-đội ngay từ lúc đầu. Ðược tin, tiểu-đoàn-trưởng tiểu-đoàn 4 TQLC điều động ba đại-đội còn lại từ làng Bình-Giã đến tiếp cứu.

Lấy trục lộ từ Bình-Giã đến đồn-điền cao-su Quảng-Giao làm chuẩn, hai đại-đội 1

và 4 dàn hàng ngang tiến trước, theo sau là đại-đội 3 có nhiệm-vụ bảo-vệ Bộ Chỉ-huy tiểu-đoàn đồng thời là lực-lượng trừ-bị. Vào đến mục-tiêu, vị-trí nơi phi-cơ trực-thăng bị nạn thì quân CS đã rút lui. Tiểu-đoàn cho lệnh bố trí chờ phi-cơ tản thương. Khoảng nửa giờ sau, trực-thăng của Mỹ đáp xuống nhận xác phi-hành-đoàn nhưng từ-chối chuyên-chở 12 xác TQLC/VN. Tiểu-đoàn 4 tiếp tục bố trí quân tại chỗ chờ phi-cơ. Ðến khoảng bốn giờ chiều, vẫn không có phi-cơ nên Tiểu-đoàn-trưởng quyết định chuyển xác theo đường bộ về Bình-Giã. Ngay lúc đó, VC xuất hiện khắp bốn phía đồng thời dùng đại-bác không giật và súng cối nã đạn tới tấp vào vị-trí của tiểu-đoàn. VC xung phong tràn lên ngay khi trận mưa pháo vừa dứt. TQLC chống trả và chận đứng nhiều đợt xung-phong biển người của địch. Một sĩ-quan thuộc đại-đội 3, tiểu-đoàn 4 TQLC đã kể lại giây phút nầy như sau (3): “Tiếng súng chát chúa, nổ rất gần, có lúc xẹt qua phía chúng tôi. Thiếu úy Huệ đang nói chuyện trong máy với Thiếu tá Nho thì âm thoại viên Ðại đội báo cáo Trung đội 3 phát hiện có địch. Chưa dứt lời thì tiếng súng đã nổ vang rền phía Trung đội 3 của Lâm Xuân. Khoảng 5 phút sau thì súng nổ khắp nơi: Ðại đội 1 bên hông trái, Ðại đội 3 bên hông phải và cả mặt sau Ðại đội 4 của ông Tống. Như vậy là địch đã tập trung bao vây Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến trong khi chúng tôi vừa mới bố trí, chưa kịp đào hầm hố gì cả. Bên ta cũng như bên địch, chỉ lấy gốc cao su để che chắn. Cả 3 Trung đội của Ðại đội 3 đều khai hỏa. Ðịch thấp thoáng sau hàng cao su, ta bắn như bắn bia, nhưng bóng người vẫn lao lên. Tôi nghe có cả tiếng kèn thúc quân và hình như tiếng ngựa hí đâu đây. Như thế quân số địch lên tới cả trung đoàn, và đây là lần đầu tiên chúng tập trung với một số quân đông đảo cho một trận chiến. Tai tôi ù đi vì tiếng súng không dứt”.

Nửa giờ sau khi chạm súng, Tiểu-đoàn-trưởng tiểu-đoàn 4 TQLC trúng đạn địch tử thương. Tiểu-đoàn-phó bị thương nặng được một binh-sĩ cận-vệ cõng chạy về Bình-Giã nhưng đã chết dọc đường.

Mức độ khốc-liệt của chiến-trường cũng đã được CS xác nhận (1): “Tiểu-đoàn 4 vốn là loại lính tinh nhuệ bậc nhất của quân ngụy thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược, chúng chống trả ngoan cố. Trận chiến mỗi lúc một ác liệt. Ta và địch giành nhau từng thước đất. Các đơn vị của ta mưu trí chia cắt địch thành từng cụm để tiêu diệt. Ðến 18 giờ, ta tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 4 (600 tên) thu toàn bộ vũ khí”.

Hai đại-đội 1 và 3 phối-hợp cố thủ trên một ngọn đồi giữa đồn-điền cao-su Quảng-Giao. Tại đây TQLC tiếp tục đẩy lui nhiều đợt xung-phong và gây thiệt-hại nặng cho VC. Trận đánh tiếp tục cho đến khi trời sụp tối. Ðại-đội-trưởng đại-đội 1 bị thương ở chân đã cùng các binh-sĩ còn sống sót mở đợt xung-phong phá vỡ vòng vây của địch để vượt thoát về hướng Bình-Giã. Trong khi đó, phi-cơ lên vùng thả hỏa châu soi sáng trận địa. Dưới ánh sáng của hỏa châu, Ðại-đội-trưởng đại-đội 4 hướng-dẫn các quân-nhân TQLC còn sống sót tìm đường trở lại làng Bình-Giã.

Quân CS theo hướng Xuyên-Mộc rút về Rừng Lá và dùng xe bò để chuyên chở cán-binh tử trận.

  1. Arnett, một ký-giả Tân-Tây-Lan mô tả lại mặt trận Bình-Giã sau khi trận chiến

đã tàn như sau (4): “Xác binh-sĩ thủy-quân lục-chiến nằm rải rác trong rừng cao-su mát và lặng im. Một số các xác chết đã được xếp thành hàng dưới nắng cháy bên cạnh bãi đáp trực-thăng, các lá chuối không phủ kín được các tử thi. Binh-sĩ thủy-quân lục-chiến đang kéo lê các xác chết ra khỏi đồn-điền trên các cáng thô-sơ. Một số phóng-viên đang tụ quanh một binh-sĩ Biệt-động-quân bị thương đã lẩn trốn trong các bụi rậm với nhiều vết đạn dưới chân. Binh-sĩ nầy đã ở đây khi tiểu-đoàn Biệt-động-quân bị đánh tan từ thứ ba tuần trước. Ba trung-úy thủy-quân lục-chiến Mỹ đang nằm sải ra bên cạnh máy vô-tuyến, một người nói dõng dạc vào máy điện đàm: ‘Bao nhiêu tất cả ? Có bao nhiêu ? Sáu mươi bảy, nhận rõ’. Quay sang một phóng viên, vị sĩ-quan nầy nói : ‘Ðó là tất cả chúng tôi đếm được, chết hết, chúng tôi cũng đã lấy được xác của bốn người Mỹ’. Chính việc đi tìm kiếm bốn người Mỹ nầy trên một trực-thăng bị bắn rơi tại rừng cao-su tối ngày thứ tư đã khiến tiểu-đoàn 4 thủy-quân lục-chiến đi vào đồn-điền và đưa đến tai họa. Một sĩ-quan Mỹ tại Bình-Giã nói: ‘Chúng tôi phải vào để lấy các xác Mỹ ra’. Với giá đắt – Khoảng 250 binh-sĩ thủy-quân lục-chiến đã thiệt-mạng, độ phân nửa tiểu-đoàn. Một số các sĩ-quan Mỹ cho rằng vì thủy-quân lục-chiến trì-hoãn 14 tiếng đồng hồ trước khi bắt đầu cuộc tìm kiếm nên đã đưa đến thảm bại nầy”. Sự thật thì tiểu-đoàn 4 TQLC đã thi-hành lệnh tìm kiếm trực-thăng bị nạn ngay trong vòng nửa giờ sau khi ra quân tại Bình-Giã.

Ðại-tướng Nguyễn-Khánh chỉ-định Ðại-tá Lâm-Quang-Thơ, đang giữ chức-vụ Chỉ-huy-trưởng Trường Thiết-giáp kiêm nhiệm chức-vụ Chiến-đoàn-trưởng Chiến-đoàn 5 mở cuộc hành-quân mang tên là Hùng-Vương 2 để tảo-thanh Bình-Giã.

Ngày 3.1.1965, Bộ Tư-lệnh tiền-phương của chiến-đoàn cùng với chi-đoàn chiến-xa gồm 15 chiếc M-24 cùng với tiểu-đoàn 35 BÐQ là lực-lượng tùng thiết trong khi di-chuyển từ Bà Rịa lên Ðức-Thạnh đã lọt vào ổ phục-kích của trung-đoàn Q762 với thiệt-hại nặng. Hầu hết sĩ-quan của Bộ Tư-lệnh tiền-phương đều bị tử trận (5).

Hai tiểu-đoàn 1 và 3 Dù được trực-thăng-vận xuống phía đông Bình-Giã để mở cuộc hành-quân truy lùng nhưng các lực-lượng CS đã rút lui. Trong khi đó tiểu-đoàn 7 Dù hành-quân mở đường từ Phước-Lễ đến Bình-Ba đồng thời thu nhặt xác binh-sĩ tử trận của hai đơn-vị thiết-giáp và BÐQ. Sau đó ba tiểu-đoàn Dù được trực-thăng-vận vào mật-khu Hát-Dịch để càn quét các lực-lượng CS. Cuộc hành quân không có đụng độ lớn vì quân CS lẩn tránh. Các tiểu-đoàn Dù khám-phá được nhiều kho lương-thực, vũ-khí, đạn dược của VC.

 

  1. Hậu-Quả

 

Trong cuộc đụng độ đầu tiên ngày 28.12.1964, các đơn-vị của QLVNCH mất 60 binh-sĩ, VC bỏ lại 32 xác. Ngày 30.12, hai tiểu-đoàn 33 BÐQ và 4 TQLC đã bị thiệt hại nặng. Riêng tiểu-đoàn 4 TQLC với quân-số tham-dự là 326 người có 112 người chết và 71 bị thương. 29 trong tổng số 35 sĩ-quan của tiểu-đoàn đã bị tử trận (6).

Một sĩ-quan thuộc tiểu-đoàn 4 TQLC đã ghi lại tổn-thất của đơn-vị như sau (7): Chết:

 

 

22 sĩ-quan*, khoảng 100 hạ sĩ-quan và binh-sĩ. Bị thương: 5 sĩ-quan, 15 hạ sĩ-quan, 100 binh-sĩ. Mất tích: 10 hạ sĩ-quan và 70 binh-sĩ.

Ngày 4.1.1965, Bộ Chỉ-huy VC tại Bình-Giã tổ-chức một cuộc họp báo với sự hiện diện của ký-giả Úc W. Burchett và ký-giả Pháp M. Riffaud để tuyên-bố (2): “Quân đội giải phóng đã tiêu diệt được hai ngàn quân ngụy Sài Gòn kể cả 28 tên giặc Mỹ hiếu chiến. Phá hủy 37 xe quân sự trong đó có một chi đoàn xe bọc thép M-113. Bắn rơi 24 máy bay và bắn hư hại 13 chiếc khác”.

Sau chiến-tranh, Học-viện Quân-sự Cao-cấp của CS đã tổng-kết trận Bình-Giã như sau (8): “Bộ đội ta đã diệt 1731 tên (có 52 tên Mỹ chết và 4 tên Mỹ bị thương), bắt 300 tên (có 3 tên Mỹ), diệt gọn hai tiểu đoàn; tiểu đoàn 4 lính thủy đánh bộ và tiểu đoàn biệt động 33, hai chi đoàn thiết giáp; hai đại đội bảo an, hai trung đội biệt kích và một số bảo an dân vệ, thanh niên chiến đấu, làm tiêu hao nặng hai tiểu đoàn (tiểu đoàn 1 trung đoàn 37 và tiểu đoàn biệt động 35). Bắn rơi 35 máy bay lên thẳng, 1 L.19, 2 Skyraider. Phá hỏng 22 xe M.113, 5 xe tăng, 2 xe AM, 18 xe GMC và 2 xe jeep. Thu 2 GMC, 611 súng các loại, trên 5 vạn viên đạn, phá hủy nhiều vũ khí”.

Viện Lịch Sử  Quân Sự tại Hà-Nội lại đưa ra những con số khác (1): “Hơn một tháng chiến đấu (từ 2-2-1964 đến 3-1-1965), lực lượng vũ trang miền Ðông Nam Bộ đã tiêu diệt hai tiểu đoàn chủ lực ngụy (tiểu đoàn 33 biệt động quân và tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến), chi đoàn 3 M113 (thuộc thiết đoàn 1) và hai đoàn xe cơ giới; đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn biệt động quân (30, 35, 38), bảy đại đội bảo an; làm tan rã hầu hết dân vệ trong khu vực. Tổng số địch bị diệt trong chiến dịch lên tới 1.755 tên, bị bắt 193 tên, 45 xe bị phá hủy, phá hỏng (phần lớn là M113), 56 máy bay các loại bị bắn rơi và bắn cháy. Ta thu hơn 1.000 súng các loại. Nhiều ấp chiến lược ở ven đường số 2, số 15 thuộc các huyện Ðất Ðỏ, Long Thành, Nhơn Trạch bị phá tan. Huyện Hoài Ðức được giải phóng, vùng căn cứ Hát Dịch được củng cố, mở rộng nối liền chiến khu Ð với căn cứ Bình Thuận”.

Thiệt-hại của chiến-dịch Bình-Giã đã được một sĩ-quan CS kể lại như sau (9): “Nó nói vụ thằng Sâm ở ngoài Bình Giã bị ông Tư lịnh pháo Hai Nhã gởi trả về Bộ tư lệnh pháo rồi bị ông Chánh ủy Tư Khanh tống về trường Pháo với bản án khai trừ đảng. Thằng Sâm cũng là học trò của tôi ở ngoài đó. Không được dự chiến dịch nữa. Thằng Sâm mừng bỏ mẹ. Vì cái chiến dịch ôn dịch nầy đã nướng ít nhất là 1000 lính lẫn dân công”.

Một phần của con số tử vong nầy là do chính pháo-binh CS trong khi yểm-trợ đã tác-xạ ngay lên đầu quân bạn. Một sĩ-quan tham-mưu cấp trung-đoàn của VC phát biểu (10): “Hồi ở ngoải, tôi có tham quan mấy ông nhà pháo bắn thử ở Ba Thà, có chuyên gia Liên Xô Trung Quốc dự, tôi tin tưởng quá xá, sao về trong nầy, pháo cối trung đoàn, cả pháo của R do ông Hai Nhã chỉ huy làm ăn coi bộ ịch đụi vậy? – Anh ta ngồi xuống tự châm trà, rót uống chép miệng thật kêu rồi tiếp – Bây giờ lính tôi ngán mấy ổng lắm rồi. Sắp ra trận thì họ hỏi có pháo yểm trợ không. Nếu tôi nói không thì họ mừng lắm. Có người bảo: ‘Chết vì đạn Mỹ thì còn lên đài tử sĩ được, còn chết vì đạn ta làm sao mà lên đó ?’.

Một sĩ-quan VC cao cấp khác cũng xác-nhận việc pháo-binh của họ đã tác-xạ lầm (10): “Pháo ở Bình Giã là pháo gì vậy anh Năm? Tao có biết pháo gì là pháo gì. Thằng Hai Nhã nó bảo tao là kỳ nầy có pháo yểm trợ. Nó còn nói thêm: ‘Pháo là linh hồn trận địa còn bộ binh là vua chiến trường’. Tao đáp: ‘ừ, mầy là hồn tao là xác. Gì cũng được miễn đánh thắng thì thôi’. Chẳng ngờ ra trận cái ‘hồn’ nện cái ‘xác’ tơi bời. Lính bị đấm lưng, cóng giò cóng cẳng đâu có xung phong được”.

Hai Nhã là Ðại-tá Tư-lệnh Pháo-binh của Trung-ương-cục miền Nam. Anh Năm là Tư-lệnh sư-đoàn 9 VC.

 

  1. Nhận-Xét

 

Sau cuộc đảo-chính lật đổ Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm, các tướng lãnh lên cầm quyền tiếp theo sau đó không có một chính-sách rõ rệt khiến tình hình chính-trị tại miền Nam vô cùng rối loạn. Một học-giả VN đã tóm tắt giai-đoạn nầy như sau (11): “Từ cách mạng 1-11-63 cho đến ngày hai tướng Thiệu Kỳ lên cầm quyền trong khoảng thời gian gần 20 tháng, miền Nam Việt Nam đã phải trải qua 6 chính phủ … những thành phần đã tạo nên xáo trộn mà chính yếu trong đó là Phật giáo, Công giáo, tướng tá, sinh viên, và đảng Ðại Việt của các ông Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký”. Ngày 21.12.1963, trong một báo cáo lên Tổng-thống Johnson, Bộ-trưởng Quốc-phòng McNamara đã viết (12): “Tình hình rất nguy kịch. Nếu không lật ngược được khuynh hướng hiện tại thì trong vòng hai hoặc ba tháng tới có thể đưa đến một miền Nam trung-lập hoặc tệ hơn là trở thành một quốc-gia do Cộng-Sản kiểm-soát”.

Một phúc-trình của Cơ-quan Trung-ương Tình-báo Mỹ (CIA) cũng đã ghi nhận (12): “Nghiêm trọng và viễn ảnh không chắc chắn. Chúng tôi tin tưởng rằng nếu không có những cải tiến đáng kể về hiệu-năng của chính-phủ và quân-lực Việt-nam Cộng-hòa thì dẫu cho có sự trợ giúp của Mỹ, miền Nam VN chỉ có khoảng phân nửa cơ may để có thể chống đỡ lại phiến-loạn trong vài tuần hoặc vài tháng tới”. Bộ-trưởng Quốc-phòng McNamara trong báo cáo tháng 3.1964 đã viết (13): “Từ tháng 11.1963, hệ-thống chính-trị từ Sài-Gòn xuống đến cấp xã ấp đã hoàn toàn biến mất. 35 trong tổng-số 41 Tỉnh-trưởng đã bị thay thế. Trong đó có 9 tỉnh mà Tỉnh-trưởng đã bị thay thế đến ba lần, có một tỉnh đến bốn lần. Gần như các giới chức quân-sự cao cấp đều đã được thay thế đến hai lần”.

Tháng 8.1964, biến cố vịnh Bắc Việt xảy ra. Lần đầu tiên phi-cơ Mỹ oanh-tạc miền

 

Bắc để trả đũa việc các khinh-tốc-đĩnh CS tấn-công khu-trục-hạm Maddox của Mỹ đang thực-hiện các hoạt-động do thám điện-tử.

Từ tháng 12.1963, nghị-quyết lần thứ chín của Ðảng Lao-Ðộng đã ra quyết tâm tăng-cường yểm-trợ chiến-tranh tại miền Nam VN. Chỉ-đạo đầu tiên của nghị-quyết là hiện-đại-hóa vũ-khí trang-bị cho các lực-lượng CS đang chiến-đấu tại miền Nam. Ðiểm thứ nhì là gia tăng quân-số. Tháng 4.1964, tình-báo đã ghi nhận sự xâm nhập của các đơn-vị chính-qui CSBV. Tướng VC Trần-Ðộ đã được phái vào Nam để chỉ-huy các hoạt-động quân-sự (14). Ðến tháng 8, thêm Tướng Nguyễn-Chí-Thanh. Sang tháng Chạp, một trung-đoàn thuộc sư-đoàn 325 CSBV đã được phát giác có mặt tại Kontum. Các đơn-vị địa-phương cũng đã được đôn cấp với việc thành-lập sư-đoàn 9 VC tại Tây-Ninh. Chỉ-đạo thứ ba là trực-tiếp tấn-công các căn-cứ Mỹ, phản công mạnh trên toàn miền Nam để khai-thác những rối loạn chính-trị tại Sài-Gòn. Ngày 3.2.1964, VC tấn-công căn-cứ Mỹ tại Kontum. Ðến ngày 7, VC đặt bom hí-viện Kinh-Ðô tại Sài-Gòn. Ngày 2.5, đánh chìm tàu chuyển-vận trực-thăng USS Card. Tấn-công và tràn ngập hai trại Lực-Lượng Ðặc-Biệt, Polei Krong ở phía bắc tỉnh-lỵ Kontum và Nam-Ðồng ở phía bắc tỉnh Thừa-Thiên trong tháng bảy. Ngày 1.11, VC đã pháo-kích vào phi-trường Biên-Hòa phá hủy năm phản-lực-cơ và làm hư hại tám chiếc khác. Ngày 24.12, khách-sạn Brink, cư-xá sĩ-quan Mỹ độc-thân tại Sài-Gòn bị đặt bom nổ tung. Ðại-sứ Mỹ Taylor; Tướng Westmoreland, Tư-lệnh MACV; Chỉ-huy-trưởng các lực-lượng Mỹ tại Vùng Thái-Bình-Dương (CINCPAC) và Bộ Tham-mưu Liên-quân Mỹ đều yêu cầu Tổng-thống cho lệnh trả đũa. Tuy nhiên Tổng-thống Johnson đã gạt bỏ yêu cầu nầy với lý do (15): “Thẩm định tức thời của chính-phủ cho thấy trong tình-trạng chính-trị hiện tại, cả dư-luận tại Mỹ cũng như trên thế-giới đều không tin rằng đây là hành-động của Việt-Cộng. Hơn nữa, vì không có những bằng chứng rõ rệt, chính-phủ cho rằng trả đũa trong lúc nầy có vẻ như chúng ta muốn khuấy động thêm khủng-hoảng trên thế-giới. Với tình-trạng chính-trị hỗn-loạn tại Sài-Gòn, chính-phủ tin rằng khó thuyết phục được công-luận Mỹ có thể hiểu được hành-động mở rộng chiến-tranh “. Chỉ hai ngày sau là ngày bầu cử Tổng-thống Mỹ. Trong bối cảnh như vậy, trận Bình-Giã đã xảy ra.

Sự thay đổi chiến-thuật của CS từ du kích chiến, đánh bất ngờ rồi bỏ chạy sang trụ lại trên chiến trường để đánh trả các cuộc hành quân hoặc tấn chiếm các vị-trí phòng-thủ kiên-cố của QLVNCH trong năm 1963 mà tiêu-biểu là các trận Ấp Bắc, Ðầm Dơi và Hiệp-Hòa đã không được Bộ TTM/QLVNCH quan tâm. Thêm vào đó những hỗn loạn chính-trị tại Sài-Gòn khiến các sĩ-quan cao cấp có trách-nhiệm điều-khiển quân-đội chú tâm vào các hoạt-động chính-trị hơn là việc rèn cán chỉnh quân. Ðây chính là những nguyên-nhân đưa đến thất-bại tại Bình-Giã.

Mặc dù tin tức tình-báo không được chính-xác hay lờ mờ như một sĩ-quan tham dự trận đánh ghi nhận (3): “Ðoàn xe dừng lại ở Bộ chỉ huy tiểu khu để tiểu đoàn trưởng và phó vào tham khảo với Trung tá Tiểu khu trưởng trước khi xuất quân. Khi Thiếu tá Nho và Ðại úy Hoán ra khỏi Tiểu khu tôi thấy vẻ mặt của họ có vẻ căng thẳng. Ðại úy Hoán mặt đỏ ửng, nói câu gì đó mà tôi không nghe rõ trong khi Thiếu tá Nho im lặng đi bên cạnh. Sau nầy tôi được biết tình hình địch không đúng như sự đánh giá của phòng 2 Tiểu khu, mà theo báo cáo của Biệt Ðộng Quân thì địch có lẽ đang tập trung đông hơn. Cho nên Ðại úy Hoán đề nghị với Thiếu tá Nho nên từ từ để lấy thêm tin tức, trong khi lệnh của Tiểu khu bắt tiểu  đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến tăng phái cho Tiểu khu Bà Rịa phải vào ngay. Với cương vị Tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Nho không có cách nào hơn là tuân lệnh tiếp tục di chuyển đến tuyến xuất phát”. Những trận đánh trước đó gây thiệt hại nặng cho các tiểu-đoàn BÐQ đã cho thấy một cách rõ ràng sự hiện diện của một lực-lượng địch khá mạnh trong vùng. Bộ TTM hoặc ít nhất là Bộ Tư-lệnh quân-đoàn III đúng ra phải mở ngay một cuộc hành quân gồm nhiều tiểu-đoàn thay vì tiếp tục gửi từng tiểu-đoàn vào trận.

Hai sĩ-quan cao cấp QLVNCH đã xác-nhận sai lầm chiến-thuật nầy như sau (16): “Quân đội Việt Nam Cộng Hòa do Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư lệnh Quân Ðoàn III, chỉ huy chỉ quyết định lâm chiến nhỏ giọt, ngày đầu 2 đại-đội Biệt động quân, ngày thứ 2, 2 tiểu đoàn Biệt động quân, ngày thứ ba Tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến”.

Có lẽ Tiểu-đoàn-trưởng đã khinh địch khi chỉ gửi một đại-đội đi tìm xác trực-thăng bị rơi thay vì hành-quân cả tiểu-đoàn để có thể yểm-trợ kịp thời khi đụng trận. Khi được lệnh ra quân, Ðại-đội-trưởng đại-đội 2 đã nói (17): “Rõ ràng là quân số tụi Việt Cộng rất đông. Cả Trung Ðoàn như cha xứ nhận định. Tao không hiểu tại sao Tiểu Ðoàn Trưởng lại đưa một đại đội đi”. Tuy nhiên VC chỉ tấn-công đại-đội 2 chỉ để tạo một cái bẫy nhử cả tiểu-đoàn lọt vào trận địa phục kích. Từ chiến-tranh Việt Pháp, mỗi khi có phi-cơ lâm nạn thì quân-đội Liên-hiệp Pháp thường gửi quân đi tìm cứu phi hành đoàn, truy nhặt quân dụng, vũ-khí cũng như phá hủy những gì bỏ lại. Tại Bình-Giã, trực-thăng bị rơi từ khuya ngày hôm trước, VC do đó có nhiều thời gian để di-chuyển quân vào vị-trí phục-kích. Dĩ nhiên công-tác ém quân của trung-đoàn Q761 VC đã hoàn tất trước khi trời sáng. Ðại-đội 2 cũng như cả tiểu-đoàn 4 TQLC sau đó không phát giác được chi-tiết nào khả nghi trên trục tiến quân đã chứng-minh được điểm vừa nói. Tuy nhiên tại sao VC phải đợi đến chiều mới tấn-công thay vì đánh ngay vào lúc trưa khi tiểu-đoàn 4 TQLC vừa mới đến vị-trí phi-cơ lâm nạn? Có hai lý do để giải-thích cho câu hỏi nầy. Ðầu tiên là sau một ngày hành-quân binh-sĩ thường mệt mỏi, chểnh mảng việc di-chuyển, bố trí quân. Lý do thứ nhì là các cơ-quan chỉ-huy, tham-mưu, yểm-trợ đều làm việc theo giờ hành-chánh. Ðây là thời điểm thuận tiện nhất để mở cuộc tấn-công với hy-vọng hệ-thống liên-lạc, yểm-trợ của đối-phương sẽ bị tê-liệt vì đã hoặc sắp chấm dứt ngày làm việc. Chiến-thuật bắt đầu trận đánh vào buổi chiều khi ngày sắp hết sẽ được VC sử-dụng lại tại Ðồng Xoài năm 1965. Tuy nhiên họ không cần phải làm như vậy tại Bình-Giã vì trên thực-tế chỉ có một trung-tá trực tại Trung-tâm Hành-quân của Bộ Tư-lệnh quân-đoàn III. Tất cả các sĩ-quan khác kể cả Tư-lệnh quân-đoàn đều đã nghỉ lễ Giáng-Sinh và Tết Dương-lịch. Tiểu-đoàn 4 TQLC chiến-đấu một mình, không được chỉ-huy lẫn yểm-trợ.

Ðể đưa chiến-tranh du-kích lên chiến-tranh qui-ước, CS đã chuẩn bị việc tối-tân hóa vũ-khí trang-bị. Khi trận Bình-Giã xảy ra, TQLC vẫn sử-dụng Garant và Carbine với xạ-tốc và hiệu-quả kém hơn nhiều so với tiểu-liên AK của CS (18). Một sĩ-quan TQLC tham dự trận Bình-Giã đã ghi lại điểm thất lợi nầy (17): “Ai cũng kêu hết đạn. Ðạn rời trong ba lô không gắn kịp vào kẹp đạn Garant”. Hỏa-lực vũ-khí cộng-đồng của VC cũng mạnh hơn trước. Từ giữa năm 1963, các lực-lượng CS đã được trang-bị SKZ 57 ly và đến cuối năm đã được tăng-cường bằng đại-bác 75 ly không giật. Sau trận phục-kích chi-đoàn 3 tại Bình Ba, Chuẩn-tướng Lý-Tòng-Bá, lúc bấy giờ là Trung-tá Thiết-đoàn-trưởng thiết-đoàn 1 đã tìm thấy các vỏ đạn 75 ly tại chiến-trường (5).

Trận Bình-Giã cũng đã đánh dấu một khúc quanh của quân sử VN cận đại. Tướng Westmoreland cho rằng CS đã chuyển từ du-kích-chiến sang giai-đoạn sau cùng của chiến-tranh qui-ước với sự tham-dự của các đơn-vị lớn. Ông đã viết về hậu-quả của trận Bình-Giã như sau (19): “Chính trận đánh nầy đã là một điều lo ngại. Có thể chúng tôi đã lo ngại hơn nữa nếu ngay lúc đó biết được rằng từ tháng 9 năm 1964, miền Bắc VN đã quyết-định vượt khỏi việc yểm-trợ nội loạn để can-thiệp trực-tiếp với các đơn-vị của quân-đội CSBV”. Ngày 12.7.1964, Tướng Nguyễn-Khánh tuyên bố rằng các đơn-vị quân-đội CSBV đã bị phát giác có mặt tại miền Nam VN qua các tù binh bị bắt. Hai ngày sau, Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) phủ nhận lời tuyên-bố của Tướng Khánh khi cho rằng vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về sự hiện diện của quân-đội CSBV tại miền Nam (20).

Thất-bại tại Bình-Giã cũng đã ảnh-hưởng rất nhiều đến chính-sách sử-dụng quân-đội Mỹ để thay thế QLVNCH trong kế-hoạch Lùng Và Diệt (Search and Destroy) nổi tiếng của các tướng lãnh Mỹ sau nầy, mà điển hình là Thiếu-tướng W.E. Depuy, phụ-tá hành-quân của Tướng Westmoreland. Sau trận Bình-Giã, ông đã viết (21): “Trận Bình-Giã đã ảnh-hưởng đến chúng tôi một cách sâu đậm. Chúng tôi kết-luận rằng Thủy-Quân Lục-Chiến, Dù và Biệt-Ðộng-Quân của QLVNCH không đủ khả-năng để tìm và diệt các trung-đoàn địch-quân”.

Chiến-tranh tiếp tục lan rộng. Ngày 7.2.1965, CS pháo-kích phi-trường Pleiku khiến 8 quân-nhân Mỹ bị thiệt mạng cùng với 126 người khác bị thương. Ba ngày sau, khách-sạn Việt-Cường tại Qui-Nhơn bị đặt bom khiến 23 người Mỹ bị thương vong. Ngày 16.2, không và hải-quân VNCH phát-giác và đánh chìm tàu tiếp-vận vũ-khí của CSBV tại Vũng Rô, phía Bắc Tuy-Hòa.

Thất-bại quân-sự tại Bình-Giã, mức độ gia tăng sự xâm nhập người và vũ-khí vào miền Nam cùng với những rối loạn chính-trị tại Sài-Gòn khiến chính-phủ Mỹ quyết-định ban hành kế-hoạch oanh-tạc dài hạn miền Bắc VN lấy tên là Rolling Thunder. Trong khi đó, Tướng Westmoreland đã yêu cầu gửi hai tiểu-đoàn TQLC Mỹ đến VN để bảo-vệ căn-cứ không-quân Ðà-Nẵng, nơi xuất phát các phi-vụ oanh-tạc miền Bắc VN. Ngày 8.3.1965, giai-đoạn Mỹ hóa chiến-tranh VN chính thức bắt đầu khi 3500 TQLC Mỹ đổ bộ vào bãi biển Nam Ô, Ðà-Nẵng.

 

 

 

 Tài Liệu Tham Khảo

 

  1. Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975,Tập III, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  2. L.H. Lê, D.T. Vuong & S.Q. Nguyen, Ap Bac, Foreign Languages Publishing House, Hanoi, 1965.
  3. V Trần, Bình Giả ơi! Còn Nhớ Mãi; Những Bước Chân Âm Thầm, Tác giả xuất bản, California, 1997.
  4. P. Arnett, Live from the Battlefield, Corgi Books, London, 1995.
  5. Lý Tòng Bá, Hồi Kí 25 Năm Khói Lửa Của Một Tướng Lãnh Cầm Quân Tại Mặt Trận,Tác-giả xuất-bản, California, 1995.
  6. T. Maitland & P. McInemy, The Vietnam Experience – A Contagion of War,Boston Publishing Co., Boston, 1983.
  7. H.V. Ðặng, Tiểu Ðoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến, Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến– Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, 1997.
  8. Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Ban Tổng Kết Kinh Nghiệm Chiến Tranh, Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975,nxb Quân Ðội Nhân Dân, 1980.
  9. Dương Ðình Lôi và Xuân Vũ, 2000 Ngày Ðêm Trấn Thủ Củ Chi, Tập 1, nxb Trời Nam, Texas, 1991.
  10. Tài-liệu đã dẫn trên, Tập 2, 1992.
  11. Hoàng Linh Ðỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi,Tác giả xuất bản, California, 1987.
  12. Pentagon Papers, Gravel Edition, Vol.III, Trang 494-496, Beacon Press, Boston, 1971.
  13. M.G. Raskin & B.B. Falls, Eds., The Vietnam Reader: Articles and Documents on American Foreign Policy and the Vietnam Crisis, Random House, Vintage Books, 1965.
  14. S. Karnow, Vietnam – A History, Penguin Books Ltd., Middlesex, 1983.
  15. Pentagon Papers, Gravel Edition, Vol. III, Trang 262, Beacon Press, Boston, 1971.
  16. L. Hoàng và V.M. Hà, Nam Việt-Nam 1954-1975 Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Tác-giả xuất bản, Texas, Tháng 10.1990.
  17. Trần Ngọc Toàn, Vào Nơi Gió Cát, nxb Miền Ðông, Virginia, 1991.
  18. A. Robinson, Weapons of the Vietnam War, Bison Books Ltd., London, 1983.
  19. W.C. Westmoreland, A Soldier Reports,Da Capo Press, New York, 1980.
  20. E. O’Ballance, The Wars in Vietnam 1954-1980, Hippocrene Books, Inc., New York, 1981
  21. W.C. Gibbons, The U.S. Government and the Vietnam War,Part III: January-July 1965, Princeton University Press, New Jersey, 1989.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương III

 

 

VNCH và Ðồng-minh

chống Cộng-sản xâm-lược

 

 

 

 

 

Trận Vũng Rô

 

 

 

 

Hội-nghị Ban chấp-hành Trung-ương đảng CSVN lần thứ 15 vào tháng 1.1959 đã phân-tích tình hình VN và nhận-xét (1): “Cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành một cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”. Ðến đại-hội đại-biểu toàn quốc lần thứ III được triệu tập vào tháng 9.1960, nhiệm-vụ quân-sự mà đảng CS đề ra là bảo-vệ vững chắc công cuộc xây-dựng chủ-nghĩa xã-hội của nhân-dân miền Bắc, đẩy mạnh cuộc đấu tranh cách-mạng giải-phóng miền Nam và làm nghĩa-vụ quốc-tế.

Căn cứ vào nhiệm-vụ đã đề ra, Bộ Chính-trị đã thảo-luận và thông qua kế-hoạch quân-sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965) ngày 25.2.1961 với các chủ-trương sau (2):

. Xây dựng lực lượng vũ trang hải lục không quân để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào.

. Xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Nam với tổ chức đến cấp trung đoàn.

. Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng Lào. Tổ chức bộ đội tình nguyện VN phối hợp chiến đấu với bộ đội bạn.

. Chấn chỉnh các cơ quan lãnh đạo và chỉ huy ở Bộ quốc phòng và các quân khu. Chuẩn bị trong trường hợp chiến tranh mở rộng, bộ tư lệnh quân khu sẽ tổ chức các bộ tư lệnh dã chiến và các bộ tư lệnh địa phương.

Như vậy mục-tiêu chiếm miền Nam bằng vũ-lực đã được đảng CSVN đặt lên trọng-tâm hàng đầu trong các kế-hoạch quân-sự. Ðể phát-triển lực-lượng từ một số cán-bộ gài lại sau hiệp-định Genève mà hệ-thống đã bị chính-sách tố Cộng của Tổng-thống Diệm phá hủy khá nhiều, CS cần một số tối thiểu trang-bị về vũ-khí để phát động lại chiến-tranh du-kích. Ngày 19.5.1959, đoàn vận-tải 559 được thành-lập để chuyển-vận vũ-khí xâm nhập vào Nam theo đường liên Việt Liên khu 5 đã được thiết-lập trong cuộc kháng-chiến chống Pháp trước đây. Theo thời-gian, đường xâm nhập nầy được mở rộng thành một hệ-thống mang tên đường mòn Hồ-Chí-Minh. Quân-số của đoàn 559 do đó cũng tăng dần. Lúc mới thành-lập chỉ là tiểu-đoàn 301 với quân-số 440 người (3) đã tăng lên đến 3 ngàn người vào năm 1961. Mười hai tháng sau, quân-số tăng gấp đôi. Tuy nhiên thời gian đi từ Bắc vào Nam mất khoảng 2, 3 tháng và luôn luôn bị đe dọa bởi không thám, biệt-kích và bệnh tật. CSBV do đó phải nghĩ đến việc sử-dụng đường biển.

 

Thời-gian xâm nhập theo đường biển từ Bắc vào Nam chỉ vào khoảng từ 7 đến 10 ngày.

Tháng 7.1959, tiểu-đoàn 644 hay còn được gọi dưới tên là đoàn 759 được thành-lập để phụ-trách tuyến xâm nhập bằng đường biển. Ðể che giấu hoạt-động, đoàn 759 chính thức mang tên là Tập đoàn Ðánh cá miền Nam với trụ sở đóng tại sông Gianh thuộc tỉnh Quảng-Bình.

Ngày 30 Tết năm 1961, chuyến tàu đầu tiên chuyên chở quân nhu và thuốc men ra đi với bến dự định sẽ đến là vùng Hố Chuối dưới chân đèo Hải Vân thuộc tỉnh Quảng-Nam. Tuy nhiên chuyến tàu nầy bị phát giác và bị bắt giữ (4). CS do đó đã ra chỉ-thị cho Trung-ương-cục miền Nam tổ-chức các tàu từ miền Nam ra Bắc để vạch các đường xâm nhập thuận lợi và hướng dẫn các tàu từ Bắc vào.

Tàu gỗ đầu tiên mang 15 tấn vũ-khí khởi hành từ Ðồ-Sơn ngày 8.4.1962 đã đến bến Ðầm Chim tại Cà-Mau ngày 18.4.1962.

Tháng 1.1964, Cục hải-quân của quân-đội CSBV được đổi tên thành Bộ Tư-lệnh hải-quân. Lữ-đoàn 125 trực thuộc Bộ TTM quân-đội CSBV nay được đặt dưới quyền điều động của Bộ Tư-lệnh Hải-quân. Lữ-đoàn được phát-triển mạnh với việc gia tăng quân-số, tuyển chọn từ các đơn-vị hải-quân, các đơn-vị giao-thông đường biển quốc-doanh và các đoàn tàu đánh cá. Ngoài các tàu gỗ có sẵn, các tàu sắt loại Quảng-Châu do Trung-Cộng viện-trợ, trọng-tải 100 tấn cũng được đưa vào sử-dụng. Hệ-thống các bến cất hàng cũng được mở rộng. Trước đây chỉ có hai bến Bính và Ðồ-Sơn, nay chuyển ra vùng Hạ-Long, Móng Cái (4).

 

  1. Diễn-Tiến

 

Quốc lộ 1 khi đi qua ranh giới giữa hai tỉnh Phú-Yên và Khánh-Hòa phải vượt qua một rặng núi lớn do dãy Trường-Sơn chạy ra tận biển. Ðường xe lửa do độ dốc núi đã được làm xuyên qua đường hầm. Quốc lộ 1 phải uốn khúc quanh co đi lên một ngọn đèo cao nhất VN là đèo Cả. Qua khỏi đèo, phía bắc là xã Hòa Hiệp. Chân đèo phía nam là làng Ðại Lãnh với những rặng dừa nổi tiếng. Ði xa hơn nữa là Tu Bông, Vạn Giã rồi Hòn Hèo, Hòn Khói trước khi đến Nha-Trang (xem sơ-đồ 1). Phía đông đèo Cả là dãy Trường-Sơn cao ngất với rừng già hiểm trở. Phía tây là vực biển sâu hút. Ðó là Vũng Rô với ba mặt là vách đá dựng đứng, mặt còn lại trông ra biển có hai hòn đảo chắn ngang như một tấm bình phong.

Với địa-thế lý-tưởng như vậy, chuyến tàu chuyên chở vũ-khí đầu tiên cho miền Trung đã chọn bến đổ hàng là Vũng Rô vào giữa năm 1964. Sau đó nhiều chuyến tàu khác đã tiếp tục đổ hàng tại đây một cách an toàn.

Ngày 2.2.1965, tàu số 401 do Lê-Văn-Thân làm thuyền trưởng, Phan-Văn-Bảy làm chính-trị-viên rời bến Hòn Gai với bãi đổ hàng dự định là Vũng Rô. Tàu hải hành đi về hướng Trung-Cộng để đánh lừa các phi-cơ tuần phòng của Mỹ. Khi đến hải cảng Duy-Ninh của Trung-Cộng thì được báo tin hải quân Mỹ đang tuần phòng nghiêm nhặt tại phía nam. Tàu do đó phải ở lại Duy-Ninh khoảng 10 ngày mới ra khơi tiếp tục cuộc hành-trình. Ngày 15.2, tàu đến ngoài khơi vùng biển phía nam Tuy Hòa thì đổi hướng chạy thẳng vào bờ. Cập bến Vũng Rô, vũ-khí đạn dược được vội vã bốc và cất giấu trong các hang đá chung quanh. Công-tác chưa xong nhưng phải tạm hoãn lại vì trời đã sáng. Tàu được ngụy trang che giấu với hy-vọng đến tối sẽ tiếp tục việc bốc hàng.

Sáng ngày 16.2.1965, Trung-úy J.S. Bowers lái một trực-thăng UH-1B từ Qui-Nhơn trong một phi-vụ tản thương, khi bay  ngang qua Vũng Rô, cách Nha-Trang khoảng 50 dặm về phía Bắc đã phát-giác được con tàu ngụy-trang (xem sơ-đồ 2). Ông đã báo cáo ngay cho Thiếu-tá H.P. Rodgers, cố-vấn-trưởng tại Bộ Tư-lệnh Vùng 2 Duyên-hải tại Nha-Trang. Hải quân Thiếu-tá Hồ-Văn Kỳ-Thoại, Tư-lệnh Vùng 2 Duyên-hải đã liên-lạc để một phi-cơ thám thính bay lên quan-sát.

Sau khi quan-sát, tàu sắt được nhận dạng dài khoảng 80 bộ với trọng-tải khoảng 300 tấn. Các phi-cơ khu-trục AD-1 Skyraider được sử-dụng để oanh-kích tàu nầy. Sau ba đợt tấn-công, tàu bị mắc cạn và nghiêng hẳn về một bên. Phi-cơ tiếp tục tấn-công các lực-lượng CS trên bờ. Trong khi đó, Tư-lệnh Vùng 2 Duyên-hải liên-lạc với Bộ Tư-lệnh sư-đoàn 23 BB tại Tuy-Hòa, duyên-đoàn 24 cũng như liên-đoàn Người Nhái để phối-hợp hành-quân. Ðến chiều, hai thủy-thủ CSBV được lệnh trở lại tàu để giật khối chất nổ 500 ký đã gài sẵn trong phòng máy. Tuy nhiên do tàu bị chìm, cửa vào phòng máy bị khóa chặt nên không thể phá hủy tàu.

Ngày 17.2, hải-vận-hạm Tiền-Giang (HQ 405) đến Tuy-Hòa nhưng đại-đội BB của sư-đoàn 23 vẫn chưa có mặt theo kế-hoạch. HQ 405 do đó đã hải hành ra thẳng Vũng Rô. Ðến tối, quân khu 5 CS gửi một tiểu-đội công-binh cùng với một tấn chất nổ để tìm cách phá hủy tàu nhưng không thành công.

Ngày hôm sau, một buổi họp được triệu tập tại Nha-Trang với sự tham-dự của Chuẩn-tướng W. Depuy, đại-diện cho Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) cùng các đại-diện của sư-đoàn 23 BB, Lực-Lượng Ðặc-Biệt, hải-quân VNCH và hải-quân Mỹ để tổ-chức cuộc hành-quân. Theo kế-hoạch thì hai tiểu-đoàn BB sẽ làm lực-lượng ngăn chận dọc theo quốc lộ 1. Một đại-đội BB khác sẽ từ đồn đèo Cả tiến dọc theo bờ biển đến vị-trí tàu chìm. Một đại-đội LLÐB sẽ được trực-thăng-vận đến Ðại-Lãnh để từ đây lên HQ 405 và đổ bộ vào bờ biển gần tàu địch. Thiếu-tá Thoại chỉ-huy trực tiếp cuộc hành-quân. Cũng trong đêm hôm đó, hộ-tống-hạm Tụy-Ðộng (HQ 04) chuyên-chở 14 người nhái và Trung-úy F.W. Anderson, cố-vấn đơn-vị người nhái đến Vũng-Rô.

Sáng ngày 19.2, HQ 405 chuyên-chở đại-đội 2 LLÐB do Trung-úy Từ-Vấn chỉ-huy tiến vào bờ biển Vũng Rô. Khi còn cách bờ khoảng một cây-số, địch quân tác-xạ dữ-dội vào tàu bằng đủ các loại súng. Tàu bị trúng đạn và hai thủy-thủ bị tử thương nên phải lùi ra. Sau khi họp bàn, tàu trở lại với sự yểm-trợ của không-quân và hai tàu chiến bạn (HQ 04 và HQ 08, Chi-Lăng II). Ðại-đội LLÐB đổ bộ và tiến về hướng mục-tiêu đã được chỉ-định. Di-chuyển được khoảng một cây-số, đại-đội chạm địch. Súng cối của địch bắn trúng hướng di-chuyển nên đại-đội phải dạt về phía Tây Nam dọc theo bờ biển. Sau khi tiến thêm khoảng 300 thước, toán tiền sát báo cáo tìm thấy một hang rộng. Một trung-đội được lệnh tiến chiếm hang nầy. Các binh-sĩ LLÐB khám-phá được trong hang rất nhiều vũ-khí, đạn dược, quân dụng và thuốc men. Phần đại-đội còn lại dàn đội hình dọc theo triền núi. Ðịch quân phát giác được sự hiện diện của LLÐB nên bắt đầu tấn-công. Tuy nhiên các chiến hạm tác-xạ yểm-trợ rất hữu-hiệu nên địch quân phải rút lui. Các binh-sĩ LLÐB mở rộng tuyến phòng thủ bằng cách chiếm các cao điểm kế cận. Trong khi đó, thủy-thủ-đoàn trốn thoát và được giao liên đưa lên Trường-Sơn để sau đó theo đường mòn Hồ-Chí-Minh trở về Bắc.

Ngay chiều hôm đó, một số các tướng lãnh Việt, Mỹ và đại-diện của liên-đoàn 5 LLÐB Mỹ đã đến nơi quan-sát và khen thưởng các quân-nhân hữu công. Hải-vận-hạm Tiền-Giang ủi bãi để chuyển-vận số vũ-khí vừa mới tịch thu được. Hai ngày sau, đại-đội 2 LLÐB được trực-thăng-vận về Nha-Trang. Hai đại-đội LLÐB khác sau đó được trực-thăng-vận đổ xuống mũi Varella để tiếp-tục hành-quân tìm kiếm các nơi cất giấu vũ-khí của CS. Kết-quả đã khám-phá được thêm một hầm vũ-khí nữa với hơn 100 vũ-khí và nhiều đạn dược.

Cuộc hành-quân Vũ-Ngọc-Diện chấm dứt ngày 19.2.1965.

 

  1. Hậu-Quả

 

Vũ-khí và quân-trang, quân-dụng bị tịch thu gồm (5): 2000 súng Mauser, 1000 trung-liên, 100 súng các-bin, 2 đại-liên, 15 tiểu-liên, 1 đại-bác 57 ly, khoảng 1000 lựu đạn và hơn một triệu đạn súng nhỏ cùng nhiều chất nổ.

Các nhân-viên thuộc Ủy-hội Quốc-tế Kiểm-soát Ðình Chiến được mời đến để giám-sát những bằng chứng về sự xâm nhập vào miền Nam của CSBV.

Các tài-liệu tịch thu được trên tàu cho biết con tàu nầy đã chuyển hàng vào miền Nam tất cả 23 chuyến (6). Trên thực tế, một tài-liệu lịch-sử của CS đã xác nhận số-lượng xâm nhập bằng đường biển như sau (2): “Cho đến tháng 2-1965, khi địch phát hiện thuyền vận chuyển của ta từ Bắc vào Nam tại Vũng Rô (tỉnh Phú Yên) thì chúng ta đã vận chuyển được gần 5.000 tấn vũ-khí vào các chiến trường miền Nam, nhất là ở Nam Bộ”.

 

  1. Nhận-Xét

 

Từ đầu thập niên 60, tình báo Việt Mỹ đã có những bằng chứng cho thấy CSBV đưa người và quân dụng xâm nhập vào Nam. Ngay cả hai thành viên Ấn-Ðộ và Gia-Nã-Ðại thuộc Ủy-hội Kiểm-soát Ðình Chiến trong một phúc-trình năm 1962 đã ghi (7): “Nhân viên vũ trang và không vũ-trang, vũ khí, đạn dược và những hàng hóa khác đã được gửi từ miền Bắc vào Nam với mục đích yểm trợ, tổ chức, tiến hành những hoạt động thù nghịch, kể cả các cuộc tấn công vũ trang trực tiếp chống lại quân đội và chính quyền miền Nam”.

Bộ-trưởng quốc-phòng McNamara trong nghị-định-thư ngày 27.11.1961 đã đề-nghị hải-quân Mỹ trợ giúp VNCH trong việc tuần phòng và kiểm-soát duyên hải, sông ngòi

 

miền Nam (8).

Ngày 16.12.1961, hai hộ-tống-hạm Tây-Kết (HQ 05) và Vân-Ðồn (HQ 06) của hải-quân VNCH bắt đầu tuần tiễu tại phía Nam vĩ-tuyến 17. Sáu ngày sau, năm trục-lôi-hạm (MSO) thuộc hải-đội 73 trục lôi của hải-quân Mỹ cũng tham-gia tuần tiễu trong khu-vực được gọi chung là trục Bắc.

Ngày 27.2.1961, hai khu-trục-hạm hộ-tống (DE) của Mỹ được lệnh tuần tiễu từ Cà Mau đến Phú-Quốc còn được gọi là trục Nam để ngăn chận đường xâm nhập từ Kampuchia.

Do không phát-giác được những xâm nhập bằng đường biển của CS, kế-hoạch tuần dương trục Nam của hải-quân Mỹ được chấm dứt ngày 21.5.1962 và trục Bắc kể từ ngày 1.7.1962. Sau đó hải-quân VNCH phụ-trách hoàn toàn việc tuần dương. Với số chiến hạm và chiến đĩnh có thể sử-dụng vào công-tác tuần dương là 30 chiếc để bao phủ bờ biển từ vĩ-tuyến 17 đến Phú-Quốc, sẽ không ai ngạc nhiên khi CSBV càng ngày càng mở rộng việc xâm nhập vào Nam bằng đường biển. HQ Ðại-tá Chung-Tấn-Cang, Tư-lệnh HQ/VNCH đã nói với HQ Ðại-tá S. Hardcastle, cố-vấn-trưởng hải-quân rằng 60% quân-dụng xâm nhập vào Nam được chuyển-vận bằng đường biển (7). Tướng Westmoreland, Tư-lệnh MACV trong hồi ký của ông cũng đưa ra một con số tương tự là 70% (9). Tuy nhiên Phó Ðô-đốc P.P. Blackburn, Jr., nguyên Tư-lệnh Ðệ thất Hạm-đội ước tính rằng chỉ có khoảng 1/50 số-lượng quân-dụng, vũ-khí xâm nhập vào Nam được chuyển-vận bằng đường biển (6).

Sau cuộc đảo-chính lật đổ Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm năm 1963, tình-trạng hỗn loạn về chính-trị tại miền Nam khiến CSBV càng đẩy mạnh sự xâm nhập vũ-khí và quân-dụng để tối tân hóa trang-bị cho quân-đội CS tại miền Nam, với hy-vọng sẽ đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng. Chuyến tàu đầu tiên khởi-hành từ Hải-Phòng ngày 23.9.1963 cho các tỉnh miền Ðông đã được ghi lại như sau (10): “Chính 30 tấn vũ khí nầy đã trang bị cho lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đánh thắng trận Bình Giã – một thắng lợi chứng tỏ trình độ tác chiến của bộ đội ta đã được nâng lên thành chiến dịch”.

Tháng 1.1964, một toán gồm 8 sĩ-quan hải-quân Mỹ dưới sự hướng-dẫn của Hải quân Ðại-tá P.H. Bucklew đã họp tại Sài-Gòn để nghiên-cứu việc xâm nhập miền Nam của CSBV (11). Nhận xét của bản phúc-trình sau cuộc họp cho rằng khối lượng quân dụng, vũ-khí xâm nhập đủ để yểm-trợ cuộc chiến của CS tại miền Nam đồng thời đề-nghị dùng lực-lượng của Mỹ để ngăn chận sự xâm nhập nầy. Ngoài việc tổ-chức phong-tỏa ngoài biển, phúc-trình Bucklew còn đề-nghị tổ-chức lực-lượng lưu-động để ngăn chận các tuyến xâm nhập dọc theo biên-giới Lào và Kampuchia.

Việc khám phá tàu của CSBV tại Vũng Rô đã đánh dấu một bước ngoặc mới trong chiến-tranh Việt-Nam. Việc xâm nhập bằng đường biển của CSBV được chứng-minh với bằng cớ rõ ràng mặc dù đài phát-thanh Hà-Nội đã chối bỏ bằng cách cho rằng sự kiện Vũng Rô là một ngụy tạo của chính-phủ VNCH.

Hải quân Trung-tá R.L. Schreadley đã viết (6): “Biến cố tại Vũng Rô đã xác nhận

sự xâm nhập vũ khí và quân cụ của CSBV. Sự xuất hiện đồng loạt của vũ khí mới với khẩu kính 7.62 ly do VC sử dụng rất nhiều tại các vùng ven biển đưa đến kết luận chắc chắn là nhiều vị trí khác nữa đã được sử dụng làm nơi nhận hàng theo đường biển”.

Ngày 3.3.1965, Tướng Westmoreland triệu tập một phiên họp gồm các đại-diện của hải-quân Việt và Mỹ để tìm biện-pháp đối phó. Kết-quả của phiên họp đã đưa đến việc thành-lập chiến-dịch Market Time.

Bờ biển miền Nam VN, từ bờ ra khơi 40 dặm, sẽ được chia thành 9 khu-vực thuộc trách-nhiệm của 4 vùng duyên-hải. Các đơn-vị hải-quân Mỹ tham dự chiến-dịch được tổ-chức thành Lực-lượng Ðặc-nhiệm 115 với Bộ Tư-lệnh đặt tại Sài-Gòn và phối-hợp hoạt-động qua 5 Trung-tâm Duyên-phòng tại Ðà-Nẵng, Qui-Nhơn, Nha-Trang, Vũng-Tàu và An-Thới. Khu vực viễn duyên sẽ do 28 khu-trục-hạm và tuần-dương-hạm phụ-trách. Khu-vực cận duyên sẽ được tuần phòng bởi 84 duyên tốc đĩnh (PCF) và 26 tuần duyên đĩnh (WPB). Trên không, các phi-cơ SP-2H Neptune, đặt căn-cứ tại Tân-Sơn-Nhất sẽ bay tuần phòng khu-vực từ An-Thới đến Vũng Tàu. Từ phía bắc Vũng Tàu đến vĩ-tuyến 17 do các phi-cơ P-3 Orion của hải-quân Mỹ từ căn-cứ Sangley Point (Phi-Luật-Tân) phụ-trách. Ngoài ra các thủy phi-cơ P-5 Marlin cất cánh từ vịnh Cam-Ranh cũng thỉnh thoảng tham dự chiến-dịch tuần dương nầy.

Ðến tháng 9.1965, một phiên họp được tổ-chức tại Sài-Gòn để thẩm định kết quả của chiến-dịch Market Time. Phiên họp đã đề-nghị gia tăng số chiến-hạm và chiến-đĩnh của chiến-dịch nầy đồng thời tổ-chức một chiến-dịch thứ hai mang tên Game Warden để kiểm-soát và ngăn chận các tuyến đường sông.

Một khoảng cách 25 dặm từ các cửa sông đi sâu về phía thượng lưu sẽ được tuần phòng bởi 120 tuần-giang-đĩnh (PBR) thuộc Lực-lượng Ðặc-nhiệm (LLÐN) 116. Tháng 2.1966, LLÐN nầy gồm hai đơn-vị. LLÐN 116.1 với khoảng 80 PBR phụ-trách hệ-thống sông Cửu-Long. LLÐN 116.2 với số PBR còn lại chịu trách-nhiệm khu-vực Rừng Sát.

Về phía CS, sự kiện Vũng Rô cũng là một diễn biến quan trọng. Trần-Phong nguyên là Tham-mưu-trưởng lữ-đoàn 125 hải-quân CSBV viết (4): “Vụ Vũng Rô là sự kiện lớn trong lịch sử con đường Biển Ðông. Nó chấm dứt một giai đoạn: giai đoạn hoàn toàn bí mật của con đường này. Không dập tắt được quyết tâm lớn của chúng ta dùng Biển Ðông làm con đường quan trọng vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam đang ngày càng đánh lớn hơn. Nó chỉ mở ra một giai đoạn mới của quyết tâm đó. Gian nan hơn, ác liệt hơn. Mặt đối mặt với kẻ thù trên mặt biển mênh mông”.

Sau vụ Vũng Rô, việc xâm nhập vào Nam phải tạm ngừng đến tháng 10.1965 mới được tiếp tục trở lại với nhiều thay đổi.

Ðầu tiên là hải trình. Trước đây các tàu xâm nhập là tàu nhỏ để ngụy trang thành các tàu đánh cá của miền Nam và hải hành theo phương-pháp hàng hải cận duyên mà hải-quân CSBV gọi là địa văn. Tàu chỉ chạy ven bờ và lấy các đối vật như đỉnh núi, cửa sông, v.v. làm điểm chuẩn để hải hành. Biến cố Vũng Rô cho thấy phương-pháp hải hành nầy không còn an toàn nữa như Trần-Phong đã viết tiếp (4): “Ðây là một chuyển hướng lớn lắm. Chúng tôi phải từ bỏ phương thức đi ven bờ, theo địa văn. Phải chuyển sang lối đi đường vòng ra rất xa bờ, đi trên đường biển quốc tế, vòng sang những miền biển Philippin, Palaoan, Bócnêo, Indonêxia, Malaixia …, và từ những miền biển xa ấy, bất thần đâm thẳng vào một bến dự định nào đấy ở miền Nam … Muốn đi như vậy, tàu phải lớn hơn, có tốc độ cao hơn, trang bị hiện đại hơn, phương pháp đi biển là phương pháp thiên văn. Công tác hàng hải phức tạp hơn. Trong biên chế của tàu phải có thêm một bộ phận chuyên môn rất quan trọng là các chiến sĩ hàng hải. Có tàu còn có cả chiến sĩ ra đa”.

Các tàu bè, trang bị cũng được gia tăng về số-lượng, trọng-tải (4): “Xưởng đóng tàu Hải Phòng nhận một nhiệm vụ tuyệt mật và khẩn cấp: cải dạng 4 tàu số 68, 69, 100 và 42 từ dạng tàu vận tải sang tàu đánh cá. Ðồng thời bắt đầu cho đóng 12 tàu cao tốc trọng tải từ 15 đến 20 tấn, và chuẩn bị đóng tiếp luôn 5 tàu cao tốc trọng tải 50 tấn, tất cả theo dạng tàu đánh cá và tàu buôn”.

Cũng như về vận-tốc hải hành để đáp ứng với chiến-thuật xâm nhập mới (4): “Cần có tàu cao tốc là vì chiến thuật thay đổi: tàu đi đến những vùng biển rất xa, đánh lạc hướng địch, rồi bất ngờ dùng tốc độ rất cao lao thẳng vào bờ, thời gian tàu đi trên vùng biển thuộc miền Nam do địch kiểm soát sẽ rất ngắn, vào bờ cất hàng xong, lại dùng tốc độ cao vượt qua rất nhanh vùng biển địch kiểm soát, lao ra vùng biển quốc tế, an toàn. Ðó chính là để hạn chế bớt khả năng chạm địch, buộc phải đánh địch trên biển, hết sức bất lợi. Hạn chế, chứ không loại trừ hoàn toàn được. Bởi Mỹ dùng máy bay trinh sát ngày đêm kiểm soát vùng trời rất rộng, tàu ta rời bến miền Bắc là nó có thể phát hiện được rồi, nó sẽ theo dõi ta suốt hành trình dài, chờ khi ta vào hải phận miền Nam là vây đánh. Nghĩa là, sau Vũng Rô, tiếp tục đi trên con đường Biển Ðông sẽ là một trò ú tim lớn, ta hết sức cố gắng lừa địch nhưng đồng thời sẵn sàng chấp nhận đánh địch trên biển khi không còn khả năng nào khác”.

Ðồng thời tổ-chức lại hệ-thống các bến bãi đổ hàng (4): “Trong thời gian dừng lại hơn nửa năm đó, chúng tôi còn ráo riết theo dõi tình hình địch và tổ chức trinh sát khẩn trương: cho một số chuyến tàu nhỏ, tốc độ tương đối cao, chạy không trên các tuyến đường biển xa dự kiến sau nầy ta sẽ đi. Ðồng thời cho một số đoàn đi đường bộ, vượt Trường Sơn vào miền Nam nắm tình hình địch các vùng ven biển và tổ chức lại các bến. Ví dụ ở khu 5 bấy giờ trong cơ quan tham mưu của quân khu có 1 phòng mang mật danh là phòng HB do anh Huỳnh Kim phụ trách. Ngay trong cơ quan tham mưu quân khu, các bộ phận khác cũng chẳng biết rõ ràng về công việc của anh Kim và phòng HB. Anh Kim chính là người chỗ chúng tôi vượt Trường Sơn vào, và phòng HB của anh chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ ngoài nầy theo một đường dây riêng”.

Với những chuẩn bị trên, đêm 15.10.1965, tàu 42 chở 61 tấn vũ-khí rời bến Ðồ Sơn và đến rạch Kiến Vàng tại Cà Mau đêm 20.10.1965. Ðường Trường-Sơn trên biển của CSBV được nối lại sau thất-bại tại Vũng Rô tuy nhiên không còn dễ-dàng như trước nữa. TMT lữ-đoàn 125 phải thú nhận (4): “Nhưng cứ nhìn cái tỉ lệ các tình huống được ghi trên mươi tờ phiếu tình cờ còn lại này mà xem, cũng đủ hình dung đôi chút tình hình: hầu như không chuyến nào hoàn toàn yên ổn trót lọt”.

Ðầu năm 1968, trong khi cuộc tổng công-kích Tết Mậu Thân xảy ra tại các thị-trấn miền Nam thì ngoài biển, lữ-đoàn 125 thay đổi chiến-thuật xâm nhập. Nhiều tàu cùng xâm nhập một lúc với các hướng khác nhau để khi một tàu bị khám-phá sẽ cố gắng thu hút lực-lượng bao vây với hy-vọng các tàu khác sẽ đi thoát. Tuy nhiên phương cách nầy không thành-công vì hải và không-quân Mỹ được lệnh tăng-cường lực-lượng để yểm-trợ cho QLVNCH. Cả trên không lẫn trên biển do đó đã bị Mỹ canh phòng nghiêm nhặt hơn. Nhật ký hành quân của Phó Chính-ủy lữ-đoàn 125 ghi lại (4): “Chính là ngồi ở đây, anh em tham mưu chúng tôi đêm đêm theo dõi số phận các con tàu đang lênh đênh trên biển xa, rất xa … Việc cả 4 chiếc đi 4 hướng khác cùng một lúc tháng 2.1968 đều bị chận đánh, chứng tỏ tình hình trên Biển Ðông đã khác trước lắm rồi. Chúng tôi là những người làm công tác tham mưu, chúng tôi nghĩ phải nhìn thẳng vào sự thật: về cơ bản, việc ta dùng tàu chuyển vũ khí vào Nam không còn bí mật gì nữa. Bây giờ, đi tức là chấp nhận mặt đối mặt với kẻ thù. Kẻ thù đây là hạm đội 7 Mỹ hùng mạnh, hải quân ngụy miền Nam trong thực tế cũng mạnh hơn hải quân ta, và hệ thống kiểm soát ven biển chằng chịt của chúng. 1968. Rồi 1969. Thực tế là các bến bãi ngang khu 5 đã hoàn toàn bế tắc. Vào đấy chỉ có hy sinh mà không làm được gì nữa. Các bến Nam Bộ còn gắng gượng đi được ít nhiều, sử dụng tàu cao tốc, cố gắng tạo nên cái bất ngờ trong điều kiện về cơ bản không còn bất ngờ nữa …, nhưng cũng ngày càng gay hơn, bị đánh nhiều hơn, tổn thất nặng hơn, kết quả ít hơn. Năm 1971. Rồi 1972. Tháng 4.1972 xảy ra vụ tàu 645 của Nguyễn Văn Hiệu. Ðây là lần đầu tiên chúng nó công khai đánh tàu ta không phải trong hải phận miền Nam, mà ngay trên vùng biển quốc tế. Có thể coi đây là chuyến tàu sắt cuối cùng trên con đường Biển Ðông bắt đầu mở ra từ năm 1954. Trong thực tế, con đường đến đây chấm dứt”.

Năm 1972, CSBV lại một lần nữa thay đổi chiến-thuật. Ðoàn 371 do Tư Mau cầm đầu giả dạng làm nghề đánh cá tại Ðầm Cùng, vùng U Minh Thượng, phía tây mũi Cà Mau. Ðến cuối năm, họ ra hoạt-động chính thức tại Rạch-Giá với các giấy tờ giả mạo. Từ đây, các tàu hai đáy chuyên-chở vũ-khí từ Bắc vào Nam. Ðến năm 1973, Tư Mau khuếch-trương cơ-sở tại Vũng Tàu. Tháng 11.1973, tổ-chức bị bại lộ nhưng Tư Mau thoát do đang trên đường ra Bắc. Khoảng một năm sau, Bộ TTM quân-đội CSBV dàn xếp để Tư Mau giải-phẫu thay hình đổi dạng và trở lại miền Nam tổ chức các tàu chuyên-chở vũ-khí để chuẩn-bị cho kế-hoạch tổng tấn-công 1975-76. It lâu sau, một chủ vựa cá tên Sáu Thuận xuất hiện tại Sài-Gòn.

Một quyển sách của CS đã kể lại giai-đoạn nầy như sau (12): “Thế phát triển của cách mạng đã khác trước, hàng vào không phải chỉ đổ ở miền tây Nam Bộ, mà đổ ở Biên Hòa, ở Sài Gòn, chờ thời cơ lớn. Ðể làm được nhiệm vụ đó, tổ chức bỏ tiền, tạo điều kiện cho Tư Mau mua nhà ở Sài Gòn đóng vai tư sản chủ tàu đánh cá biển, lập ra công ty Việt Long cắm ở  số nhà 27/20, đường Âu Dương Lân, phường Rạch Ông, quận tám Sài Gòn … Tàu thuyền đã nhiều, mạng lưới làm ăn mở rộng. Ðường đi trên biển xa hơn, công ty bắt đầu có tăm tiếng. Các đội thuyền hãng Việt Long chẳng phải dùng hàng của mình nghi trang nữa. Hàng của khách, như mắm, muối, cá tôm, hoa trái … tàu thuyền của hãng chở đi khắp các tuyến đường biển miền Nam. Cách đi lại trên biển thay đổi luôn. Thủy thủ khi cần thì làm ăn thật sự và thỉnh thoảng tung tin các thuyền đánh cá được lắm cá, lắm tôm để làm hỏa mù che mắt giặc. Mừng lắm, thuyền nhỏ cũng tha được 15 tấn hàng, thuyền lớn 27, 30 tấn … Trong mấy tháng trời, Tư Mau tính ra đã chở được trót lọt 520 tấn vũ khí phục vụ các chiến trường”.

Tuyến đường Rạch Giá – Hoàng Sa – Hải Nam – Ðồ Sơn của hải-quân CSBV được tiếp tục cho đến năm 1975. Tư Mau hay Sáu Thuận chính là Thượng-tá Phan-Văn-Nhờ (13).

Trong suốt cuộc chiến, hải-quân Việt và Mỹ đã đánh chìm tất cả 17 tàu của CSBV xâm nhập vào miền Nam (14).

 

 

 

 

 

 

Trận Phụng-Dư

 

 

 

 

Tỉnh Bình-Ðịnh phía bắc giáp với tỉnh Quảng-Ngãi; phía tây giáp ba tỉnh Kontum, Pleiku và Phú-Bổn; phía nam giáp tỉnh Phú-Yên; phía đông là biển. Tỉnh-lỵ là Qui-Nhơn và gồm có các quận Tam-Quan, Hoài-Nhơn (Bồng-Sơn), Hoài-Ân, An-Túc, Bình-Khê, Phù-Mỹ, Phù-Cát, An-Nhơn và Tuy-Phước. Bình-Ðịnh có hai cửa khẩu tốt là Tam-Quan và Qui-Nhơn (xem sơ-đồ 1).

CSBV khai-thác những hỗn loạn chính-trị tại Sài-Gòn sau cuộc đảo-chính Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm để mở rộng cuộc chiến-tranh xâm-chiếm miền Nam. Ðiển hình là tại Bình-Ðịnh, CS chiếm xã Tam-Quan ở phía bắc, cô-lập quận-lỵ Bồng-Sơn và cắt đứt hoàn toàn quốc-lộ 1.

Chiến-đoàn A Thủy-Quân Lục-Chiến (TQLC) do Trung-tá Nguyễn-Thành-Yên chỉ-huy được Bộ TTM tăng phái cho sư đoàn 22 BB để mở các cuộc hành quân bình định. Chiến đoàn gồm tiểu đoàn 1 do Thiếu tá Tôn Thất Soạn chỉ huy và tiểu đoàn 2 do Thiếu tá Hoàng Tích Thông làm tiểu đoàn trưởng cùng với một pháo đội đại bác 75 ly gồm bốn khẩu do Trung úy Ðoàn Trọng Cảo làm pháo đội trưởng (1).

Cuối tháng 3.1965, chiến-đoàn được phi-cơ C-123 vận-chuyển từ phi-trường Tân-Sơn-Nhất ra Qui-Nhơn. Sau đó di-chuyển đến Bộ tư-lệnh sư-đoàn 22 BB tại núi Bà Di nhận lệnh rồi đi thẳng đến quận lỵ Bồng-Sơn để chuẩn-bị hành-quân. Quận lỵ Bồng-Sơn nằm trên quốc-lộ 1 và cách thị-xã Qui-Nhơn khoảng 60 cây-số. Ðây là một vị-trí chiến-lược quan-trọng, nhất là sau trận An-Lão, khi QLVNCH vì địa-thế khó khăn hiểm trở đã bỏ thung lũng nầy. Bồng-Sơn do đó trở thành tuyến đầu luôn luôn chịu áp-lực của CS với mục-tiêu cắt đứt quốc-lộ 1.

Ðịa-thế vùng hành-quân từ Bồng-Sơn cho đến đèo Bình-Ðê ở phía bắc khá bất lợi cho lực-lượng hành-quân. Phía tây là đồi núi với các rừng dừa trải dài mút mắt. Bên phía đông là làng mạc cũng được bao bọc bởi các vườn dừa rợp bóng. Mục-tiêu của cuộc hành-quân là xã Tam-Quan nằm dọc theo quốc-lộ 1 và cách quận-lỵ Bồng-Sơn khoảng tám cây-số về phía Bắc.

 

 

  1. Diễn-Tiến

 

Tám giờ sáng ngày 1.4.1965, tiểu-đoàn 2 TQLC được trực thăng vận từ phi-trường Bồng-Sơn đổ xuống bãi đáp Alpha ở phía tây bắc Tam-Quan khai-diễn cuộc hành-quân Quyết Thắng 131. Tiểu-đoàn 1 và Bộ Chỉ-huy chiến-đoàn đã hoàn tất cuộc đổ quân lúc 1500 giờ cùng ngày.

Tiểu-đoàn 2 chia làm hai cánh quân theo quốc-lộ 1 càn quét về phía nam với mục-tiêu là xã Tam-Quan (xem sơ-đồ 2). TQLC chạm địch nhẹ khi tiến chiếm xã nầy. Sau đó đại-đội 2 ở lại xã để bảo-vệ Bộ chỉ-huy của tiểu-đoàn. Ba đại-đội còn lại tiếp tục tiến về phía nam. Ðại-đội 4 do Ðại-úy Ngô-Văn-Ðịnh chỉ-huy được chỉ-định chiếm một cao-điểm nằm phía bên phải của quốc-lộ 1. Ðại-đội 1 do Ðại-úy Phạm-Nhã chỉ-huy tiến dọc theo quốc-lộ 1 về hướng ấp Phụng-Dư. Bên cánh trái là đại-đội 3 do Ðại-úy Nguyễn-Năng-Bảo làm đại-đội-trưởng (xem sơ-đồ 3).

Khoảng 1800 giờ, đại-đội 3 báo cáo chạm địch tại một địa-điểm cách ấp Phụng-Dư khoảng 400 thước về phía tây nam. Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn quyết định di-chuyển đến đóng chung với đại-đội 1 đang bố trí dừng quân đêm tại ấp Phụng Dư.

Một giờ sáng ngày 2.4, VC dùng chiến-thuật tiền pháo hậu xung tấn công vào ấp Phụng Dư. Vì các đại-bác 75 ly với tầm bắn 9 cây số chỉ yểm-trợ được đến phía bắc của vị-trí đóng quân nên súng cối 81 ly được sử-dụng để tác-xạ yểm-trợ tuyến phía tây cũng là hướng tấn-công chính của địch. Hai đại-đội 2 tại phía bắc và 3 tại phía đông nam cũng được lệnh chuẩn-bị đưa quân tăng viện.

Ðến gần sáng thì tuyến phòng thủ của TQLC hơi nao núng vì đạn dược đã gần cạn. Ngay sau đó đại-đội 3 tiến đến vị-trí phòng-thủ. Hai đại-đội 1 và 3 do đó được lệnh phản-công. Ðại-đội 4 tiến lên chặn địch hướng tây. Ðại-đội 2 ngăn chận phía tây bắc.

Trước sức phản công mãnh-liệt của TQLC, địch quân bỏ chạy nhưng vì vòng vây đã bị khóa chặt nên không thoát được. Ngoài ra các đường dây điện-thoại của CS bị đạn bắn đứt nên đơn-vị lâm trận không nhận được lệnh rút lui. Trận chiến kéo dài đến sáng vẫn còn một số VC lẩn khuất trong khu-vực và đã bị bắn hạ khi hai đại-đội 3 và 4 truy kích. VC bỏ lại 69 xác chết, khoảng 70 được chôn vội tại một giao-thông-hào ở phía Tây Bắc khu-vực phòng-thủ.

Một giờ sau khi trận đánh chấm dứt, Bộ chỉ huy chiến-đoàn và một đơn-vị thuộc tiểu-đoàn 1 TQLC đến. Thiếu-tướng Lê-Nguyên-Khang, Tư-lệnh TQLC và Trung-tá Nguyễn-Thành-Yên, Chiến-đoàn-trưởng chiến-đoàn A đến mặt trận thăm hỏi và ân thưởng nhiều huy-chương cho tiểu-đoàn 2. Sau đó Chuẩn-tướng Nguyễn-Thanh-Sằng, Tư-lệnh sư-đoàn 22 BB cũng đã đến thăm mặt trận. Ðến chiều, Thiếu-tướng Nguyễn-Hữu-Có, Tư-lệnh Quân-đoàn II từ Pleiku đến quan-sát chiến-trường và ngợi khen các đơn-vị hữu công.

Tổng-thống VNCH đã ân thưởng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo-quốc Huân-chương cho tiểu-đoàn-trưởng và bốn đại-đội-trưởng tác-chiến của tiểu-đoàn 2 TQLC.

Tiểu-đoàn 2 TQLC tổ-chức lại hệ-thống phòng-thủ. Hai đại-đội 1 và 2 đóng chung

tại ấp Phụng Dư. Hai đại-đội 3 và 4 trở lại vị-trí đóng quân cũ. Ðến khuya, quân CS trở lại tấn-công nhưng đã bị đẩy lui sau khoảng nửa giờ giao tranh. Tin tức tình-báo sau đó cho biết cuộc tấn-công nầy chỉ nhằm mục-đích lấy các xác chết đã bỏ lại đêm hôm trước vì trong số nầy có một vài cán-bộ chỉ-huy cao-cấp.

Hai tiểu-đoàn 1 và 2 TQLC tiếp-tục tảo-thanh vùng hành-quân từ đèo Bình-Ðê xuống đến Bồng-Sơn. Cuộc hành-quân Quyết-Thắng 131 chấm dứt ngày 27.4.1965.

 

  1. Hậu-Quả

 

Tổng-kết cuộc hành-quân Quyết Thắng 131 (2): “Về phía TQLC có 5 binh sĩ bị tử thương, 36 người khác bị thương, vũ-khí được bảo toàn. Về phía địch, 231 VC bị tử thương, 12 bị bắt, 17 vũ khí cộng đồng với 90 vũ khí cá nhân bị tịch thu”.

 

  1. Nhận-Xét

 

Trên phương-diện chiến-thuật, CS thất bại do sự sơ hở của tình báo. Họ không ngờ là ngoài đại-đội 1 còn có Bộ chỉ huy tiểu-đoàn đến đóng chung trước khi trời tối. Hệ-thống phòng-thủ địa-điểm đóng quân do đó đã thay đổi. Tuyến phòng thủ phía tây, nơi địa hình địa vật thuận lợi cho cuộc tấn-công đã được chủ-lực của đại-đội 1 phòng giữ. Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn và các thành-phần yểm-trợ giữ mặt phía đông. Khi trận chiến xảy ra với hướng tấn công của CS từ phía tây, hệ-thống phòng thủ đương nhiên trở thành hệ-thống phòng-thủ chiều sâu, phối-hợp một cách nhịp nhàng đánh trả địch. Ngoài ra các đại-đội còn lại của tiểu-đoàn 2 TQLC đóng theo thế tam-giác cũng đã tiếp ứng kịp thời tạo thành vòng vây bao kín lực-lượng địch.

Chiến-thắng Phụng Dư đã nâng cao tinh-thần chiến-đấu của QLVNCH sau thất-bại Bình-Giã vào đầu năm 1965. Tiếc thay thành-quả của trận đánh nầy đã không được phổ biến mạnh mẽ, một phần do sự yếu kém của hệ thống thông tin của VNCH, một phần khác và là phần lớn là sự thiếu khách quan của hệ-thống truyền-thông ngoại-quốc.

Trên phương-diện chiến-lược, trận Phụng Dư chỉ là một trong những bước khởi đầu trong chiến-dịch gia tăng cường-độ chiến-tranh tại miền Nam của CSBV. Khoảng cuối năm 1964, hai Tướng Nguyễn-Chí-Thanh và Trần-Ðộ được phái vào Nam để nắm giữ Trung-ương-cục. Các đơn-vị du-kích bắt đầu được tổ-chức thành lực-lượng cơ-động với các vũ-khí mới như tiểu-liên AK-47, súng chống chiến-xa B-40, súng cối 82 ly, đại-bác 57 và 75 ly không giật, phần lớn do Trung-Cộng chế-tạo. Với tổ-chức và trang-bị mới, quân-đội CS đã uy-hiếp ấp chiến-lược Bình-Giã. Tháng 5.1965, Sông Bé tỉnh Phước-Long bị một trung-đoàn quân CS tấn-công. Ðến cuối tháng, mặt trận bùng nổ dữ-dội tại Ba-Gia thuộc tỉnh Quảng-Ngãi. Sang tháng 6, ba trung-đoàn CS mở chiến-dịch Ðồng Xoài, Phước-Long. Hai trung-đoàn khác bao-vây trại LLÐB Ðức-Cơ. Trại LLÐB Bố-Ðức bị tấn-công trong tháng 7. Mùa mưa đến trong tháng 9 cùng với sự hiện diện của các lực-lượng chính-qui CSBV cấp sư-đoàn đã khiến mặt trận Bình-Ðịnh bùng nổ trở lại. Sư-đoàn 325 CSBV với ba trung-đoàn 18, 95, 120 được tăng phái hai trung-đoàn 807 và 101 thuộc quân khu 5 của CS đã đụng độ với sư-đoàn 22 BB/QLVNCH dọc theo tuyến Bồng Sơn – Phù Mỹ – Phù Ly – Phù Cát – Phù Cũ.

Ðại-tướng M.D. Taylor, nguyên Ðại-sứ Mỹ tại Sài Gòn trong giai-đoạn nầy đã báo cáo tình hình tổng quát tại miền Nam VN vào cuối tháng 11.1964 như sau (3): “Những ghi nhận trong năm đó không được khả quan lắm. Kế-hoạch chống phiến-loạn đã bị sa lầy ngoại trừ vùng kế cận Sài Gòn, nơi những nguồn vật lực đặc biệt của chương-trình bình-định hợp-tác cho khu-vực thủ-đô khiến có được một số tiến-bộ giới-hạn. Trong khi quân-đội VNCH gia tăng tiềm-lực và hiệu-quả, Việt Cộng dường như vẫn có đủ khả-năng thay thế thiệt-hại của họ từ sự thu nhận tại địa-phương và gia tăng sự xâm nhập từ miền Bắc. Hoạt-động của họ tại các tỉnh phía bắc của miền Nam VN đã bành-trướng và thu đạt những kết quả đáng kể tại một số tỉnh như Quảng-Ngãi và Bình-Ðịnh. Tại đây, tình-trạng khá nguy-hiểm vì họ có thể tạo một vùng kéo dài ra tận bờ biển. Trong chiến-dịch tấn-công, địch quân đang sử-dụng ba chiến-thuật mới hoặc mới phát-triển: dùng súng cối pháo kích các mục tiêu quan trọng như cuộc tấn-công vào Biên-Hòa; bao vây kinh tế một số vùng giới-hạn bằng cách sử-dụng du-kích ngăn chận các trục lộ giao-thông; và gia tăng mức độ xâm nhập từ miền Bắc. Những chiến-thuật nầy cùng với những suy thoái chính-trị là một đe dọa nghiêm trọng cho chương-trình phục hồi các thành thị cũng như an toàn cho các căn-cứ quân-sự quan-trọng … Trong khi Thủ tướng Hương cho thấy sự dũng cảm đáng khen; ông ta còn có một phó Thủ tướng Viên có khả năng, chính-phủ của ông lại gặp khó khăn với những bất đồng và có thể sụp đổ bất cứ lúc nào. Nếu không có được một chính-phủ trung-ương hữu hiệu làm nền tảng, những cố gắng của Mỹ cũng giống như bánh trớn đang xoay, không thể nào tạo được xung lực. Tại các tỉnh, những điểm yếu của thủ-đô trở nên trầm trọng hơn do thiếu tỉnh-trưởng có khả-năng và nhân-viên yểm-trợ hành-chính để có thể tiến hành các chương-trình phức-tạp có liên-quan đến sự thành-công của kế-hoạch bình-định. Tóm tắt, những ghi nhận được trong năm qua cho thấy địch quân đã thành-công trong việc khai-thác sự lật đổ Tổng-thống Diệm và chúng ta, người Mỹ đang thất-bại và bây giờ là điểm cao để thay đổi trước khi quá muộn. Chúng ta phải tìm ra những phương cách để thiết-lập một tổ-chức chính-quyền tối-thiểu có thể quan-hệ với dân-chúng, giữ gìn trật tự tại các thành-phố, bảo-vệ các căn-cứ quân-sự chủ-yếu, định hướng các cố-gắng của chính-phủ VNCH đồng thuận với các nỗ-lực của Mỹ. Ðể thực hiện được những mục-tiêu khiêm nhường nhưng khó khăn nầy, chúng ta cần chuẩn-bị kế-hoạch để đẩy Hà-Nội ra khỏi vai-trò yểm-trợ cho chiến-tranh du-kích”.

  1. Colby, nguyên giám-đốc Cơ-quan Trung-ương Tình-báo Mỹ tại Sài Gòn cũng đã nhận-định về giai-đoạn nầy như sau (4): “Ðứng quan-sát sự hỗn-loạn tại miền Nam VN phía bên ngoài là Cộng-Sản và người Mỹ. Cộng-Sản dần dần khai thác chỗ hổng do sự sụp đổ của chế-độ Diệm tạo ra. Họ gia tăng mức-độ chiến-tranh nhân-dân để chiếm miền Nam, tập-trung vào chiến-thuật chủ-yếu là đấu-tranh chính-trị. Tại miền quê là chiến-thuật tăng-cường cán-bộ và guồng máy chính-trị để phát-triển quyền-lực của Mặt trận Giải-phóng. Tại đô-thị với chiến-thuật khích-động sự kêu gọi hòa-bình bằng thương-thảo giữa các lãnh-tụ của Mặt Trận và chính-phủ Sài Gòn hoặc những gì còn lại của chính-phủ nầy. Ngoài những bước chính-trị nầy, vào mùa thu năm 1964, tình-báo bắt đầu báo cáo những hoạt-động chuẩn-bị trong trường-hợp nhân-dân đô-thị và lực-lượng vũ-trang miền Nam VN không chống đối việc thương-thảo để hợp-tác với Mặt Trận. Ðây là lần đầu tiên chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo sự di-chuyển của các đơn-vị quân-sự CSBV theo đường mòn Hồ-Chí-Minh qua vùng núi của Lào và rừng rậm tại biên-giới Việt-Nam. Các tin tức tình-báo nầy đã được xác-nhận trong những tài-liệu lịch-sử ấn-hành bởi những người Cộng-Sản thắng trận sau chiến tranh. Sự chuyển quân nầy là một tín hiệu rõ ràng rằng chiến-thuật trước đây là gửi các cán-bộ tập-kết để tạo lập sức mạnh chính-trị tại thôn quê miền Nam sẽ được bổ-túc bằng các đơn-vị quân-sự hầu chống lại quân-đội miền Nam và đi vào cứ địa sau cùng của chính-quyền tại các đô-thị. Những hiểu biết của chúng tôi về những khó khăn của đường mòn Hồ-Chí-Minh và những điều-kiện để xây-dựng một cách cẩn-thận các yểm-trợ tiếp-vận và lực-lượng chủ công cho thấy sự đe-dọa sẽ không có trong tức thời. Tuy nhiên những hiểu biết của chúng tôi về quyết tâm của Cộng-Sản VN cũng cho thấy không làm sao lay chuyển được họ. Nhìn tình hình thoái hóa tại Sài Gòn, chúng tôi nghĩ rằng sự chấm dứt vào năm 1965 là một phỏng đoán tương-đối đúng cho thời điểm mà miền Nam VN sẽ sụp đổ và Cộng-Sản chiếm được miền Nam”.

Tướng W.E. Depuy, kiến-trúc-sư của chiến-thuật Lùng và Diệt (Search and Destroy) nổi tiếng đã tóm tắt những thất bại về quân-sự trong giai-đoạn nầy như sau (5): “Tôi đã ở VN trong lúc có sự tranh cãi là có nên đưa quân-đội Mỹ vào miền Nam hay không. Tuy nhiên sự việc rất rõ ràng tại VN bởi vì Việt-Cộng tiêu-diệt các tiểu-đoàn của QLVNCH quá nhanh. Khi tôi nói tiêu-diệt không có nghĩa là mất đến người cuối cùng nhưng có nghĩa là mất hiệu-năng chiến-đấu. Các tiểu-đoàn nầy phải tạo dựng lại từ đầu. Việt-Cộng đánh tan khoảng bốn tiểu-đoàn tại Bình-Giã. Khoảng bốn tại Ba Gia, Quảng Ngãi. Ba hoặc bốn tại Ðồng Xoài. Và khoảng hai tại Sông Bé rồi Dầu Tiếng, đồn điền Michelin, hai hoặc ba tiểu-đoàn nữa. Tổng cộng QLVNCH mất khoảng 15 hay 16 tiểu-đoàn trong vòng 6 tháng. Ðiều đó quá nhiều. Mùa xuân đến, Westmoreland gửi điện văn cho Hoa-Thịnh-Ðốn nói rằng trong mấy tháng qua chúng tôi mất gần như một tiểu-đoàn mỗi tuần và một quận mỗi tháng. Ông ta tiên đoán chính phủ VN chỉ còn tồn tại được 6 tháng nữa nếu chúng ta không làm một cái gì đó. Ý-kiến gần như báo-động nầy là nền-tảng cho việc triển-khai lực-lượng tác-chiến của Mỹ”.

Chính-phủ Mỹ lo ngại trước các báo cáo của Ðại-sứ Mỹ tại Sài Gòn, của Cơ-quan Trung-ương Tình-báo (CIA) và Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) về tình hình không tốt đẹp tại miền Nam VN cả về mặt chính-trị lẫn quân-sự nên đã quyết-định đưa quân Mỹ vào miền Nam hầu cứu nguy cho tình thế. Bộ-trưởng quốc-phòng McNamara đã ghi lại quyết-định của ông như sau (6): “Ðầu tháng Giêng, Việt-Cộng gây thiệt-hại nặng cho hai tiểu-đoàn thiện-chiến của Nam Việt-Nam trong những trận đánh lớn. Ðồng lúc đó những tin tức tình-báo cho biết quân chính qui miền Bắc bắt đầu xâm nhập miền Nam, những thất-bại trên khiến chúng tôi càng thêm lo ngại rằng Hà-Nội và Việt-Cộng đang chuẩn-bị tổng tấn-công và chính-phủ, quân-đội Sài Gòn không thể đứng vững. Miền Nam VN đang sắp sửa sụp đổ. Những sự-kiện nầy khiến tôi kết-luận một cách đau đớn rằng đây là lúc phải thay đổi đường lối”.

Tuy nhiên một điểm cần lưu ý ở đây là trước khi Mỹ quyết-định đưa quân-đội vào tham-chiến trực-tiếp tại VN thì CSBV đã tính toán việc làm nầy từ lâu. Sau khi chiến-tranh chấm dứt, Ðại-tá Bùi-Tín, nguyên Phó Tổng biên-tập báo Quân-Ðội Nhân-Dân đã xác nhận rằng nhiều tháng trước khi TQLC Mỹ đổ-bộ vào VN, quân-đội CSBV đã chiến-đấu tại miền Nam VN. Cũng theo ông thì cuối năm 1963, ông cùng một phái-đoàn được phái vào Nam để thẩm-định tình hình. Báo cáo khi trở lại miền Bắc của họ là Việt-Cộng không đủ thực lực chiến-đấu và đề-nghị đưa quân chính-qui vào Nam (7).

Một quyển sử của CS cũng đã xác-nhận điểm nầy khi viết (8): “Từ những năm 1964-1965, phương thức vận tải bằng các phương tiện thô sơ của Ðoàn 559 không đủ sức đáp ứng cuộc chiến đấu qui mô ngày càng lớn ở miền Nam và các cuộc hành quân  cấp tiểu đoàn, trung đoàn. Ðầu năm 1964, được tăng cường 2 trung-đoàn và 1 tiểu đoàn công binh, Ðoàn 559 tập trung lực lượng, phương tiện mở đường vận tải cơ giới vượt qua Ðường số 9 vào đến Bạc và Tà Xẻng. Ðường giao liên cũng được tổ chức lại với những cung, những chặng đường thích hợp đi song song với đường vận tải bảo đảm cung cấp lương thực và các nhu cầu cần thiết cho bộ đội hành quân. Mùa khô năm 1963-1964, Ðoàn 559 bắt đầu thực hiện phương thức vận tải thô sơ kết hợp với cơ giới. Nhờ đó, khối lượng hàng vận tải vào chiến trường miền Nam trong năm 1964 tăng gấp 4 lần so với năm 1963. Cũng trong năm 1964, tuyến giao liên đảm bảo cho gần 9.000 cán bộ, chiến sĩ hành quân vào chiến trường trong đó có những đơn vị tiểu đoàn, trung đoàn”.

Năm 1965, Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến vì không tin tưởng vào khả-năng tác-chiến của QLVNCH; CSBV gửi quân chính qui vào Nam vì nghi ngờ khả-năng chiến-đấu của VC. Những mâu thuẫn nầy đã tạo thành một bước ngoặc của chiến-tranh VN, biến chiến-tranh du-kích thành chiến-tranh qui-ước với cường-độ khốc-liệt chưa từng có kể từ sau chiến-tranh Triều-Tiên.

 

 

 

 

 

Tài-Liệu Tham-Khảo

 

  1. T.T. Hoàng, Trận Ðánh Phụng-Dư, Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến – Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, 1997.
  2. Ðoàn Thêm, Việc Từng Ngày, Tủ sách Tiến Bộ, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, Sài Gòn, 1968.
  3. M.D. Taylor, Swords and Plowshares, Da Capo Press, Inc., New York, 1972.
  4. W. Colby & J. McCargar, Lost Victory, Contemporary Books, Inc., Illinois, 1989.
  5. H. Maurer, Strange Ground – An Oral History of Americans in Vietnam, Da Capo

Press, New York, 1998.

  1. R.S. McNamara & B. VanDemark,In Retrospect – The Tragedy and Lessons of Vietnam, Times Books, New York, 1995.
  2. S. Karnow, Vietnam A History, Penguin Books, Middlesex, 1984.
  3. L.V. Cao chủ biên, Lịch Sử Việt Nam 1954-1965, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1995.

 

 

 

 

 

Trận Ba-Gia

 

 

 

 

Tình hình chiến-sự cuối năm 1964, đầu năm 1965 diễn-biến theo chiều hướng không thuận lợi cho VNCH. Thất-bại tại Bình-Giã ngay kế cận thủ-đô Sài Gòn được nối tiếp bởi các tin tức tình-báo theo đó thì quân chủ-lực của CS đang tham-dự các trận đánh quanh Daktô tại cao nguyên. Ðiều nầy khiến Tướng Westmoreland lo ngại. Ông đã viết trong quyển hồi ký của ông như sau (1): “Khủng hoảng đang tích tụ dần, như báo trước một loại chiến tranh bán qui-ước mà người Pháp phải đối đầu ở những giai đoạn sau cùng trong cuộc chiến của họ. Giai đoạn ba của chiến-tranh Mao-Trạch-Ðông đã bắt đầu”.

Trong khi đó thì về mặt chính-trị, những tranh-đấu của Phật-giáo và Công-giáo đã gây khó khăn nhiều cho chính-phủ Trần-Văn-Hương. Những cải tổ nội các liên tiếp kéo dài đến ngày 25.2.1965 mới tạm chấm dứt với sự ra đi của Tướng Nguyễn-Khánh. Tuy nhiên những cuộc tranh đấu biểu tình của các tôn giáo vẫn tiếp diễn cho đến tháng 6.1965 khi Hội-đồng Quân-lực thành-lập Ủy-ban Lãnh-đạo Quốc-gia. Thành-phần của Ủy-ban gồm Trung-tướng Nguyễn-Văn-Thiệu giữ chức Chủ-tịch (Quốc-trưởng), Thiếu-tướng Nguyễn-Cao-Kỳ giữ chức Chủ-tịch Ủy-ban Hành-pháp Trung-ương (Thủ-tướng) và Trung-tướng Phạm-Xuân-Chiểu giữ chức Tổng Thư-ký (2).

Ngày 7.2.1965, quân-đội CS pháo kích và tấn-công phi-trường dã-chiến của Mỹ tại Pleiku gây nhiều thiệt hại. Ba ngày sau, đặc-công VC đặt chất nổ phá sập khách-sạn chứa các quân nhân Mỹ tại Qui-Nhơn. Ngày 3.2, Tổng-thống Johnson ra lệnh phát động chiến-dịch Rolling Thunder để oanh-tạc dài hạn miền Bắc VN. Ðến cuối tháng, ông đã chấp thuận đề-nghị gửi hai tiểu-đoàn TQLC Mỹ đến Ðà-Nẳng.

Tại miền Nam VN, mùa mưa bắt đầu từ tháng năm khiến quang-độ xuống thấp gây trở-ngại nhiều cho các hoạt-động của không-quân. CS do đó đẩy mạnh các hoạt-động quân-sự. Ngày 10.5, một trung-đoàn CSBV tấn-công tỉnh-lỵ Sông Bé của tỉnh Phước-Long. Ðến cuối tháng họ đánh vào Ba Gia.

 

  1. Diễn-Tiến

 

Tỉnh Quảng-Ngãi xưa kia là đất của Chiêm-Thành. Năm 1402, Hồ-Quí-Ly sai Tướng

 

 

Ðỗ-Mẫn cất binh chinh-phạt Chiêm-Thành và lấy được hai động Cổ-Lũy (Quảng-Ngãi) và động Chiêm (vùng phía Nam Quảng-Nam). Ðất của hai động nầy được chia thành bốn châu là Thăng, Hoa, Tư và Nghĩa. Năm 1414, Chiêm-Thành đánh lấy lại hai động trên. Năm 1471, Lê-Thánh-Tôn thân chinh dẫn 20 vạn quân gồm hai cánh thủy bộ đánh chiếm được Chiêm-Thành. Ðất Quảng-Ngãi từ đó được thay đổi tên nhiều lần qua các triều-đại như Phủ Quảng-Nghĩa (1558), Phủ Hòa-Nghĩa (1788), Dinh Quảng-Nghĩa (1802). Trước năm 1975, tỉnh Quảng-Ngãi gồm mười quận: Bình-Sơn, Sơn-Tịnh, Tư-Nghĩa, Nghĩa-Hành, Mộ-Ðức, Ðức-Phổ, Trà-Bồng, Sơn-Hà, Minh-Long và Ba-Tơ cùng với hải-đảo Lý-Sơn hay Hòn Ré (xem sơ-đồ 1).

Về vị-trí địa-dư thì Quảng-Ngãi nằm ở phía bắc vĩ-tuyến 15, trên kinh-tuyến 180. Cách Sài Gòn 877 cây số. Bắc giáp Quảng-Tín, nam giáp Bình-Ðịnh, đông là biển Nam Hải, tây giáp KotTum. Hai phần ba diện-tích của tỉnh nầy là đồi núi. Quảng-Ngãi có các cửa biển Sơn-Trà, Sa-Kỳ, Ðại Cổ-Lũy, Mỹ Ý và Sa-Huỳnh.

Ba-Gia là một đồn nhỏ phòng giữ bởi một đại-đội Ðịa-phương-quân. Ðồn tọa lạc trên một ngọn đồi mang tên là Gò Cao nằm cạnh tỉnh lộ 5 dọc theo sông Trà-Khúc. Ba-Gia thuộc quận Sơn-Tịnh và cách tỉnh-lỵ Quảng-Ngãi khoảng 12 cây-số (xem sơ-đồ 2). Ba-Gia cùng với hai cứ điểm Hà-Thành và Trà-Bồng tạo thành hệ-thống phòng ngự phía tây tỉnh Quảng-Ngãi. Năm 1960, đồn Ba-Gia đã bị quân CS tràn ngập và chỉ với sự oanh-tạc của không-quân, QLVNCH mới tái chiếm được (3).

Ba-Gia thuộc vùng trách-nhiệm của trung-đoàn 51 BB. Tiểu-đoàn 1 giữ cứ điểm Ba-Gia. Tiểu-đoàn 2 đóng tại thị-xã Quảng-Ngãi và tiểu-đoàn 3 tại Châu-ổ thuộc quận Bình-Sơn.

Bộ Tư-lệnh Quân-khu 5 của CS phát-động chiến-dịch Hè trên ba hướng: Bắc Quảng-Ngãi, Nam cao-nguyên và Bắc Kontum. Ba-Gia nằm trong hướng đầu tiên của chiến-dịch nầy (4). Lực-lượng của CS tham-dự chiến-dịch gồm trung-đoàn 1 (Chủ-lực của quân-khu 5) với ba tiểu-đoàn 40, 60, 90 được tăng cường một tiểu-đoàn trợ chiến, tiểu-đoàn 45 Biệt-lập, tiểu-đoàn 83 (Bộ đội Ðịa-phương tỉnh) và hai đại-đội địa-phương-huyện.

Ðêm 28.5.1965, theo kế-hoạch của chiến-dịch, quân CS sẽ đánh Duyên-Phước với mục-đích phục-kích lực-lượng tiếp-viện từ Ba-Gia. Tuy nhiên tình-báo của CS đã báo-cáo sai. Một đại-đội của QLVNCH đóng tại Duyên-Phước đã di-chuyển đến núi Tròn. CS do đó phải thay đổi kế-hoạch. Ngày hôm sau, một đơn-vị địa phương huyện đánh quấy rối dân-vệ tại làng Phước-Lộc với hy-vọng sẽ phục-kích được đại-đội tiếp-viện từ Núi Tròn. Ðại-úy Tiểu-đoàn-trưởng tiểu-đoàn 1/51 chỉ-huy hai đại-đội từ Ba-Gia đi tiếp-viện. Ðơn-vị nầy đã lọt vào ổ phục-kích của tiểu-đoàn 90 VC tại Lộc-Thọ. Chỉ có 65 binh-sĩ và 3 cố-vấn Mỹ vượt khỏi vòng vây an toàn (5). Tình cảnh chiến-đấu tuyệt vọng của tiểu-đoàn nầy được ghi lại như sau (6): “Với máy truyền-tin đã hỏng, Trung-úy Robinson không thể nào gọi cứu viện và chẳng bao lâu thì quân CS phá vỡ được tuyến phòng thủ. Robinson đã khuyên đơn-vị VNCH phá vòng vây, tuy nhiên vị tiểu-đoàn-trưởng từ chối. Trung-úy Robinson và hai cố-vấn Mỹ của tiểu-đoàn  tự ý tách rời đơn-vị để trốn thoát. Trong khi bò dọc theo các ruộng lúa và các rạch dẫn nước dưới hỏa lực của quân CS, các cố-vấn Mỹ nầy đã nghe được một cuộc chạm súng dữ-dội tại vị-trí phục-kích rồi sau đó thì hoàn toàn im-lặng. Khi họ trở lại được Quảng-Ngãi, họ chỉ có thể báo cáo rằng cả đơn-vị đã bị quét sạch”. Trong khi đó thì quân CS đã tấn-công chiếm được đồn Ba-Gia.

Theo tin tức tình báo của ban 2 trung-đoàn 51 BB thì Trung-tướng Nguyễn-Ðôn, Tư-lệnh quân-khu 5 của CS đã lập kế-hoạch đánh chiếm Quảng-Ngãi. Thiếu-tướng Nguyễn-Phú-Thứ, Tư-lệnh sư-đoàn 2 Sao Vàng trực tiếp chỉ huy các trận đánh trong vùng. Bộ Tư-lệnh mặt trận đặt tại đồn Phú-Sơn đã bị bỏ hoang, gần sân bắn Quảng-Ngãi.

Thiếu-tướng Nguyễn-Chánh-Thi, Tư-lệnh quân-đoàn I cho mở cuộc hành quân Tự-Lực để yểm-trợ cuộc hành quân tái chiếm đồn Ba-Gia. Lực-lượng hành-quân gồm trung-đoàn 51 BB Biệt-lập, tiểu-đoàn 37 Biệt-động-quân (BÐQ) do Thiếu-tá Sơn-Thương chỉ huy và tiểu-đoàn 3 Thủy-quân Lục-chiến (TQLC) do Thiếu-tá Nguyễn-Thế-Lương làm Tiểu-đoàn-trưởng. Yểm-trợ pháo-binh gồm một tiểu-đoàn pháo-binh 105 ly và một tiểu-đoàn pháo-binh 155 ly.

Sáng ngày 30.5, ba cánh quân với TQLC là cánh trung-tâm tiến dọc theo tỉnh lộ 5 (Sơn-Tịnh đi Sơn-Hà) về hướng Ba-Gia. TQLC và bộ-binh theo hướng Phước-Lộc, chiếm cao điểm Mả Tổ trong khi BÐQ theo đường An-Thuyết, Vĩnh-Lộc, Vĩnh-Khánh tiến về cao điểm Chóp Nón. Ðến trưa thì mũi của BÐQ chạm địch. Tiểu-đoàn 60 VC từ Vĩnh-Lộc đánh chận mũi của TQLC trong khi tiểu-đoàn 40 tấn-công cánh của trung-đoàn 51 BB. Sau nhiều giờ chạm súng ác-liệt, BÐQ chiếm được Chóp Nón, tịch thu được hơn 100 vũ-khí cá-nhân. TQLC tịch thu được lệnh hành quân của sư-đoàn 3 Sao Vàng với bốn mục-tiêu  (7):

. Tấn-công đồn Ba-Gia.

. Tiêu-diệt các đơn-vị tiếp-viện thuộc trung-đoàn 51 BB và sư-đoàn 2 BB.

. Ðánh bại các lực-lượng trừ-bị của quân-đoàn I và các lực-lượng tổng trừ-bị đến tiếp ứng để Mỹ phải đưa quân vào can-thiệp.

. Ðánh bại quân Mỹ.

Chiến trận kéo dài đến khoảng bốn giờ chiều thì tiếng súng thưa thớt dần. Tuy nhiên khoảng một giờ sau, quân CSBV dùng đại-bác 57 ly và súng cối 82 ly tác xạ vào tiểu-đoàn 3 TQLC để yểm-trợ cho cuộc xung-phong. Tuyến phòng thủ của đại-đội 4 chịu áp-lực nặng nhất của địch. Một vài nơi đã bị địch quân chọc thủng. Ðại-đội 2 được sử-dụng để phản-công. Tuyến phòng thủ của tiểu-đoàn 3 TQLC sau đó đã ổn-định trở lại.

Ðến khuya quân CS trở lại tấn-công lần nữa nhưng đã bị đẩy lui. Ðến khoảng bốn giờ sáng ngày hôm sau, CS tung ra đợt tấn-công cuối cùng. Tại một vài nơi, TQLC phải lui lại tuyến phòng thủ thứ nhì. Ðồng lúc đó, tiểu-đoàn 45 VC dùng chiến-thuật tiền pháo hậu xung tấn công cao điểm Chóp Nón. Ba giờ sáng ngày 31.5, quân CS chiếm được cao điểm nầy. Ðến sáng, đơn-vị tiếp-viện đã tìm thấy xác của binh-sĩ hai bên nằm rải rác trên đồi với dấu vết của nhiều đạn pháo kích. Tiểu-đoàn 37 BÐQ thiệt mất 108 người trong trận đánh nầy (8). Sau đó, tiểu-đoàn 1 TQLC được trực-thăng-vận vào vùng hành-quân để tăng viện.

Ngày 1.5.1965, chiến-đoàn B TQLC bắt đầu giai-đoạn hai của cuộc hành-quân. Các đơn-vị tham-dự giai-đoạn nầy gồm (9) Trung-đoàn 51 BB, Trung-đoàn-trưởng là Trung-tá Nguyễn-Thọ-Lập; Chiến-đoàn B TQLC gồm hai tiểu-đoàn: tiểu-đoàn 1 do Thiếu-tá Tôn-Thất-Soạn làm tiểu-đoàn-trưởng kiêm chiến-đoàn-trưởng. Tiểu-đoàn 3 do Thiếu-tá Nguyễn-Thế-Lương chỉ-huy.

Chỉ có những cuộc chạm súng nhỏ trong giai-đoạn nầy. Ngày hôm sau, các đơn-vị hành quân tiếp tục tảo thanh khu-vực chung quanh đồn Ba-Gia. Một đại-đội ÐPQ được đưa đến tái chiếm và sửa-chữa lại hệ-thống phòng-thủ của đồn. Các trực-thăng của TQLC Mỹ chuyển-vận hai đại-bác 105 ly đến để thay thế hai khẩu đã bị phá hủy trước đây.

Theo tin-tức tình-báo của Phòng nhì sư-đoàn 2 BB, do khai thác một hồi chánh viên thuộc sư-đoàn 3 Sao Vàng, thì sư-đoàn CS nầy vẫn giữ ý định đánh chiếm Quảng-Ngãi. Với lực-lượng tăng phái tương đối mạnh, Bộ Tư-lệnh quân-đoàn I quyết-định mở cuộc hành-quân để phá vỡ kế-hoạch của CS.

Lực-lượng tham dự hành-quân trong giai-đoạn nầy gồm (9): Tiểu-đoàn 1 TQLC do Thiếu-tá Tôn-Thất-Soạn làm tiểu-đoàn-trưởng kiêm chiến-đoàn-trưởng; Tiểu-đoàn 3 TQLC do Thiếu-tá Nguyễn-Thế-Lương làm tiểu-đoàn-trưởng và giữ nhiệm-vụ trừ-bị; Tiểu-đoàn 5 Dù do Thiếu-tá Nguyễn-Khoa-Nam làm tiểu-đoàn-trưởng là lực-lượng tăng phái.

Khu-vực hành-quân giới-hạn bởi sông Trà-Bồng ở phía bắc và đồn Ba-Gia ở phía nam. Mục-tiêu là tảo thanh các lực-lượng CS còn lẩn khuất trong vùng cạnh quốc lộ 1. Lực-lượng hành quân chia làm hai cánh. Cánh Bắc là tiểu-đoàn 1 TQLC và cánh Nam là tiểu-đoàn 5 Dù. Sau một ngày hành quân, năm mục-tiêu trong lệnh hành quân đã được chiếm lĩnh. Tổng kết QLVNCH có 10 hy sinh, 22 bị thương, vũ-khí được bảo toàn. CSBV có khoảng 100 xác bỏ lại trận địa, 85 vũ-khí cá-nhân cùng với 4 vũ-khí cộng-đồng bị tịch thu.

Ngày hôm sau, tiểu-đoàn 5 Dù được lệnh xuất phái để được điều động vào nhu cầu quân-sự khác. Tiểu-đoàn 1 TQLC tiếp tục hành quân yểm-trợ cho một đại-đội ÐPQ tái chiếm quận lỵ Sơn-Hà bị rút bỏ trước đây vì áp lực địch.

Tướng Thi ước-lượng có năm tiểu-đoàn quân CS đã tham-dự trận Ba-Gia. Ông đã

yêu cầu tăng viện hai tiểu-đoàn Dù VN và một tiểu-đoàn TQLC Mỹ. Tuy nhiên yêu cầu nầy không được chấp thuận, thay vào đó ông được yểm-trợ bởi các trực-thăng và phi-cơ từ không-đoàn VMFA-531 của TQLC Mỹ.

 

  1. Hậu-Quả

 

Theo Tướng Westmoreland thì một tiểu-đoàn của QLVNCH bị đánh tan và một tiểu-

đoàn khác bị thiệt-hại nặng (1). Ký-giả S Karnow có lẽ cũng đồng ý với con số nầy (10).

Báo cáo của TQLC Mỹ cho biết QLVNCH bị thiệt mất 392 người kể cả tử thương

 

và mất tích, mất 446 súng cá-nhân cùng với 90 vũ-khí cộng-đồng; phía CS có 556 cán-binh bị tử-thương cùng với 20 vũ-khí bị tịch thu (8).

Con số chính-thức do chính-phủ VNCH loan báo như sau (11): VC bỏ lại hơn 200 tử thi, số tử thương có thể lên đến 500, 37 tù binh; VNCH có 80 tử trận, 100 bị thương.

Dĩ nhiên con số do CS tuyên-bố phải lớn hơn nhiều (12): “Kết quả ta đã diệt gọn bốn tiểu-đoàn địch (tiểu đoàn 1, tiểu đoàn 2 trung đoàn 51, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, tiểu đoàn 39 biệt động quân), diệt và làm bị thương 915 tên (có sáu tên Mỹ) bắt sống 270 tên, thu 307 súng các loại, bắn rơi hai máy bay, phá hủy hai pháo 105 ly, mười bốn xe vận tải”.

 

  1. Nhận-Xét

 

So với trận Bình-Giã thì có lẽ trận Ba-Gia cũng không kém phần ác liệt. Thiệt-hại về nhân mạng có thể còn cao hơn nhiều. Sai lầm khi điều quân tăng viện cấp tiểu-đoàn tại chiến-trường Bình-Giã của QLVNCH đã được lập lại. Các tiểu-đoàn được gửi vào chiến-trường đã lần lượt bị quân CS với quân-số đông hơn đàn áp. CS đã tóm tắt chiến-thuật mà họ đã sử-dụng tại Ba-Gia như sau (12): “Bộ đội ta liên tục tiến công địch từ một giờ ngày 29 tháng 5 năm 1965 đến  bốn giờ ngày 31 tháng 5, gồm nhiều trận phục kích, tập kích cả ban ngày và ban đêm, đánh đồn để diệt viện, diệt viện để đánh viện lớn hơn … Chiến thắng Ba Gia không những có ý nghĩa thông thường của bất cứ một chiến thắng nào của chúng ta mà còn có một ý nghĩa quan trọng khác là nó có tính chất điển hình của một trận tiêu diệt chiến”.

Quan-niệm của CS trong chiến-tranh nhân-dân bao gồm hai chiến-thuật là du-kích và chính-quy (13).

Chiến-thuật du-kích như đã biết được áp dụng với lực-lượng địa-phương và du-kích. Chiến-thuật được sử-dụng để bảo-vệ các mật khu, tấn-công đồn bót, ấp chiến-lược, v.v. Một điểm lưu ý ở đây là chiến-thuật du-kích chỉ có tấn-công và phản-công nhưng lại không có tính cách phòng-ngự.

Chiến-thuật chính-quy với quân chủ-lực là lực-lượng tác-chiến chủ-yếu. Chiến-thuật chính-quy gồm hai hình thức tác chiến là tấn-công hoặc phản-công và phòng ngự. Hình thức tấn công hoặc phản công lại chia ra làm hai loại tấn công hoặc phản công tiêu-diệt địch ở ngoài công-sự vững chắc như tập kích, phục kích, đánh gặp gỡ, truy kích, đánh đổ bộ đường không (trực-thăng-vận), v.v. Hình thức thứ nhì là tấn công hoặc phản công tiêu diệt địch ở trong công-sự vững chắc còn gọi là công kiên chiến. Hình thức tác chiến nầy được sử-dụng để đánh cứ điểm lẻ, cứ điểm bunker, tập-đoàn cứ điểm, trận địa trong thành-phố, v.v. Trong khi đó chiến-đấu phòng ngự là hình-thức chiến-đấu yểm-trợ cho tấn công và phản công, nhằm ngăn chận các cuộc tấn công và phản công của địch quân trên một hướng nhất định để các đơn-vị khác tấn công và phản công ở hướng khác hoặc tấn công và phản công vào sườn và sau lưng đội hình tấn công hoặc phản

công của địch.

Ðã biết qua các chiến-thuật của CS, người ta có thể thấy ngay được rằng chiến-thuật chính-quy đã được sử-dụng tại Ba-Gia. Tuy nhiên CS đã phối-hợp cả hai hình-thức tấn-công và phòng-ngự. Ðối kháng với TQLC, họ đã sử-dụng chiến-đấu phòng-ngự đồng thời sử-dụng một lực lượng khác để đánh vào BÐQ. Tiểu-đoàn 37 BÐQ đang đóng quân trên một ngọn đồi. Việc tấn công cao điểm không phải là một việc dễ-dàng do đó đây phải là mũi tấn công chính mới có thể đẩy lui được BÐQ. Ðồng lúc đó quân CS cũng đã đánh vào khắp tuyến của TQLC đúng như định-nghĩa của hình thức chiến-đấu phòng ngự đã nói ở trên.

Quả thật trận Ba-Gia đã làm rúng động các cấp chỉ-huy quân-sự Mỹ tại VN. Không một hành-động cấp thời nào được ban hành. Hai tiểu-đoàn TQLC Mỹ được báo-động nhưng không được gửi đi. Ðơn-vị bộ-binh Mỹ trừ-bị duy nhất là lữ-đoàn 173 Dù thì đang trú đóng khá xa, tận Biên-Hòa. Trước những phản ứng chậm trễ, không đáp ứng đúng tình thế của Bộ Tư-lệnh Viện trợ Quân-sự Mỹ tại VN, ngày 8.6, Tổng-thống Johnson phải ra chỉ-thị (4): “Nếu được yêu cầu trợ giúp bởi các cấp chỉ huy VN liên hệ, Tướng Westmoreland cũng được quyền trong công tác giao phó để sử-dụng các lực-lượng Mỹ hầu yểm-trợ QLVNCH đối đầu với các cuộc tấn công một khi các đơn vị trừ bị hữu-hiệu khác không có sẵn và nhận xét rằng tình trạng quân sự tổng quát cần thiết một cách khẩn-cấp”. Trong khi đó thì Tướng Westmoreland, trong báo cáo về Bộ Tham-mưu Liên-quân Mỹ đã viết (5): “Tôi tin tưởng rằng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ cho tham dự bất kỳ lực lượng nào mà họ cảm thấy là cần thiết để làm lệch cán cân thăng bằng và chính phủ VNCH không thể nào đương cự một cách thành công trước áp lực như vậy nếu không có sự tăng viện”. Ông cũng đã thú nhận trong hồi ký của ông rằng (1): “Lo ngại nhiều bởi những thử thách của QLVNCH tại Ba-Gia và Ðồng Xoài và nhìn thấy trước rằng rồi có thể có lúc tôi phải đưa quân-đội Mỹ tham chiến để cứu QLVNCH khỏi một chiến bại lớn”.

Ngày 16.7, tân đại-sứ H Cabot Lodge cùng với Bộ-trưởng Quốc-phòng McNamara đến VN. Sau đó McNamara tuyên-bố (8): “Tình hình chung tiếp tục suy đồi … Trên nhiều mặt đã tệ hơn lúc tôi thăm viếng cách đây 15 tháng “. Ngày 28.7, Tổng-thống Johnson trong một buổi truyền hình toàn quốc đã quyết định gia tăng tức khắc quân-số Mỹ tại VN từ 75 ngàn lên 125 ngàn. Các sự kiện xảy ra trong năm 1965 sẽ cho thấy rằng cả hai phía Mỹ và CSBV đều gia tăng cường-độ chiến-tranh nhưng đều chưa tìm được một chiến-lược nào chủ yếu.

 

 

 

Tài-Liệu Tham-Khảo

 

  1. W.C. Westmoreland, A Soldier Reports, Da Capo Press, Inc., New York, 1989.
  2. Hoàng Linh Ðỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, nxb và Phát hành Quê Hương, California, 1987.
  3. Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự, nxb xuất bản Anh Thư, California, 1987.
  4. Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975, Tập III, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  5. W.H. Morrison, The Elephant & the Tiger, Hipocrene Books, New York, 1990.
  6. C. Bishop, Ed., Vietnam War Diary, The Hamlyn Publishing Group, London, 1990.
  7. B.B. Lê, Hồi Ký Chiến Trường, Trận Ba Gia, Ðặc san Sóng Thần, Iowa, 1998.
  8. F. Uhlig, Jr., Ed., Vietnam: The Naval Story, United States Naval Institute, Annapolis, 1986.
  9. S.T. Tôn, Trận Ba Gia, Giai Ðoạn II, Ðặc san Sóng Thần,Iowa, 1998.
  10. S. Karnow,Vietnam – A History, Penguin Books, Middlesex, 1984.
  11. Ðoàn Thêm, 1965 việc từng ngày, Tủ sách Tiến Bộ, Cơ-sở xuất-bản Phạm-Quang-Khai, Sài Gòn, 1968.
  12. Học Viện Quân Sự Cao Cấp, Ban Tổng Kết Kinh Nghiệm Chiến Tranh, Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975, nxb Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, 1980.
  13. D.T. Văn, Chiến Tranh Nhân Dân – Quốc Phòng Toàn Dân,Tập Hai, nxb Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, 1979.

 

 

 

 

 

 

Trận Ðồng Xoài

 

 

 

 

Ðồng Xoài là quận lỵ của quận Ðôn-Luân thuộc tỉnh Phước-Long (xem sơ-đồ 1). Ðồng Xoài giữ một vị-trí khá quan-trọng vì nằm ở phía Bắc chiến-khu Ð (xem sơ-đồ 2). Trong chiến-lược chống lại sự xâm nhập của CSBV, một trại Lực-Lượng Ðặc-Biệt (LLÐB) đã được thiết-lập tại đây. Một toán A (A-Team) LLÐB Mỹ được gửi đến trại ngày 25.5.1965 cùng với một đơn-vị công-binh Ong Biển (Navy Seabees) với nhiệm-vụ xây cất công-sự phòng-thủ cho trại.

Chu-vi phòng-thủ trại bao gồm bốn khu cách biệt nhau: khu pháo-binh và thiết-giáp, quận đường và doanh trại của Lực-Lượng Dân-Sự Chiến-Ðấu (CIDG), doanh-trại của LLÐB Mỹ và toán Ong Biển, sau cùng là khu gia-binh. Lực-lượng đồn trú tại Ðồng Xoài gồm 8 cố-vấn Mỹ của quận Ðôn-Luân, 10 quân-nhân Mỹ thuộc toán A-342, 8 Ong Biển, 10 LLÐB Việt-Nam của toán A-351, hai đại-đội 327 và 328 Dân-Sự Chiến-Ðấu, đại-đội 111 Ðịa-phương-quân, một chi-đội thiết-giáp và hai khẩu pháo-binh 105 ly (xem sơ-đồ 3).

Lực-lượng của CS gồm ba trung-đoàn Q761, Q762 và Q763 được yểm-trợ bởi một tiểu-đoàn pháo-binh. Theo kế-hoạch thì trung-đoàn Q762 và tiểu-đoàn cơ-động tỉnh Phước-Thành sẽ là lực-lượng tấn-công chủ yếu. Trung-đoàn Q761 có nhiệm-vụ phục-kích các đơn-vị QLVNCH đến giải vây Ðồng Xoài. Trung-đoàn Q763 là lực-lượng trừ bị.

Bốn ngày trước khi tấn-công Ðồng Xoài, trung-đoàn Q762 đã học tập chiến-dịch Ðồng Xoài dưới sự hướng-dẫn của chi bộ Ðảng và đã ra quyết tâm tiêu-diệt cứ điểm Ðồng Xoài trong vòng 90 phút.

 

  1. Diễn-Tiến

 

Ngày 9.6.1965, trại Ðồng Xoài chấm dứt một ngày làm việc như mọi ngày bình thường khác. Mùa mưa đã đến khiến cái lạnh và màn đêm của núi rừng cao-nguyên sớm phủ chụp lên vạn-vật. Phiên gác thứ nhì chưa đổi được bao lâu thì điện-thoại tại văn-phòng quận reo vang. Trạm gác ngoài phi-trường báo cáo địch quân xâm nhập vào chu-vi phòng-thủ. Ðúng 11 giờ rưỡi khuya, hàng loạt đạn pháo-kích rơi tới tấp vào quận. Quân CS chia làm nhiều mũi. Mũi đầu tiên tiến qua phi-trường đánh vào khu gia binh và đồn Bảo-an. Tại đây quân CS gặp sự kháng-cự mãnh-liệt của lực-lượng Bảo-an với sự yểm-trợ của LLÐB. Họ bị thiệt hại khá nặng-nề nên khi chiếm được khu gia binh đã tàn-sát thân nhân và gia-đình binh-sĩ tại đây. Cánh thứ nhì theo hai hướng tây bắc và đông bắc tấn-công trại LLÐB. Lực-lượng phòng thủ gồm 18 quân-nhân Mỹ và khoảng 400 CIDG không thể chống cự lại các đợt tấn-công biển người của hơn 1500 quân CS với yểm-trợ của các súng phun lửa nên đã rút lui vào bên trong quận đường. Cánh sau cùng theo hai hướng nam và đông nam tấn-công vào ấp chiến lược rồi tràn sang khu thiết-giáp. Hơn phân nửa số xe thiết-giáp đã bị hư hại hoặc bất khiển-dụng nên CS chỉ chiếm được ba chiếc và sử-dụng hỏa lực trên các xe nầy để yểm-trợ cho bộ-binh. Các xe nầy sau đó đã bị phi-cơ phá hủy.

Một cán-binh CS đã kể lại diễn tiến của trận đánh như sau (1): “Cuộc tấn-công bắt đầu. Gần như không có gì xảy ra theo đúng kế-hoạch. Chúng tôi nghĩ rằng chỉ có hai xe tăng tại Ðồng Xoài, tuy nhiên trên thực tế có đến bốn. Có lúc, tất cả các đường dây liên lạc bị cắt đứt và chúng tôi phải dùng đến giao liên. Các báo cáo tổn-thất nặng nề tiếp tục đổ về. Chỉ đến sáng sớm, trung-đoàn Q762 đã thiệt mất hai tiểu-đoàn tuy nhiên họ đã chiếm được bốn vị-trí dọc theo chu-vi phòng-thủ”.

Trưa ngày 10.6, tiểu-đoàn 1 thuộc trung-đoàn 7, sư-đoàn 5 BB được trực-thăng-vận xuống đồn-điền Thuận-Lợi để từ đây tiến về giải vây cho Ðồng Xoài (xem sơ-đồ 4). Trung-đoàn 1 CS đã phục-kích và đánh tan tiểu-đoàn nầy.

Ngày hôm sau, tiểu-đoàn 53 BÐQ được trực-thăng-vận từ Phước-Long đến phía bắc quận Ðôn-Luân. Vừa đổ quân, BÐQ đã bị hỏa-lực của CS tác-xạ dữ-dội. Tại phía nam, đợt đổ quân đầu tiên của tiểu-đoàn 7 Dù cũng bị địch cầm chân. Tiểu-đoàn-trưởng tiểu-đoàn 7 Dù bèn ra lệnh cho đợt đổ quân thứ nhì vào ngay quận đường, phía ngoài cổng chính. Hai cánh quân Dù sau đó đã đẩy lui được quân CS đang bao vây quận. Trong cuộc đổ quân nầy, ba trực-thăng bị hỏa-lực địch bắn hạ.

Sau khi tiêu-diệt được  những ổ kháng-cự sau cùng của VC, tiểu-đoàn 53 BÐQ được lệnh ở lại phòng-thủ quận, tuần tiễu lục soát các khu-vực lân cận. Tiểu-đoàn 7 Dù có nhiệm-vụ truy kích địch về hướng bắc và đông bắc quận lỵ đồng thời lo thu nhặt xác binh-sĩ tử trận của tiểu-đoàn bộ-binh dọc theo liên tỉnh lộ 1A.

Trại Ðồng Xoài được giải tỏa hoàn toàn. Hai ngày sau, Ðại-úy C M Greene hướng-dẫn toán A-311 đến để thay thế cho toán A-342 và lo xây cất lại trại bị đổ nát.

Sáng ngày 12.6, tiểu-đoàn 7 Dù tiếp tục công việc tìm kiếm thương binh và nhặt xác. Công-tác hoàn tất lúc hai giờ chiều và cả tiểu-đoàn trở lại tọa-độ XMT để nghỉ dưỡng quân. Ðến 16 giờ, Tiểu-đoàn-trưởng ra lệnh di chuyển đến phi-trường Thuận-Lợi cách tọa-độ XMT khoảng bảy cây số để nghỉ đêm. Theo kế-hoạch, tiểu-đoàn 7 sẽ được trực-thăng-vận trở lại hậu cứ vào sáng ngày hôm sau. Ðội hình di-chuyển gồm hai đại-đội 71 và 74 tiến song song, theo sau là hai đại-đội 72, 70 và đoạn hậu là đại đội 73 (xem sơ đồ 5). Trên đường tiến quân, ở đầu đại-đội 74 cũng như tại cuối đại-đội 73, các binh-sĩ phát-giác bóng dáng VC lẩn khuất. Các trung-đội-trưởng báo cáo tuy nhiên bộ chỉ-huy tiểu-đoàn vẫn ra lệnh tiếp tục di-chuyển với đội hình ban đầu. Hai sĩ-quan cố-vấn Mỹ không đồng ý tiếp tục di-chuyển với lý-do phi-trường Thuận-Lợi ở ngoài tầm yểm-trợ của pháo-binh và trời đã về chiều, có thể gặp trở-ngại khi yêu cầu không trợ. Do bất đồng ý-kiến với Bộ Chỉ-huy tiểu-đoàn, hai sĩ-quan Mỹ đã yêu cầu trực-thăng bốc họ về hậu cứ của sư-đoàn 5 BB.

Khi tiến đến gần phi-trường, hai trung-đội đi đầu được lệnh vượt phi-đạo để chiếm khu-vực trung-tâm đồn-điền. Tuy nhiên khi vừa vượt được khoảng nửa phi-đạo thì súng của VC bắt đầu khai hỏa. Hỏa lực của VC từ tháp nước cạnh phi-đạo đã sát hại hầu hết binh-sĩ của hai trung-đội nầy. Ngay sau đó, súng nổ khắp nơi, từ bên trái, phía trước mặt, đàng sau. Tiểu-đoàn 7 Dù rơi vào trận địa phục-kích của trung-đoàn VC. Những người còn sống sót sau loạt đạn đầu tiên chạy dạt về phía phải lại bị thương vong bởi mìn định hướng do VC gài sẵn từ trước. VC dùng đại liên phòng không bắn thẳng gây thiệt hại nặng cho hai đại-đội đi đầu. Tiểu-đoàn-trưởng bị tử thương. Ðại-úy Hải, đại-đội-trưởng đại-đội 73 lên thay thế cố gắng điều-động những binh-sĩ còn sống sót cầm cự với địch quân. Ðúng như các sĩ-quan Mỹ đã tiên đoán, tiểu-đoàn 7 Dù không nhận được yểm-trợ phi pháo mặc dù đã khẩn cấp yêu cầu. Với ba cấp số đạn lúc bắt đầu cuộc hành quân mà một cấp số đã bị tiêu hao trong trận đánh tại quận Ðồng Xoài, tiểu-đoàn 7 Dù hay nói đúng hơn là những người còn sống sót, sau phút hốt hoảng đầu tiên, phải sử-dụng cá-nhân chiến-đấu trước chiến-thuật biển người của cả trung-đoàn VC. Một trung-đội-trưởng đã nhớ lại giây phút cuối cùng của đơn-vị như sau (2): “Ðạn chạy ra khỏi nòng trong nháy mắt, lắp thêm một băng nữa, một họng súng kề trước mặt. Chạy lui vào gốc cao su bắn trả lại … Lính của hai đại đội 72 và 74 chạy dạt hẳn về phía tay phải. Khu đất phía tay phải là một sườn đồi thấp xuống thật trống trải với một vườn chuối non. Hết đường rồi, trước mặt, phía trái, đàng sau AK của địch át hẳn carbine M.2 của chúng tôi. Một vài anh lính đại đội 71 chạy lên dáo dác. Việt Cộng có cả xe bọc sắt … Ð.M. đánh không được nữa. Ông Kỳ (Ðại đội trưởng 71) chết rồi. Máy truyền tin im bặt. Bây giờ là lúc cá nhân tự chiến đấu … Qua khỏi khu vườn chuối cuối cùng của sườn đồi, một hàng rào dây kẽm gai bít lối. Những người lính đầu tiên sắp sửa chui qua thì từ phía bắc đại liên bắt đầu nổ, tôi nghe rõ tiếng đại liên 12 ly 7. Một tiểu đội ngã gục ngay trong giây phút đầu tiên. Hết đường, đúng là đến đường cùng. Tôi chạy lui về phía nam, một cảnh tượng đau lòng và kinh khiếp. Lính của đại đội 73 coi như chết gần hết, còn lại khoảng chừng hai tiểu đội vừa bắn vừa kéo lên phía chúng tôi. Cuộc gặp gỡ thật bi thảm, một phần của đại đội 70 từ cánh phải kéo đến. Trung úy Hợp, Ðại đội trưởng 70 chỉ tay về phía trái … con đường nầy có thể chạy được, cậu (chỉ tôi) dẫn anh em chạy ra đấy. Tôi gật đầu bừa, kéo số còn lại chạy theo hướng vừa chỉ, cố tránh xa lằn đạn đại liên của địch đang bắn dọc theo hàng rào … Chỉ còn một lối nầy, may thì sống, không thì mất. Ðang phân vân chưa dám lao mình qua hàng rào, một loạt đạn bay vút đến, tôi ngã xuống như một chiếc lá khô”.

Ðến bảy giờ tối thì cuộc chiến chấm dứt. Tuy nhiên đây chỉ mới là một phần của

thảm kịch. VC bắt đầu đi thu dọn chiến-trường, hành quyết thương binh. Hãy nghe một chứng nhân còn sống sót kể lại (2): “Tôi tỉnh táo nên có thể nghe rõ tiếng rên la trong đêm tối, lời rên la thảm thiết như âm vọng từ cõi chết. Nước mắt chợt trào ra, nhớ lại những kẻ chết từ buổi chiều, nay tôi chứng kiến thêm những giây phút hấp hối của đồng bạn. Người sắp chết trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời chẳng ai nghĩ đến bản thân, tất cả chỉ nghĩ đến cha mẹ, vợ con … Những tiếng kêu: Con ơi! Mình ơi! như những mũi dao nhọn đâm thật sâu vào người, tôi muốn bịt tai lại để khỏi nghe thấy những đêm yên lặng, lời than hấp hối ngân dài không dứt … Có tiếng người xì xào đi đến, Việt cộng đi thanh toán chiến trường! Tiếng chửi mắng chen lẫn tiếng nổ khô và gọn: Chúng chửi mắng hoặc bắn chết thương binh. Chưa bao giờ tôi căm thù và ghê tởm bọn chúng đến ngần nầy. Chiến tranh là luật của sống chết, nhưng khi người đối địch với mình ngã xuống thì ai nỡ lòng nào để hành hạ và giết chết. Lũ chúng nó, loại không có linh hồn. Ðã bao lần chúng tôi bắt được tù binh, kẻ cho thuốc lá, người cho cơm ăn, những người lính Nhảy Dù xưa nay vẫn có tiếng là cứng rắn nhưng chưa một lần nào chúng tôi hành hạ tù binh, huống gì tù bị thương. Nhưng ở đây, bọn Việt cộng như một kẻ vô linh hồn, chúng quên mất tình người … Người nằm đây, nhưng người Việt Nam chung với chúng một giòng máu, chiến tranh đã biến đổi họ thành thù địch trong trận đánh, nhưng bây giờ còn gì để tạo nên thù hận! Nhưng rõ ràng tôi nghe trong bóng đêm những tiếng chửi mắng tục tĩu, và những tiếng nấc cuối cùng của người chết khi nhận những lát dao tàn bạo hoặc những viên đạn cuối cùng thật chính xác nổ vào đầu … Tôi bò nhanh về phía tay phải theo triền dốc, đâu đâu cũng có người chết, có xác đã lạnh cóng, có xác còn nóng của những kẻ vừa chết. Tôi đụng vào một người. Ai đó? Tôi, Cấm đây, cứu giùm tôi với … Có tiếng chân người chạy đến, một tên Việt cộng … Mẹ mầy để tao cứu cho. Nó cười hềnh hệch man dã, một viên đạn nổ chát chúa, nó bắn vào đầu anh Cấm … Tôi nằm im không nhúc nhích, mặt úp xuống lá cao su. Tôi giả vờ chết khi tên Việt cộng đá vào chân”.

Quang cảnh chiến-trường vào sáng ngày hôm sau đã được một sĩ-quan Trung-đội-trưởng Dù sống sót kể lại (3): “Ánh sáng xuyên qua khe lá của những tàng cao su rậm rạp làm tao chợt tỉnh. Mồm đầy máu, tao nhổ ra từng cục máu khô, máu đã đông lại khi tao ngất đi cả mấy tiếng đồng hồ. Tựa mình vào thân cây cao su, uống chút nước từ cái bát đựng mủ cao su, mắt mất hồn nhìn cảng tượng chung quanh, tao há hốc mồm vì kinh sợ … Xác người nhiều quá. Hầu như chỗ nào cũng có. Bạn thù nằm chết chồng chất lên nhau. Mã tấu, lưỡi lê vương vãi. Chắc chắn đã xảy ra một trận chiến kinh hồn suốt chiều và tối hôm qua. Cao su bung gốc, trụi cành. Nhiều cây vẫn còn âm ỉ cháy, mặc dù mưa như trút đêm qua. Tao nhận ra lính bên đại đội mày qua dấu hiệu trên vai áo. Tao hy vọng gặp ai sống sót hay bị thương để hỏi về mày. Nhưng tao chẳng gặp ai. Tao lật rất nhiều xác chết để nhận diện bạn bè. Tao nhận ra rất nhiều khuôn mặt quen thuộc, nhưng mày vẫn chẳng thấy đâu. Trong nỗi đau đớn cuối cùng, tao cay mắt, đắng môi vì đồng đội gục ngã. Lượm một gói cơm sấy, đổ một chút nước mưa, thẫn thờ bên xác bạn thù, tao cố gắng ăn được vài nắm. Cột lại gói cơm, cho vào túi, lượm một bi đông nước, đeo vào một giây đạn, tay trái lượm khẩu AR-15 của đồng đội đã gục ngã, tao thất thểu bước đi. Qua phía trận tuyến của đại đội 71, 73, cảnh tượng này cũng giống như tao đã gặp”.

Một tiểu-đoàn thuộc lữ-đoàn 173 Dù Mỹ được chuẩn-bị để gửi đến Ðồng Xoài. Tuy nhiên quyết định cho quân-đội Mỹ trực tiếp tham chiến đã được Chuẩn-tướng Cao-Văn-Viên ngăn lại (4).

Các đơn-vị đến tăng-viện cho Ðồng Xoài tiếp tục các cuộc hành quân tảo thanh khu-vực chung quanh cho đến ngày 17.6. Quân CS cũng đã rời khỏi chiến-trường.

 

  1. Hậu-Quả

 

Thiệt hại của lực-lượng đồn trú được ghi nhận như sau: 5 quân-nhân Mỹ, 3 LLÐB cùng với 40 Dân-Sự Chiến-Ðấu bị tử thương, 124 người mất tích (5). Khoảng 200 thân nhân gia-đình binh-sĩ đã bị quân CS tàn sát (6). CSBV bỏ lại chiến-trường 134 xác chết (5). Một ký-giả Mỹ cho rằng thiệt hại nhân mạng còn cao hơn khi tổng kết có đến 19 binh-sĩ Mỹ bị thiệt-mạng cùng với khoảng từ 700 đến 800 binh-sĩ của QLVNCH bị thương vong (7).

Thiệt hại của tiểu-đoàn 7 Dù đã được nhà văn Phan-Nhật-Nam ghi lại như sau (2): “Bây giờ không phải là giấc mơ, nhưng lại là một thực tại tàn bạo. Tiểu đoàn tôi tử thương trên hai trăm người”. Tiểu-đoàn chỉ còn năm sĩ-quan sống sót, Ðại-đội-trưởng đại-đội 74, Trung-úy bác-sĩ và ba Thiếu-úy trung-đội-trưởng.

Nằm trong đợt hoạt-động Xuân Hè 1965, CS mở chiến-dịch Ðồng Xoài trên một diện tích rộng khoảng 1000 cây số vuông bao gồm hai tỉnh Phước-Long và Bình-Long là hướng hoạt-động chính và các tỉnh Lâm-Ðồng, Bình-Tuy, Long-Khánh, Biên-Hòa, Bà Rịa là hướng hoạt-động phối hợp. Ngày 22.7.1965, CS kết thúc chiến-dịch Ðồng Xoài với kết quả (8): “Trong chiến dịch nầy, ta loại khỏi vòng chiến đấu bốn tiểu đoàn, 24 đại đội, sáu chi đội xe cơ giới, bốn phân đội kỹ thuật với tổng số 4.459 tên, có 73 cố vấn Mỹ, thu 1.652 súng các loại, phá hủy 60 xe quân sự, 34 máy bay, sáu đầu máy và 12 toa xe lửa. Bên cạnh những kết quả đó, thắng lợi của chiến dịch còn có ý nghĩa quan trọng. Nó đánh dấu sự trưởng thành về trình độ tác chiến, nhất là trình độ đánh tiêu diệt của Quân giải phóng, về tổ chức chỉ huy, bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày”.

 

  1. Nhận-Xét

 

Có nhiều nguyên-nhân đưa đến thất-bại tại Ðồng Xoài. Ðầu tiên là hệ-thống phòng thủ đang được xây cất, chung quanh quận đường chỉ mới dựng được một hàng rào kẽm gai. Ngoài ra kho đạn vẫn chưa được xây cất xong nên phần lớn đạn dược đã bị phá hủy khi trúng pháo của CS. Hệ-thống phòng-thủ chưa được tổ-chức chặt chẽ nên sự phối-hợp chiến-đấu cũng như hỗ-tương yểm-trợ đã hoàn toàn thiếu sót. Pháo-binh và thiết-giáp không được sử-dụng hiệu-quả. Yếu-tố bất lợi bất lợi về quân-số cũng cần được nhắc đến vì CS đã dùng đến hai trung-đoàn để áp đảo trại với quân-số chưa đến một tiểu-đoàn.

Tin-tức tình-báo không chính-xác khi cho biết các đơn-vị CS tấn-công Ðồng Xoài chỉ là các đơn-vị địa-phương nhưng trên thực-tế lại là bộ-đội chủ-lực. Ước lượng sai về quân số địch khiến tiểu-đoàn Dù đã bị tràn ngập bởi cả trung-đoàn VC. Bên cạnh đó, Ðại-úy Nguyễn-Văn-Nhâm vừa mới thay thế Thiếu-tá Ngô-Xuân-Nghị trong chức-vụ Tiểu-đoàn-trưởng đã quyết-định sai lầm khi giữ nguyên đội hình và hướng di-chuyển, mặc dù đã có sự can ngăn của các sĩ-quan cố-vấn Mỹ cũng như báo cáo của các trung-đội-trưởng về sự hiện diện của địch quân. Hậu quả là cả tiểu-đoàn đã lọt vào trận địa phục-kích của VC.

Trận Ðồng Xoài là một bằng chứng về sự chậm trễ trong việc trang-bị vũ-khí cho QLVNCH so với đối-phương. Ðoạn bút ký chiến-trường sau đây cho thấy giây phút tức tưởi của người lính QLVNCH tại mặt trận Ðồng Xoài (2): “Ðạn chạy ra khỏi nòng trong nháy mắt … Hết đường rồi, trước mặt, phía trái, đàng sau AK của địch át hẳn Carbine M.2 của chúng tôi”. Một sĩ-quan thuộc tiểu-đoàn 7 Dù sống sót sau trận đánh cũng đã viết (3): “Trung-đoàn Q763 của địch đã đánh Ðồng Xoài. Sau đó, rút về đồn điền Thuận Lợi để đánh tiếp viện, một trận đánh ra mắt công trường 7 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Với tất cả quân số và vũ khí tối tân AK, B-40 được sử dụng lần đầu, trong khi đó Nhảy Dù được trang bị mỗi trung đội 3 súng AR-15, vũ khí tối tân nhất của quân đội miền Nam lúc đó”.

Trận Ðồng Xoài như đã biết là trận đánh qui-mô đầu tiên của quân CS. Họ đã tập trung nhiều trung-đoàn để đối đầu trực-tiếp với QLVNCH. Các cán-bộ CS cho rằng mặc dù chiến-thắng, phía CS đã phải chịu nhiều tổn-thất nặng-nề. Một cán-bộ CS phụ-trách về Hoa vận đã viết (1): “Một khi đến Tây Ninh chúng tôi huấn luyện cho họ về quân sự và chính trị trong vòng ba tháng và sau đó gửi họ ra chiến trường. Họ thường không sống sót lâu. Trong trận Ðồng Xoài, trận đánh lớn và qui ước đầu tiên mà chúng tôi tham dự – Bốn mươi đảng viên người Hoa đã bị thiệt mạng. Chỉ nói đến đảng viên mà không kể đến số bộ đội người Hoa. Nhiều người trong số nầy đã do tôi tuyển thu”. Các cán-bộ CS cũng như một số nhà sử học cho rằng chiến-lược đối đầu trực-tiếp vừa nói là đường lối chỉ-đạo chiến-tranh của Tướng Nguyễn-Chí-Thanh. Tuy nhiên nếu xét một cách kỹ-lưỡng thì người ta sẽ thấy được rằng đây là đường lối chung của khối CS. Họ chỉ cần thu đạt được mục-đích mà không quan-tâm nhiều đến những thiệt-hại về nhân mạng. Với những quân-trang, quân-dụng được viện-trợ từ khối CS, người ta không ngạc nhiên khi các tướng lãnh CS đã chịu ảnh-hưởng lối điều binh của Nga và Trung-Cộng. Tướng Võ-Nguyên-Giáp đã viết (9): “Ðảng đã áp dụng chính xác đường lối quân sự theo lý thuyết Mác-xít Lê-nin-nít và ý tưởng của Mao-chủ-tịch vào các điều kiện vững chắc Việt nam để tạo nên các thành-công trong phong trào giải phóng đất nước”. Hồng quân Nga trong chiến-tranh ‘vệ quốc vĩ-đại’ năm 1941 đã sử-dụng chiến-thuật biển người. Tổn-thất quá cao về nhân mạng khiến Thống-chế G. Zhukov phải ra chỉ thị ngăn cấm các cuộc tấn-công thiêu thân nầy (10). Quân-đội Trung-Cộng cũng đã nổi tiếng với chiến-thuật biển người tại Triều-Tiên năm 1951. Các tướng lãnh CSVN do đó đã sử-dụng chiến-thuật nầy từ những ngày đầu của chiến-tranh Việt Pháp, bắt đầu là trận Phố-Lu ngày 8.2.1950 cho đến trận Ðiện-Biên-Phủ (7.5.1954). Các chiến-thắng nầy đều đã được đánh đổi với tổn-thất nặng-nề. Một sử-gia Việt-Nam đã phê-bình (11): “Chiến thuật biển người tuyệt nhiên không phải là binh pháp dân-tộc và kể cả Trung Hoa văn minh xưa, nó đã hủy hoại tâm đạo và tình tự dân tộc. Ðiện Biên Phủ là một chiến thắng quân sự và trên bình diện dư luận quốc tế nhưng mãi mãi là bãi tha ma lạnh người chôn sâu cả ngàn, vạn tử sĩ thương binh. Ðó là sợi chỉ đen to, dài xuyên suốt tâm đạo dân tộc”.

Rất lâu sau cái chết của Tướng Thanh, chiến-thuật biển người vẫn tiếp tục được sử-dụng. Quân-đội Úc trong các cuộc đụng độ năm 1968 đã ngạc nhiên trước các cuộc tấn-công mù quáng của CS. Một quyển sách về chiến-tranh VN đã viết (12): “Người Úc nhận biết rằng các cấp chỉ huy CSBV luôn theo thói quen nên sẽ tiếp tục ra lệnh tấn-công theo các trục mà họ đã chọn lựa và vì vậy họ đã chịu tổn thất nặng nề. Trong một hướng nhỏ nào đó, họ đã cho thấy sự thiếu mềm dẻo cũng giống như các cấp chỉ huy của quân-đội Anh trong thế chiến thứ nhất, lần lượt gửi hết đơn vị nầy đến đơn vị khác vào tử địa … Có lẽ các nhà lãnh-đạo của CS tin rằng áp lực do các trận đánh quanh Sài Gòn sẽ đưa đến những nhượng bộ tại Ba Lê. Thiệt hại của họ như vậy sẽ không có ý nghĩa nào trên phương diện mất mát về nhân sự. Người ta cho rằng Tướng Giáp đã nói mỗi năm có hàng ngàn người chết vì tai-nạn trong cuộc sống bình thường, do đó chết trong khi phục-vụ cho cách mạng ít ra còn lợi ích chút nào đó”. Ðứng trước con số thương vong quá cao của CS, một quân-nhân Úc đã phát biểu (12): “Tôi nghĩ rằng điểm đáng buồn là các cán-binh nầy đã bị lợi-dụng. Ðáng buồn khi thấy họ được dùng làm vật hy-sinh. Chắc chắn chúng tôi sẽ không bao giờ tấn-công trong trường-hợp mà họ đã làm … Tôi cũng hiểu rằng mục-tiêu của họ nhằm đánh lạc hướng sự xâm nhập vào Sài-Gòn, tuy nhiên theo ý-kiến tôi thì sự phí phạm nhân-lực trẻ trung như vậy là một tội ác … Tôi đoán rằng đây là một bằng chứng cho thấy khả-năng nhồi sọ giới trẻ của các cấp lãnh-đạo CS”.

Chiến-tranh VN đã cho thấy các cấp lãnh-đạo CSBV đã xem nhẹ những tổn-thất về nhân mạng. Ðiểm nầy chỉ có thể giải-thích bởi lý-thuyết cổ-điển của Clausewitz cho rằng chiến thắng phải trả bằng máu. Dầu có biện minh rằng mục-tiêu tối hậu là chiến-thắng cũng không ai có thể chối cãi được rằng trên phương-diện chiến-lược, cấp chỉ-huy phải đi tìm một chiến thắng thuận lợi nhất. Ðiều-kiện càng thuận lợi bao nhiêu thì sự chiến đấu cũng như tổn-thất sẽ giảm thiểu bấy nhiêu. Bàn về lý-thuyết chiến-tranh, Tôn-Tử đã viết (13): “Người tài giỏi trong chiến-tranh là thắng được quân địch mà không cần phải giao-tranh. Chiếm được thành mà không cần phải chiến-đấu và lấy được đất nước không cần đến các cuộc hành-quân lâu dài”.

Quân sử đã cho thấy nhiều thí dụ mà trong đó điều-kiện thuận lợi đã tiết giảm được những tổn thất về nhân mạng: trận Ilerda của Caesar, Preston của Cromwell, Ulm của Nã-Phá-Luân, Moltke vây hãm quân của MacMahon tại Sedan năm 1870, Allenby bao vây quân Thổ tại các ngọn đồi vùng Samaria năm 1918, Guderian với chiến-thuật chiến-xa thần tốc đã cô lập quân-đội Ðồng-minh tại Bỉ năm 1940. Ðảng CSVN đã phát động chiến-tranh giải-phóng gần suốt ba mươi năm với nhiều tang tóc đổ vỡ để giành độc-lập. Trong khi đó thì không một quốc-gia bị trị nào cần đến quá nhiều xương máu và thời-gian như vậy để được tự-do. Ðể nối gót Mạc-Tư-Khoa và Bắc-Kinh, CSVN đã chọn con đường đẫm máu cho dân-tộc Việt-Nam.

Trên bình diện quốc-gia, những chỉnh-lý, rối loạn chính-trị tại Sài-Gòn khiến chính-phủ Mỹ lo ngại miền Nam VN sẽ lọt vào tay CS. Không-quân Mỹ được lệnh oanh-tạc miền Bắc từ tháng 2.1965, sang tháng 3 tiểu-đoàn TQLC Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Ðà-Nẵng. Một số tàu của lực-lượng duyên-phòng Mỹ cũng đã được gửi đến VN để ngăn chận sự xâm nhập của CS bằng đường biển. Trong khi đó lực-lượng đặc-nhiệm 77 thuộc đệ thất hạm đội đến hoạt-động tại vùng biển VN để yểm-trợ cho các hoạt-động trên bờ và nhất là các đơn-vị TQLC Mỹ đang đóng tại các tỉnh cực Bắc của VNCH. Ngày 18.6.1965, lần đầu tiên các oanh-tạc-cơ B-52 được sử-dụng trong các cuộc dội bom chiến-thuật tại chiến-khu Ð (14).

Bàn về tình hình chung của năm 1965, cựu Giám-đốc Cơ-quan Trung-ương Tình-báo Mỹ (CIA) đã viết trong hồi-ký của ông (15): “Trong khi họ và Mỹ tiếp tục gia tăng sức mạnh, tình-báo của chúng tôi phỏng-đoán rằng miền Nam VN sẽ sụp đổ trước cuối năm 1965 trừ khi quân Ðội Mỹ có thể bảo tồn được đất nước nầy”. Tướng Westmoreland khi đề cập đến trận Ðồng Xoài đã viết (16): “Rất lo ngại bởi hai thử thách của QLVNCH tại Ba-Gia và Ðồng Xoài cũng như đoán trước được việc có thể xảy ra khiến tôi phải sử-dụng quân-đội Mỹ để có thể tránh được thất bại cho quân-lực VNCH, tôi đã yêu cầu Ðô-đốc Sharp xác-nhận thẩm-quyền của tôi. Ông đã tái xác nhận thẩm quyền nầy vì tôi là người đang có mặt tại chiến-trường, tuy nhiên ông có nói thêm rằng tôi nên cân nhắc lợi và hại”.

Trong bối cảnh như vậy, trận Ðồng Xoài như một giọt nước sau cùng làm tràn ly nước đã đầy. Những báo cáo bi quan của CIA về tình hình quân-sự cũng như những phỏng đoán của Tướng Westmoreland cho rằng CS định cắt đôi miền Nam VN theo đường ranh là quốc lộ 19 nối liền Pleiku và Qui-Nhơn, đồng thời chiếm giữ một thị-trấn để làm nơi ra mắt cho cơ-sở đầu não của Mặt Trận Dân Tộc Giải-Phóng Miền Nam, đã đưa đến một quyết-định quan trọng làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của chiến-trường kể từ khi CS bắt đầu phát động chiến-tranh xâm lược. Cuối tháng 6.1965, Tổng-thống Johnson ra lệnh cho 44 tiểu-đoàn của quân-đội Mỹ đang hiện diện tại miền Nam VN tổ chức các cuộc hành-quân truy lùng và tiêu-diệt địch quân.

 

 

 

 

 

 

Tài-Liệu Tham-Khảo

 

  1. D. Chanoff & T.V. Doan, Portrait of the Enemy, I B Tauris & Co. Ltd., London, 1987.
  2. Phan Nhật Nam,Dấu Binh Lửa 1963-1973, nxb Hiện Ðại, Sài Gòn, 1973.
  3. H.P. Ðoàn,Nhớ Bạn, Ða-Hiệu, trang 246-253, Số 50, 30.4.1998, Virginia.
  4. G. Esper & The Associated Press, The Eyewitness History of the Vietnam War 1961- 1975, The Associated Press, 1983.
  5. 5th Special Forces Group, Dong Xoai After Action Report, 7 July 1965.
  6. T. Maitland et al., The Vietnam Experience, A Contagion of War, Boston Publishing, 1983.
  7. R. Shaplen, The Lost Revolution: Vietnam 1945-65, Andre Deutsch Ltd., London, 1966
  8. Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước 1954-1975, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  9. D. Pike, People’s Army of Vietnam, Presidio Press, New York, 1986.
  10. No Retreat!, Images of War, Vol.1, No.8, Marshall Cavendish Ltd., London 1994.
  11. Cao Thế Dung, Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, nxb Alpha, Virginia, 1991.
  12. L. McAuley, The Battle of Coral, Arrow Books Ltd., London, 1990.
  13. S. Tzu, The Art of War, Oxford University Press, New York, 1971.
  14. C.B. MacDonald, A US Strategy to Stem the Communist Tide, The Vietnam War – The Illustrated History of the Conflict in Southeast Asia, Salamander Books Ltd., London, 1981.
  15. W. Colby & J. McCargar, Lost Victory, Contemporary Books, Inc., Chicago, 1989.
  16. W.C. Westmoreland, A Soldier Reports, Da Capo Press, Inc., New York, 1989.

 

 

 

 

 

 

trận đức-cơ

 

 

 

 

Nằm trong kế-hoạch bành-trướng Lực-lượng Dân-sự Chiến-đấu (DSCÐ), thường được Mỹ gọi tắt là CIDG, LLÐB thuộc Bộ Quốc-phòng đã thay thế Cơ-quan Trung-ương Tình-báo (CIA) để chỉ-huy các đơn-vị DSCÐ. Công-tác chuyển-giao nầy được gọi chung là kế-hoạch Switchback với dự trù hoàn tất ngày 1.7.1963. Quân-số DSCÐ từ 50 ngàn sẽ tăng lên đến 125 ngàn để phòng giữ 49 trại LLÐB trên khắp lãnh thổ Miền Nam VN. Một trong các trại nầy là Ðức-Cơ nằm về phía tây tỉnh PleiKu và trực thuộc khu 24 Chiến-thuật (Xem sơ-đồ 1). Quân-đoàn II gồm hai sư-đoàn 22 và 23 Bộ-binh. Sư-đoàn 22 chịu trách-nhiệm bảo-vệ lãnh thổ vùng duyên-hải. Sư-đoàn 23 phụ-trách khu-vực cao-nguyên. Diện-tích rộng lớn cũng như địa hình hiểm trở của cao-nguyên Trung-phần khiến sư-đoàn 23 BB gặp khó khăn trong nhiệm-vụ bảo-vệ an-ninh lãnh-thổ. Chính-phủ VNCH do đó đã thành-lập khu chiến-thuật 24 để phụ-trách riêng hai tỉnh Kontum và Pleiku. Bộ Tư-lệnh quân-đoàn II chỉ-định Tướng Cao-Hảo-Hớn tạm thời làm tư-lệnh. Vì không thuộc trách-nhiệm của hai sư-đoàn BB cơ-hữu thuộc quân-đoàn, lãnh thổ khu chiến-thuật 24 được bảo-vệ bởi một số Biệt-động-quân, LLÐB và Ðịa-phương-quân góp nhặt từ các nơi.

Như phần lớn  các trại LLÐB, trại Ðức-Cơ có tiết diện hình tam-giác, nằm kế cận một phi-đạo dã-chiến dài khoảng một cây-số với khả-năng tiếp nhận các phi-cơ  C-7 và C-47; được rừng rậm bao bọc về cả ba phía. Trại là căn-cứ xuất phát của các toán tuần tiễu với nhiệm-vụ thu thập tin tức tình-báo, ngăn chận sự xâm nhập của quân CS từ phía Kampuchia và bảo-vệ đoạn cuối của quốc lộ chiến-lược 19. Trại có một hàng rào phòng-thủ bằng cây gỗ các loại, được tăng-cường bằng những vỉ sắt PSP và nhiều lớp bao cát. Phía bên ngoài là hàng rào kẽm gai với hệ-thống mìn chống cá-nhân. Trại có hai cổng ra vào, một ở ngay mặt tiền và một mở ra về hướng tây nam với các ngựa gỗ để đóng lại ban đêm. Bên trong trại được chia thành nhiều khu để lực-lượng trú phòng có thể thu hẹp vị-trí chiến-đấu trong trường-hợp địch quân xâm nhập được vào bên trong hệ-thống phòng-thủ. Các hầm chiến-đấu dọc theo tuyến phòng-thủ đều có mái che, chung quanh và phía trên mái đều có lót vỉ sắt PSP và nhiều lớp bao cát. Một hệ-thống giao-thông hào nối liền các hầm chiến-đấu. Binh-sĩ có thể ăn ngủ ngay tại hầm. Trại có bốn vị-trí đặt súng cối 81 ly. Hai hầm chỉ-huy ở hai bên cổng chính của trại với đầy đủ các phương-tiện liên-lạc hữu tuyến cũng như vô-tuyến. Một hầm của trại trưởng, trưởng toán LLÐB/VN và hầm kia là của toán LLÐB/Mỹ. Giữa trại là một bồn chứa khoảng 1000 ga-lông nước được đặt trên một khung sắt hình thang cao khoảng 5 mét.

Lực-lượng trú phòng tại trại LLÐB Ðức-Cơ gồm khoảng 400 DSCÐ được tổ-chức thành bốn đại-đội. Thành-phần đa số là người Thượng cùng một số người Nùng. Trại trưởng là Trung-úy Trần-Tự-Lập, xuất thân khóa 17 Trường Võ bị Quốc gia Việt Nam. Các hạ sĩ quan trong toán LLÐB/VN làm đại-đội-trưởng các đại-đội DSCÐ. Trưởng toán A-215 LLÐB/Mỹ là Ðại-úy R.B. Johnson. Toán viên LLÐB/Mỹ là các chuyên-viên về tình-báo, vũ-khí, chất nổ giữ nhiệm-vụ huấn-luyện về tác-chiến, phá-hoại và mìn bẫy cho các DSCÐ. Không giống như hệ-thống cố-vấn Mỹ của các đơn-vị chủ-lực-quân; Mỹ huấn-luyện, trang-bị và trả lương cho DSCÐ nên các quân-nhân LLÐB/Mỹ chi-phối hầu hết các hoạt-động quân-sự tại các trại LLÐB.

Về địa thế, trại LLÐB Ðức-Cơ nằm cách biên-giới Việt Miên khoảng 13 cây-số và cách thành-phố Pleiku khoảng 55 cây-số. Từ Pleiku theo quốc lộ 14 đi về phía nam sẽ đến đồn-điền Catecka với một sân bay dã-chiến dài khoảng 600 mét. Từ Catecka đi tiếp khoảng 10 cây-số sẽ đến làng Thanh-Bình nằm dọc theo quốc lộ 19. Nhưng nơi đông dân nhất là quận lỵ Lệ-Thanh, cách trại LLÐB Ðức-Cơ khoảng 8 cây-số về hướng đông bắc. Cách trại khoảng ba cây số về phía tây là làng Thăng-Ðức, nằm dưới chân một ngọn đồi cạnh quốc lộ. Trên ngọn đồi với cao độ 451 mét nầy có dựng một tượng Ðức Mẹ bằng đá trắng cao khoảng 3 mét. Ngoài ra còn có một vài buôn Thượng nằm rải rác dọc theo hai bên quốc lộ. Qua khỏi làng Thăng-Ðức, thế đất thấp dần về hướng biên-giới Việt Miên. Thế đất phía nam quốc lộ cũng lài dần để biến thành thung-lũng Ia Drang cách quốc lộ khoảng 40 cây số. Phía bắc của trại Ðức-Cơ là hai dãy đồi khá cao được ngăn cách bởi ba con sông nối vào nhau và chảy theo hướng bắc nam là Ia Doul, Ia Krel và Ia Moul. Dãy đồi bên trái có ba cao điểm là Chư Lom, Chư Kram và Chư Goet. Dãy đồi bên phải có hai cao điểm là Chư Gram và Chư Dalba. Các cao điểm nầy đều có cao độ trên 500 mét (Xem sơ-đồ 2).

 

  1. Diễn-tiến

 

Việc Mỹ oanh-tạc Miền Bắc và đổ quân vào Miền Nam đã tạo bất ngờ cho CSBV. Ban Chấp-hành Trung-ương Ðảng CS do đó phải cấp bách triệu tập hội-nghị lần thứ 11 từ 25 đến 27.3.1965 để nghiên-cứu tình hình và đề ra đường lối chỉ-đạo chiến-tranh mới hầu đối phó với tình thế. Từ kết-quả của hội-nghị, ngày 27.4.1965, Quân-ủy Trung-ương và Bộ Tổng Tư-lệnh quân-đội CSBV chỉ-thị cho các chiến trường đẩy mạnh các hoạt-động quân-sự (1).

Thi-hành chỉ thị nầy, Bộ Chỉ-huy Quân-sự Miền mở chiến-dịch Xuân Hè 1965 với trọng điểm là Ðồng Xoài. Ðể phối-hợp với mặt trận Ðồng Xoài, Khu-ủy và Bộ Tư-lệnh quân-khu V của CS tổ chức các trận đánh trên ba hướng phụ (1):

. Bắc Quảng Ngãi: chiến-dịch Ba Gia hay chiến-dịch Sơn-Tịnh.

Nam Tây-nguyên: cắt đứt tỉnh lộ 7, các quốc lộ 14, 19 và 21.

Tây Gia Lai – Bắc KonTum: tấn công quận lỵ Lệ-Thanh, các trại Lực-Lượng Ðặc-Biệt (LLÐB) Toumorong, Ðức-Cơ và các xã ấp dọc theo quốc lộ 14.

Ngày 31.5.1965, tiểu-đoàn 952 VC tấn chiếm quận lỵ Lệ-Thanh do một tiểu-đoàn Ðịa-phương-quân trấn giữ.

Ngày 30.6, trung-đoàn 32 CSBV được lệnh bao vây trại LLÐB Ðức-Cơ với mục-đích lôi cuốn và tiêu diệt viện binh trên quốc lộ 19B. Phối kiểm các tin tức tình-báo, Bộ Tư-lệnh quân-đoàn II đoán được ý định tấn-công trại LLÐB Ðức-Cơ của địch. Chuẩn-tướng Vĩnh-Lộc*, Tư-lệnh quân-đoàn II đã gửi chiến-đoàn II Dù do Trung-tá Ngô-Xuân-Nghị làm chiến đoàn trưởng vào Ðức-Cơ với nhiệm-vụ giải tỏa áp lực địch trong khu-vực nầy. Chiến-đoàn gồm hai tiểu-đoàn 3 (Tiểu-đoàn-trưởng là Thiếu-tá Trương-Kế-Hưng) và 8 Dù (Ðại-úy Nguyễn-Văn-Thọ xử lý thường vụ chức vụ TÐT vì Thiếu-tá Ðào-Văn-Hùng đang bận công-vụ tại Sài-Gòn). Chiến-đoàn có quân-số khoảng 1300 người.

8 giờ sáng ngày 4.8, chiến-đoàn II Dù được trực-thăng-vận vào Ðức-Cơ theo thứ tự tiểu-đoàn 3, Bộ Chỉ-huy chiến-đoàn và tiểu-đoàn 8. Vị-trí đổ quân là phi-đạo dã-chiến trước trại LLÐB Ðức-Cơ. Cuộc đổ quân hoàn tất lúc 16 giờ. Tại phi-đạo, Chuẩn-tướng Cao-Hảo-Hớn dặn dò Trung-tá Nghị những chỉ-thị chót của Bộ Tư-lệnh quân-đoàn. Bộ Chỉ-huy chiến-đoàn vào đóng trong trại LLÐB. Tiểu-đoàn 3 Dù được giao trách-nhiệm phòng thủ khu-vực phía tây của trại trong khi tiểu-đoàn 8 Dù được chỉ-định đóng quân cách trại khoảng 500 mét về phía bắc. Tình hình trong đêm yên tĩnh. Hai hướng tây và tây bắc thỉnh thoảng được soi sáng bằng các đạn chiếu sáng từ súng cối 81 ly do trại bắn ra.

Sáng ngày hôm sau, chiến-đoàn Dù bắt đầu mở cuộc hành-quân tảo-thanh về phía bắc. Một vài dấu vết đóng quân của CS được tìm thấy dọc theo trục tiến quân. Ðến khoảng 2 giờ chiều, trong khi đang lục soát khu-vực phía Nam đồi Chư Kram thì phi-cơ quan-sát báo cáo nhìn thấy quân CS đang di chuyển lên từ phía tây nam. Ðến 15 giờ, đại-đội đi đầu của tiểu-đoàn 3 Dù chạm địch tại một trảng tranh. Một số cán binh CS đội nón cối giắt lá ngụy-trang vừa chạy vừa tác-xạ vào hướng quân Dù. Do địa thế trống trải, khó điều quân nên cả hai bên sử-dụng tối đa súng cối để sát thương. Sau đó, các khu-trục-cơ Skyraider của không-quân xuất hiện để oanh-tạc và bắn phá các vùng nghi ngờ có địch. Các trực-thăng vũ-trang của Mỹ cũng bay đến để yểm-trợ quân bạn dưới đất. Lúc 16.30 giờ, Thiếu-tá Trương-Kế-Hưng, Tiểu đoàn trưởng TÐ 3 Dù bị trọng thương ở ngực. Ðại-úy Phùng-Sĩ-Thanh, Tiểu đoàn phó lên thay thế. Sau đó không lâu, một trực-thăng vũ-trang của Mỹ trong khi yểm-trợ tiếp cận đã bắn lầm hai hỏa-tiển vào đội hình của đại-đội 83 Dù đang đóng tại bìa rừng khiến Trung-úy Lâm-Ðôn, ÐÐT đại-đội nầy bị thương nặng cùng với một số binh-sĩ. Trung-úy Bùi-Quyền thuộc đại-đội 81 Dù được lệnh sang tạm nắm quyền chỉ-huy đại-đội 83. Bóng tối đổ xuống rất nhanh nên cả hai bên đều đoạn chiến và tổ-chức tản thương.

Nhận thấy vị-trí đóng quân không thuận lợi và lại không có yểm-trợ pháo binh nên chiến đoàn trưởng ra lệnh rút quân về đóng tại vị-trí cũ của ngày hôm trước. Dưới ánh sáng của các đạn chiếu sáng do trại tác-xạ, hai tiểu-đoàn Dù hoàn tất việc di-chuyển và bố trí phòng thủ lúc 11 giờ khuya. Thiếu-tá Ðào-Văn-Hùng, TÐT/TÐ 8 Dù theo trực-thăng tản thương từ Sài-Gòn ra để nhận lại quyền chỉ-huy tiểu-đoàn.

2 giờ sáng ngày 6.8, quân CS tấn-công trại Ðức-Cơ tại hai hướng tây và tây nam. Pháo binh của CS tác-xạ xối xả vào trại trong khi bộ binh địch tấn-công vào tuyến phòng-thủ của tiểu-đoàn 3 Dù tại hướng tây nam phía bên ngoài trại. Phi-cơ C-47 từ Pleiku đã bay đến ngay để thả hỏa châu soi sáng trận địa. Càng gần sáng, cuộc chạm súng thưa thớt dần nhưng cường-độ pháo kích càng lúc càng gia tăng. Ðạn súng cối nổ gần như liên tục trên các khu-vực trại LLÐB, phi-đạo và vị-trí đóng quân của hai tiểu-đoàn Dù. Ðến khoảng 8 giờ sáng, phi-cơ Việt Mỹ bắt đầu oanh-tạc các vị-trí nghi ngờ là nơi đặt pháo của CS. Phòng không địch bắn trả cho thấy có sự hiện diện của cấp trung-đoàn CS. Một số trực-thăng tải thương bị trúng đạn phòng không phải bay trở lại PleiKu. Công-tác tản thương phải tạm đình chỉ. Các thương binh nặng phải dùng cáng khiêng chạy vào trú ẩn trong các hầm ngầm của trại LLÐB. Thương binh nhẹ nằm ngay tại vị-trí phòng thủ. Bộ Chỉ-huy chiến-đoàn Dù ra lệnh sử-dụng mọi phương-tiện sẵn có để tăng-cường hầm núp chống pháo kích. Trưa cùng ngày, đạn pháo địch đã làm thủng bồn chứa nước của trại. Nhiều toán DSCÐ được phái ra con suối sau trại để lấy nước đều phải trở lui với thiệt hại do hỏa lực của địch.

Tọa lạc tại một vị-trí cố-định và với một diện-tích giới-hạn, trại đã trở thành địa ngục dưới các cơn pháo dữ-dội của quân CS. Tâm-trạng của các quân-nhân đồn-trú tại Ðức-Cơ đã được một sĩ-quan Mỹ, cố-vấn cho chiến-đoàn Dù mô tả lại như sau (2): “Hằng đêm chúng tôi lên giường ngủ với ám ảnh là trại sẽ bị tràn ngập và chúng tôi đều bị tàn sát. Tôi phải tập đi ngủ với một tai vẫn thức vì tôi biết rằng bất cứ giờ giấc nào mỗi đêm vẫn có thể có một cuộc pháo kích của địch. Tiếng đạn súng cối khi được thả vào nòng có thể nghe được cách xa vài trăm thước, và mỗi lần tôi nghe được tiếng đạn rít thì tôi biết rằng tôi có khoảng tám giây để chạy vào hầm trú ẩn. Trong nhiều đêm, tôi không giải thích được tại sao tôi có thể vọt vào hầm quá nhanh, tuy nhiên chắc chắn là sau đó đạn pháo nổ chung quanh. Mỗi buổi sáng, chúng tôi thức dậy cảm thấy bình yên và biết rằng mình còn sống”.

Tấm gương sáng chói của Florence Nightingale, người nữ y-tá Anh trong chiến-tranh Criméa (1854-1856) giữa Anh, Pháp, đế-quốc Ottoman và Nga vẫn mãi mãi được đề cao trong lịch-sử ngành cứu thương của Anh-quốc. Trong chiến-tranh Việt-Nam, đặc-biệt tại trại LLÐB Ðức-Cơ, một nữ y-tá VN cũng đã làm nổi bật sự hy-sinh quên mình trong việc cứu chữa cho thương binh. Cô đã xông xáo giữa chốn lửa đạn ngút trời để băng bó an ủi các chiến-hữu kém may-mắn của mình. Nghĩa-vụ cao đẹp nầy đã được một phóng-viên của hãng thông-tấn AP ghi lại như sau (3): “Ðức-Cơ – Miền Nam Việt-Nam. Khi màn đêm buông xuống và đạn súng cối bắt đầu nổ phủ chụp lên trại lực-lượng đặc-biệt nầy, bóng của một cô gái nhỏ bé ẩn hiện qua chớp sáng của các tiếng nổ như một bóng ma. Liên-Hương đang đi tìm kiếm thương binh. Có lẽ cô ta sẽ khóc khi bò dọc từ hầm trú ẩn nầy sang hầm trú ẩn khác, đôi lúc cô mang một mũ sắt lắc lư. Mặc dù Liên-Hương đã chứng kiến nhiều người chết cũng như nghe tiếng rên la của kẻ bị thương, cô vẫn không thể nào quen được với sự chịu đựng đau khổ nầy. Với đôi mắt đã nhạt nhòa, chiếc áo khoác xanh đã lấm bụi, Liên-Hương bò trở lại hầm chỉ-huy để báo cho người y-tá Mỹ bằng một giọng Anh ngữ đứt quãng rằng một binh-sĩ đã bị trúng đạn trầm-trọng để rồi bò trở lại với hộp cứu thương. Sau khi cuộc tấn-công chấm dứt và thương binh đã được tập trung lại, cô sẽ giúp các y-tá Mỹ đẫm mồ hôi để cố-gắng cứu sống các thương binh cũng như an-ủi các người khác. Liên-Hương, chỉ mới 20 tuổi tháng hai rồi nhưng đã tình-nguyện làm y-tá cho trại Ðức-Cơ từ 20 tháng qua. Ðã nhiều đêm trại bị quân CS pháo kích nhưng cô vẫn cố-gắng chịu đựng với sự bình-tĩnh khiến các binh-sĩ LLÐB dù cứng rắn cũng phải thán phục, với các binh-sĩ nầy thì chỉ một đêm tại Ðức-Cơ thôi có thể làm người ta già đi. Liên-Hương phải thường xuyên chống chọi với sự sợ-hãi, bùn lầy và bẩn thỉu. Mái tóc xõa đến ngang lưng vẫn luôn luôn long lanh, khuôn mặt chưa bao giờ dùng đến đồ trang điểm vì luôn luôn sống tại miền quê hẻo lánh nhưng mang đầy vẻ mềm mại, thanh tú. Ðôi mắt vẫn như e thẹn dù đã chứng kiến biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Mặc dù tận tâm, Liên-Hương vẫn không quên được những mất mát của riêng mình. Cô đã mơ một chiếc áo đẹp mặc dù biết rằng sẽ không có cơ-hội để mặc tại Ðức-Cơ. Liên-Hương ước muốn được thăm viếng Sài-Gòn, nơi mà cô chưa bao giờ đặt chân đến. Cô vẫn nhớ đến người yêu là một trung-sĩ Dù đã đóng tại Ðức-Cơ. Họ đã xa nhau từ hơn ba tháng qua và có lẽ sẽ không bao giờ gặp lại nhau. Liên-Hương có một chân lý thật đơn giản: tôi muốn ở lại đây để giúp đỡ. Tôi yêu lính và muốn ở lại với họ vì họ cần đến tôi. Tôi sẽ ở lại đây ngày nào trại còn đứng vững. Nếu Việt-Cộng chiếm trại nầy tôi sẽ đi sang trại khác”.

Sáng sớm ngày 7.8, một trận mưa to mang lại lượng nước cần-thiết cho các binh-sĩ đã phải nhịn khát từ hôm qua. Cường độ pháo kích của địch vẫn không giảm bớt. Các phi tuần oanh-tạc sau khi hoàn tất nhiệm-vụ đều báo cáo phát giác nhiều vị-trí phòng không mới. Tình-trạng nầy khiến các vận tải cơ phải bay thật cao và hậu quả là phần lớn các dù tiếp-tế đã bay lạc sang phía CS.

Ngày 8.8, cường độ pháo có suy giảm. Hai tiểu-đoàn Dù đã thừa dịp nầy vừa lo việc ẩm thực vừa tu bổ lại hệ-thống công sự phòng-thủ. Buổi chiều được tin thông-báo tiểu-đoàn 5 Dù (TÐT là Thiếu-tá Hồ-Trung-Hậu) sẽ được trực thăng vận đến tăng-cường vào sáng ngày hôm sau, cùng với tin một lực-lượng thiết-giáp, BÐQ và TQLC cũng sẽ từ PleiKu theo quốc lộ 19 vào giải tỏa Ðức-Cơ. Bộ Chỉ-huy chiến-đoàn II Dù do đó đã lập kế-hoạch phản công ngay khi tiểu-đoàn 5 đổ quân xong. Suốt đêm quân CS chỉ pháo kích cầm chừng.

Theo đúng kế-hoạch đã định, từ 7 giờ sáng ngày 9.8, các oanh tạc cơ Việt và Mỹ liên tục dội bom vào các khu-vực nghi ngờ có quân CS tại hai hướng tây và bắc của trại Ðức-Cơ. Khoảng một giờ sau, các trực-thăng vũ-trang hộ tống các trực-thăng chuyển quân đến tác-xạ dọn bãi. Ngay sau đó, đại-đội đầu tiên của tiểu-đoàn 5 Dù được đổ xuống tại đầu phi-đạo phía đông bắc. Ðại-đội nầy đã nhanh chóng tiến chiếm các vị-trí xung yếu quanh bãi đáp để bảo-vệ các đợt đổ quân kế tiếp. Ðịch không có phản ứng. Sau khi hoàn tất cuộc đổ quân, tiểu-đoàn 5 Dù tiến chiếm một số vị-trí trong khu-vực phía bắc. Tiểu-đoàn 8 Dù chiếm khu đồi 353. Tiểu-đoàn 3 Dù đóng quân tại vị-trí cũ với nhiệm-vụ trừ bị. Tại các vị-trí vừa mới chiếm, các binh-sĩ Dù tìm thấy nhiều hầm hố; bông băng chứng tỏ địch đã bị nhiều thương vong trong mấy ngày qua.

Ngày 9.8.1965, hai chiến-đoàn thiết-giáp, BÐQ và TQLC vượt tuyến xuất phát, chính thức khai diễn cuộc hành quân Dân-Thắng 7 nhằm khai thông quốc lộ 19 và tiếp-tế cho trại LLÐB Ðức-Cơ.

Chiến-đoàn thiết-giáp do Trung-tá Nguyễn-Trọng-Luật chỉ-huy gồm:

. Bộ Chỉ-huy trung-đoàn 3 Thiết-giáp

. Chi-đoàn 1/5 Chiến-xa (CX) do Ðại-úy Trần-Văn-Thoàn làm chi-đoàn-trưởng

. Chi-đoàn 2/6 Thiết-quân-vận do Ðại-úy Dư-Ngọc-Thanh làm chi-đoàn-trưởng

. Tiểu-đoàn 21 Biệt-Ðộng-Quân do Ðại-úy Nguyễn-Văn-Sách làm tiểu-đoàn-trưởng

. Một pháo-đội đại-bác 105 ly

. Trung-đội công-binh chiến-đấu

. Chi-đội thiết-giáp M-8

. Thành-phần vận-tải tiếp-vận.

Chiến-đoàn TQLC gồm hai tiểu-đoàn 2 và 5 dưới quyền chỉ-huy của Trung-tá Nguyễn-Thành-Yên.

Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn 2 TQLC gồm: Tiểu-đoàn-trưởng : Thiếu-tá Hoàng-Tích-Thông; Tiểu-đoàn-phó: Ðại-úy Nguyễn-Văn-Hay (kiêm Ðại-đội-trưởng Ðại-đội 2); ÐÐT/ÐÐ 1: Ðại-úy Phạm-Nhã; ÐÐT/ÐÐ 2: Ðại-úy Nguyễn-Văn-Hay; ÐÐT/ÐÐ 3: Ðại-úy Nguyễn-Năng-Bảo; ÐÐT/ÐÐ 4: Ðại-úy Vũ-Anh-Kỳ.

Bộ chỉ-huy tiểu-đoàn 5 TQLC gồm: Tiểu-đoàn-trưởng: Thiếu-tá Dương-Hạnh-Phước; Ban 3: Trung-úy Nguyễn-Ðăng-Hòa; ÐÐT/ÐÐ 1: Ðại-úy Võ-Trí-Huệ; ÐÐT/ÐÐ 2: Trung-úy Nguyễn-Văn-Phán; ÐÐT/ÐÐ 3: Trung-úy Nguyễn-Ðình-Thủy; ÐÐT/ÐÐ 4: Trung-úy Trần-Kim-Ðể.

Ðể phù-hợp với địa thế của quốc lộ 19, chiến-đoàn thiết-giáp BÐQ tiến trước, theo sau là chiến-đoàn TQLC. Tiểu-đoàn 5 đi sau tiểu-đoàn 2 TQLC.

Chiến-đoàn thiết-giáp BÐQ tổ-chức hành-quân theo thứ tự sau:

. Chi-đoàn 1/5 CX (trừ một chi-đội di-chuyển đoạn hậu) và một đại-đội BÐQ tùng thiết

. Chi-đoàn thiết-quân-vận gồm các thiết-vận-xa M-113

. Tiểu-đoàn BÐQ (trừ một đại-đội tùng thiết cho chi-đoàn chiến-xa đi đầu) và một chi-đội chiến-xa

. Công binh, pháo binh, quân vận

. Chi-đội thiết-giáp M-8.

Sau cuộc đảo chính lật đổ Tổng-thống Ngô-Ðình-Diệm năm 1963, các chi-đoàn chiến xa M-24 của trung-đoàn 1 Thiết-giáp (TG), trung-đoàn 2 TG và lữ-đoàn Liên-binh Phòng-vệ Tổng-thống-phủ được tập-trung lại để thành-lập Chiến-đoàn 5 CX. Chi-đoàn 1/1 CX thuộc trung-đoàn 1 TG trước đây do đó được đổi danh hiệu thành chi-đoàn 1/5 CX. Từ năm 1964, việc sử-dụng các chiến-xa M-24 Chaffee do quân-đội Pháp chuyển giao trước đây cho QLVNCH bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Máy móc thường hư hỏng, các cơ-phận thay thế rất khó tìm, động-cơ khi tu sửa đại kỳ phải gửi sang tận Nhật. Do đó vào giữa năm 1964, các chiến-xa M-41A3 Walker Bulldog được chọn để thay thế. Tháng 1/1965, chiến-xa đầu tiên được gửi sang Việt-Nam (4). Chi-đoàn 1/5 CX là một trong những đơn-vị nhận lãnh chiến-xa M-41A3 đầu tiên. Sau khi hoàn tất chương-trình huấn-luyện với chiến-xa mới tại trường Bộ-binh Thủ-Ðức, chi-đoàn được tàu hải-quân chuyển vận ra Qui-Nhơn để trắc-nghiệm chiến-thuật tại Bình-Ðịnh. Sau khoảng một tháng trắc-nghiệm trên mọi địa thế, các chiến xa M-41A3 chứng tỏ khả-năng hoạt-động với kết quả tốt. Chi-đoàn được lệnh di-chuyển lên An-Khê, tăng phái cho sư-đoàn Dù đang hành quân tại đây. Sau đó chi-đoàn di-chuyển từ An-Khê lên Pleiku và tổ chức các cuộc hành-quân chung quanh tỉnh lỵ để tiếp tục trắc-nghiệm khả-năng. Ðịa thế đồi núi và rừng già đã hạn chế khá nhiều khả-năng hoạt-động của chiến-xa. Khi phải di-chuyển tại các đường thông thủy, chiến-xa dễ bị lầy và rất khó kéo ra khỏi vùng đất lầy. Lý do phải kéo từ xa và phải dùng 2 hoặc 3 chiến-xa để kéo một xe bị lầy. Ngoài ra cỏ voi trong vùng hoạt-động làm giới hạn khá nhiều tầm quan-sát của xa đoàn.

Trên đường vào Ðức-Cơ, một giám mục địa-phương cho biết tin CS có thể phục-kích ở phía trước. Ðể đề-phòng chiến-thuật công đồn đả viện của địch, chi-đoàn 1/5 CX đi đầu di-chuyển theo lối chân vạc. Mỗi chi-đội luân phiên tiến chiếm các điểm trọng yếu trên địa thế và trong tầm yểm-trợ trực-tiếp của các đại-bác 76 ly trên các chiến-xa để chi-đội kế tiếp tiến dần về phía trước.

Khoảng 1400 giờ, chi-đội đầu tiên vừa đến ngã ba đi vào quận lỵ Lệ-Thanh thì bị khoảng một tiểu-đoàn thuộc trung-đoàn 32 CSBV phục-kích (Xem sơ-đồ 3). Hai chiến-xa đi đầu bị trúng đạn chống chiến-xa của địch. Ðại-đội BÐQ tùng thiết bị tê-liệt vì thiệt hại nặng. Hai chiến-xa trong phân đội chỉ-huy tác-xạ đạn chống biển người (Canister) vào hai bên quốc lộ để đề-phòng địch xung-phong. Một trong hai phi-cơ F-100 bay đến yểm-trợ đã bị phòng không của địch quân bắn hạ. Phi-công nhảy dù thoát nạn.

Vị-trí phục-kích đã được địch quân chọn lựa kỹ lưỡng. Một bên là thung-lũng để các chiến-xa không thể nào di-chuyển xuống được cũng như dàn trải đội hình. Bên kia là cỏ voi rậm rạp hạn chế tầm quan sát của các pháo thủ trên chiến-xa.

Ngay sau khi đụng trận, Chi-đoàn-trưởng chi-đoàn 1/5 CX đã yêu cầu Bộ chỉ-huy chiến-đoàn cho sử-dụng chi-đội chiến-xa tăng-phái để đánh ngang hông địch, phía bên phải quốc lộ. Chỉ trong một thời-gian ngắn, cuộc phục-kích bị đánh tan. Trong khi đang lục soát, thu dọn chiến trường thì quân CS tấn-công phía sau chiến-đoàn. Do khoảng cách hành-quân của chiến-đoàn thiết-giáp BÐQ kéo dài nên một tiểu-đoàn khác của trung-đoàn 32 CSBV đã đánh vào đoàn xe thuộc thành-phần yểm-trợ và tiếp-vận. Chi-đoàn-trưởng chi-đoàn 1/5 CX đã bị thương trong khi điều động các chiến-xa đến tiếp ứng. Chi-đoàn-phó lên thay tiếp tục chỉ-huy cuộc phản công. Cuộc chạm súng thưa thớt dần vì địch quân rút lui khi trời bắt đầu tối.

Rạng sáng ngày 10.8, quân CS trở lại tấn-công vào vị-trí đóng quân, không ngờ trúng vào vị-trí phòng-thủ của chiến-đoàn TQLC. Từ ban chiều, ngay khi đụng trận, chiến-đoàn TQLC đã được lệnh tiến lên phía trước  phối hợp với thiết-giáp tấn-công địch. Cuộc tấn-công của quân CS do đó đã bị bẻ gãy một cách dễ dàng. Tuy nhiên chiến-thuật tiền pháo hậu xung của quân CS cùng với việc tổ-chức tuyến phòng-thủ không rõ ràng vì trời tối khiến TQLC bị một số thiệt-hại, do thiết-giáp bắn lầm và đạn pháo của quân CS. Ðến khoảng 8 giờ sáng, trực-thăng đến tiếp tế và tản thương. Phi-cơ vận-tải C-47 đến thả dù nhiên-liệu và đạn dược cho thiết-giáp. Một hố to đã được các binh-sĩ thiết-giáp đào để chôn tập thể các cán binh CS chết bỏ lại trận địa. Nhiều vết máu sau đó được tìm thấy gần một dòng suối trên đường tiến quân vào Ðức-Cơ chứng tỏ quân CS đã di-chuyển thương binh trên đường rút lui.

Chiến-đoàn TQLC tiến trước vào Ðức-Cơ theo sau là chiến-đoàn thiết-giáp và BÐQ. Ðơn-vị đầu tiên đến sân bay Ðức-Cơ lúc 11 giờ. Trực-thăng đến Ðức-Cơ để tản thương. Các vận-tải-cơ C-7 Caribou cũng đáp xuống sân bay để tiếp-tế đạn dược và thực-phẩm. Tình hình trong ngày yên tĩnh.

Ngày 11.8, QLVNCH bắt đầu tổ-chức các cuộc hành-quân giải tỏa áp-lực địch chung quanh Ðức-Cơ. Nhảy Dù hành-quân tảo-thanh khu-vực làng Thăng-Ðức về phía tây trại Ðức-Cơ đến tận biên-giới Việt Miên. TQLC phụ-trách khu-vực phía nam. BÐQ và thiết-giáp hoạt-động chung quanh trại và hướng bắc. Cuộc hành-quân Dân Thắng 7 chính thức chấm dứt ngày 15.8.1965. Không có đụng độ quan trọng nào được ghi nhận trong các cuộc hành-quân nầy. Các lực-lượng hành-quân bắt đầu rút ra theo quốc lộ 19, di-chuyển bộ ra ngã ba Lệ-Thanh và được quân xa đưa về dưỡng quân tại Pleiku. Lữ-đoàn 173 Dù Mỹ chịu trách-nhiệm bảo-vệ quốc lộ khi các đơn-vị lui binh (5).

Ngày 17.8, chiến-đoàn II Dù được không-vận xuống Nha-Trang để chuẩn bị tham-gia cuộc hành-quân khai thông quốc lộ 21 từ Nha-Trang đi Ban-Mê-Thuột. TQLC được đưa lên Kontum để hành-quân tảo thanh vùng phía tây thành phố nầy.

 

  1. Hậu-quả

 

Chiến-đoàn Dù có khoảng 20 binh-sĩ thiệt mạng tại Ðức-Cơ (2). Trong cuộc đụng độ giữa quân Dù và VC, kết quả ghi nhận có 158 VC bỏ xác tại trận, 100 cán binh khác chết do phi-cơ oanh-kích (6). Toán A-215 LLÐB Mỹ dưới quyền chỉ-huy của Ðại-úy R.B. Johnson theo báo cáo của LLÐB Mỹ đã bị thiệt hại nặng (7). Tiểu-đoàn 2 TQLC có 31 quân-nhân tử trận (8).

Kết quả cuộc hành-quân Dân Thắng 7 do Bộ Tư-lệnh quân-đoàn II tổng kết như sau (9): “Quân đội CSBV có 566 tử trận, 26 bị bắt. QLVNCH tịch thu được 12 vũ khí cộng

 

đồng, 94 vũ khí cá nhân và phá hủy 2 đại liên 50 và 2 súng cối 81 ly”.

 

  1. Nhận-xét

 

 

Chiến-thuật

Năm 1965, thi-hành đường lối của Ban Chấp-hành Trung-ương Ðảng cũng như chỉ-thị của Quân-ủy Trung-ương và Bộ Tổng Tư-lệnh, các lực-lượng CSBV và VC đẩy mạnh các hoạt-động khủng-bố phá hoại tại các thành phố, đánh chiếm các vị-trí xa xôi, hẻo lánh với mục-đích làm giảm nhẹ áp lực của Mỹ lên Miền Bắc.

Trước Giáng-Sinh, khách-sạn Brink đã bị đặt bom nổ tung khiến hai người Mỹ bị thiệt mạng cùng với hơn 50 người khác bị thương. Ðến ngày 10.2.1965, khách-sạn Việt-Cường tại Qui-Nhơn bị đặt bom khiến cho 23 quân-nhân Mỹ bị thiệt mạng. Cuối tháng 3.1965, quân khủng-bố CS đặt bom trước tòa Ðại-sứ Mỹ tại Sài-Gòn gây cho 22 người chết cùng với hơn 200 người khác bị thương.

Trên chiến trường, quân-đội CSBV gia tăng cường độ tác chiến với sự tham dự của cấp trung-đoàn. Tuy nhiên QLVNCH đã phản ứng chậm trễ vì vẫn còn quan niệm khinh địch do hậu quả của những năm hòa bình chuyển tiếp sau hiệp-định Genève. Phần khác là toàn thể hệ thống chỉ huy quân sự chưa kịp ổn định sau những xáo trộn của cuộc cách mạng 1.11.1963 và những cuộc chỉnh lý tiếp theo sau đó. Thất-bại tại Bình Giã vào tháng 12.1964 và Ba Gia vào tháng 5.1965 đã làm rúng động quân dân Miền Nam.

Trong khi đó, chính-phủ VNCH lại ở trong tình-trạng khủng hoảng về chính-trị do các phong trào chống đối của Phật giáo. Ngày 23.1.1965, khoảng 3000 Phật tử xuống đường đập phá và đốt các sách vở của thư-viện Mỹ tại Huế (10). Trước những xáo trộn về chính-trị càng ngày càng gia tăng, chính-phủ Trần-Văn-Hương được thay thế bằng chính-phủ Phan-Huy-Quát (27.1.1965). Chính-phủ mới lại bị các đoàn thể chính-trị Công giáo chống đối (11). Ðại-sứ Mỹ M. Taylor phải báo cáo về Hoa-Thịnh-Ðốn rằng (12): “Với tình-trạng sa sút một cách trầm trọng mà điển hình là những rối loạn về chính-trị đang diễn tiến, sự vô trách nhiệm và chia rẽ trong hàng ngũ quân-đội, gia tăng sự chống Mỹ cùng với những dấu hiệu gia tăng cường độ khủng bố của Việt-Cộng đối với nhân-viên Mỹ cũng như những chán nản, mất tinh-thần trên toàn khắp Miền Nam Việt-Nam”.

Hiểu được bối cảnh tổng-quát lúc bấy giờ người ta sẽ không ngạc nhiên những gì sắp xảy ra tại quân khu 2 mà trận Ðức-Cơ chỉ là một trong những mắt xích của toàn cảnh năm 1965.

Tháng 2.1965, quân CS đột kích trại Holloway, căn-cứ không-quân Mỹ chỉ cách trung-tâm thành phố Pleiku khoảng ba cây số về phía tây bắc khiến tinh-thần quân dân địa-phương bị dao động. Ðến tháng 6, Tư-lệnh quân-đoàn, Thiếu-tướng Nguyễn-Hữu-Có được thuyên chuyển về Sài-Gòn để nắm giữ chức vụ Tổng-ủy-viên Chiến-tranh kiêm Ủy-viên Quốc-phòng của Ủy-ban Hành-pháp Trung-ương. Tuy nhiên, trước khi rời khỏi nhiệm sở, ông đã ra lệnh không được tổ chức hành-quân ra khỏi Pleiku khiến dân chúng địa-phương càng thêm hoang mang. Tiếp theo với dự định dời Bộ Tư-lệnh quân-đoàn về Nha-Trang khiến mọi người thêm lo âu, hoảng sợ. Dân chúng tìm cách rời Pleiku khiến Bộ Quốc-phòng phải ra thông-cáo ngày 3.8.1965 xác định Bộ không ra lệnh tản-cư khỏi thành phố nầy (13). Tất cả những sự kiện vừa nói đã mang lại không ít những khó khăn cho người kế nhiệm là Chuẩn-tướng Vĩnh-Lộc. Tinh-thần quân dân xuống thấp trong khi áp lực địch đè nặng lên vùng biên-giới. Các trục lộ giao-thông như quốc lộ 19, 21 và các tỉnh lộ phía bắc Pleiku luôn luôn bị địch quân ngăn chận, đánh phá.

Ðức-Cơ được CS chọn lựa để mở hướng tấn-công phụ vì vị-trí ở gần núi Chư Prong và thung-lũng Ia-Drang đồng thời tiếp cận biên-giới Việt Miên, dễ dàng cho công-tác tiếp-vận và thuận lợi cho việc chuyển quân. Ngoài ra chiến-thuật phục kích cũng thực hiện được một cách dễ dàng vì lực-lượng cứu viện Ðức-Cơ chỉ có một con đường duy nhất là quốc lộ 19 để làm trục tiến quân. Lực-lượng tung vào trận đánh là trung-đoàn 32 CSBV mới xâm nhập với trang-bị gồm hai loại vũ-khí bộ-binh cơ-bản được xem là tối-tân hơn vũ-khí của QLVNCH lúc bấy giờ. Ðó là tiểu-liên AK-47 và súng chống chiến-xa B-40.

Kế-hoạch hành quân của CS đặt trên chiến-thuật công đồn đả viện. Một tiểu-đoàn được sử-dụng để tạo áp-lực bằng cách bao vây và pháo kích trại LLÐB Ðức-Cơ. Hai tiểu-đoàn còn lại sẽ phục-kích để tiêu-diệt lực-lượng giải vây.

Nói đến phục kích thì phải biết rằng đây là một hình thức tác-chiến có đặc điểm Việt-Nam, đã được kiện toàn qua lịch-sử đấu-tranh của dân-tộc. Dân Việt từ thuở xa xưa đã biết sử-dụng cả hai lối phục-kích bộ và thủy để tiêu-diệt địch quân.

Năm 938, Ngô-Quyền hay Trần-Ngô-Vương dùng phục binh đường thủy đã tiêu diệt được hơn phân nửa hạm đội của quân Nam Hán trên sông Bạch-Ðằng, thuộc huyện Thụy Nguyên, tỉnh Kiến An. Thái-tử Hoàng-Thao bị giết. Hán chủ cùng quân tiếp-viện được tin mất vía rút về, bỏ vỡ mộng thôn tính Giao-Châu.

Ðến năm Tân Tỵ (981), Lê-Ðại-Hành phục binh giết được Tướng Tống là Hầu-Nhân-Bảo tại ải Chi-Lăng, một vùng đất hiểm trở nằm dọc theo thung-lũng sông Thương thuộc tỉnh Lạng-Sơn.

Vào thế kỷ thứ 13, quân Nguyên lại sang xâm lược nước ta lần thứ nhì. Năm 1285, quân Nguyên đã bị hai Tướng của nhà Trần là Nguyễn-Khoái và Phạm-Ngũ-Lão phục binh tại bến Vạn Kiếp thuộc tỉnh Bắc Giang. Hơn phân nửa quân địch bị tiêu-diệt. Chủ tướng quân Mông-Cổ, Thái-tử Thoát-Hoan phải trốn vào ống đồng để chạy về nước.

Năm Ðinh Hợi (1287), Thoát-Hoan lại thống lĩnh 30 vạn quân sang đánh nước ta để rửa hận. Một năm sau, Hưng-Ðạo-Vương Trần-Quốc-Tuấn lại dùng phục binh thủy bộ tiêu diệt và bắt sống toàn bộ cánh quân của Ô-Mã-Nhi tại sông Bạch-Ðằng. Quân ta đã phá hủy 100 chiến thuyền, thu được 400 chiếc khác đồng thời truy kích, phục kích tiêu diệt được hơn phân nửa cánh quân rút chạy theo đường bộ của Thoát-Hoan.

Ðến chiến-tranh Việt Pháp, Việt Minh đã kiện toàn chiến-thuật phục kích sắc bén dựa trên những bài học của lịch-sử. Ðể chống lại sức mạnh về kỹ-thuật trong khi chỉ có vũ-khí thô sơ thì phương cách hay nhất là tấn-công bất ngờ. Nguyễn-Trãi, một binh-thuyết-gia nổi tiếng của VN đã viết (14): “Ðánh bất ngờ thì yếu thắng mạnh, dùng mai phục thì ít được nhiều”.

Trong vô số chiến công do phục kích trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ nhất, có lẽ chỉ bốn trận làm nổi bật kỹ-thuật độc đáo nầy. Ðó là các trận Giồng Dứa, La Ngà, Tầm Vu và quốc lộ 19.

Ngày 24.4.1947, Trần-Văn-Trà, Khu Bộ trưởng khu 8 tổ-chức một cuộc phục kích dài khoảng ba cây số theo lộ Ðông Dương (quốc lộ 4 sau nầy). Ðịa điểm phục kích là Giồng Dứa cách tỉnh lỵ Mỹ Tho khoảng 10 cây số về hướng tây, tây bắc. Ðại-tá Trocard là một trong 43 quân nhân Pháp bị tử thương. Pháp phải ra lệnh toàn quốc để tang trong bảy ngày (15).

Ngày 1.3.1948, một đoàn xe quân và dân sự gồm 69 chiếc có hộ tống đi từ Sài-Gòn lên Ðà Lạt. Qua khỏi La Ngà thuộc tỉnh Biên-Hòa, đoàn xe lọt vào ổ phục kích của Việt Minh. Trong số 150 quân nhân tử trận có hai đại-tá Pháp (16).

Tầm Vu là một địa danh thuộc xã Thạnh-Hòa, quận Phụng-Hiệp, cách trung-tâm thành phố Cần-Thơ khoảng 17 cây số về phía tây nam. Chỉ một đoạn nằm trên đường giao thông đi từ Cần-Thơ đến Rạch-Giá mà quân-đội Pháp đã bị phục kích đến bốn lần (17). Trong đó trận Tầm Vu IV (17.4.1948) được nói đến nhiều nhất vì đây là lần đầu tiên, Việt Minh tịch thu được một đại-bác 105 ly. Sau cuộc phục kích nầy, tất cả đơn-vị pháo binh Pháp mỗi khi di-chuyển đều phải có thiết-giáp và bộ-binh theo bảo-vệ (18).

Cuộc phục kích sau cùng và nổi tiếng nhất đã xảy ra cho liên-đoàn lưu-động 100 (GM 100). Ngày 24.6.1954, trên đường lui binh từ An-Khê về Pleiku theo quốc lộ 19, liên-đoàn đã bị trung-đoàn 803 của Việt-Minh phục kích. Sau 5 ngày chiến-đấu, cả ba tiểu-đoàn chỉ còn lại khoảng phân nửa quân số. Ðại-đội chỉ-huy và công-vụ lúc bắt đầu cuộc lui binh có quân số 222, sau cuộc phục kích chỉ còn lại 84 người. Thiệt hại quân-dụng gồm 85% quân xa, cả trung-đội thiết-giáp, tất cả pháo binh của liên-đoàn, 68% các dụng-cụ truyền-tin (19).

Ðến khi Mỹ can thiệp trực-tiếp vào chiến-tranh tại Việt-Nam, chiến-thuật phục kích dĩ nhiên đã được CS mang ra áp-dụng. Tuy nhiên với di động tính cao, hoả lực mạnh và việc sử-dụng trực thăng khiến chiến-thuật phục kích không đạt được hiệu quả cao như trước đây. Các cuộc phục kích sư-đoàn 1 Bộ-binh Mỹ di-chuyển trên quốc lộ 13 của sư-đoàn 9 VC trong hai tháng 6 và 7 năm 1966 là một thí dụ điển hình. Mặc dù đã chọn lựa vị-trí cũng như đã chuẩn bị kỹ lưỡng, quân CS phải rút lui với những tổn thất nặng-nề về nhân mạng. Tuy nhiên quốc lộ 13 đoạn từ Phú-Cường đi Lộc-Ninh đã được quân-đội Mỹ đặt tên là Con Ðường Sấm Sét (Thunder Road) do có quá nhiều mìn bẫy và phục kích, tương tự như trong một phim của Robert Mitchum (20).

Chiến-thuật phục kích gồm nhiều hình thức. Căn-cứ vào thế trận, lối dàn quân để tạo thành tuyến phục kích, người ta có phục kích chữ V, Z hay L (21), phục kích độn thổ, v.v. Căn cứ trên phương cách di chuyển của mục-tiêu, người ta phân biệt ra phục kích bộ, phục kích xe và phục kích tàu. Trong kháng chiến chống Pháp, với hệ-thống đồn bót rải rác, Việt-Minh đã phát triển hai chiến-thuật phục kích chủ yếu là vây điểm diệt viện và diệt điểm diệt viện. Căn-bản của chiến-thuật nầy là một cánh quân tấn-công đồn bót ở vị-trí thuận lợi để làm một cái bẫy nhử quân đến tiếp cứu. Cánh quân thứ nhì sẽ phục kích để tiêu-diệt đoàn quân tiếp-viện. Ðến khi Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến-tranh Việt-Nam, quân CSBV lại phát triển lối đánh diệt viện đổ bộ đường không. Thay thế chiến-thuật phục kích đoàn xe tiếp viện bằng cách sử-dụng vũ-khí phòng không bố trí sẵn tại các vị-trí nghi ngờ sẽ là bãi đáp trực-thăng-vận để phục kích bắn hạ trực-thăng và diệt quân tiếp viện.

Trong kháng-chiến chống Pháp, khi trực-thăng chưa được sử-dụng trong việc chuyển quân cũng như trong giai-đoạn đầu đánh Mỹ, khi trực-thăng chuyển quân chỉ được sử-dụng hạn chế, hình thức phổ-thông nhất mà CS sử-dụng là phục kích các cuộc di-chuyển bằng quân xa với lý do đơn giản là mục-tiêu bị bất ngờ, khó khăn và lúng túng trong việc phản phục kích. Một cuộc phục kích xe thường gồm ba đơn-vị (22). Ðơn-vị đầu gồm hai toán. Một có nhiệm-vụ đánh chận đầu. Tại vị-trí nầy, toán phục kích sử-dụng mìn điều khiển để phá hủy các thiết xa mở đường, chận nghẹt cả đoàn xe. Với các vũ-khí chống chiến-xa gọn nhẹ và hữu hiệu như B-40 và B-41 được Nga Hoa viện-trợ rộng rãi trong thập niên 60, việc đánh chận đầu lại càng dễ dàng hơn vì cán binh sử-dụng các vũ-khí nầy có thể di-chuyển nhanh chóng để lựa chọn vị-trí thích hợp, tránh được khuyết điểm cố định và dễ bị phát giác của mìn điều-khiển từ xa. Một toán thứ nhì sẽ đánh vào đoạn cuối để chận sự tháo lui của địch. Tiếng mìn nổ đầu tiên cũng là hiệu lệnh tấn-công cho đơn-vị thứ hai, sử-dụng tất cả hỏa lực (trực xạ và vòng cầu) để gây thiệt hại tối đa tại mục-tiêu. Sau cùng là đơn-vị trừ bị có nhiệm-vụ tiêu diệt những tàn binh địch thoát khỏi trận địa phục kích hoặc đánh trả các đơn-vị khác của địch đến tiếp ứng bất ngờ.

Nguyên-tắc áp-dụng cho một cuộc phục kích của CS gồm một chậm và bốn nhanh: Chuẩn-bị chậm; Di-chuyển nhanh; Tấn-công nhanh; Thu dọn chiến-trường nhanh; Rút lui nhanh.

Chuẩn-bị chậm vì phải chọn lựa địa thế. Chật hẹp để trở-ngại cho việc di-chuyển, tiếp ứng. Rậm rạp để che khuất tầm quan-sát, cản trở việc phản phục kích và thuận lợi khi rút lui. Di-chuyển nhanh và tấn-công nhanh để tạo được yếu-tố bất ngờ, áp đảo địch quân về tinh-thần cũng như không có đủ thời-gian để tổ-chức đánh trả. Thu dọn chiến-trường nhanh và rút lui nhanh là để bảo tồn lực-lượng.

Ðể chống phục kích người ta có phản phục kích. Riêng chiến-thuật phản phục kích xe gồm hai giai-đoạn là củng cố và phản kích.

Trong giai-đoạn củng cố, đơn-vị bị phục kích cố-gắng chấn chỉnh lại đội hình sau khi bị cú đánh bất ngờ. Giai-đoạn nầy lại gồm hai thế trận chủ yếu là vòng tròn hoặc xương cá. Trong thế trận vòng tròn, các thiết giáp xa không bị thiệt hại sau khi bị phục kích sẽ di chuyển tạo thành vòng tròn để che chở cho pháo binh hoặc các xe vận-tải ở giữa. Tuy nhiên địa thế phục kích đã được địch quân chọn lựa sẵn nên thường ở nơi chật hẹp làm trở-ngại cho việc tạo thế vòng tròn. Thế trận thứ nhì do đó thường được sử-dụng hơn là thế xương cá. Các chiến-xa và thiết-giáp-xa lần lượt đổi hướng sang trái và phải tương tự như một bộ xương cá đồng thời tác-xạ hai bên trục di-chuyển để ngăn cản địch quân xung phong đánh tiếp cận. Các xe còn lại sẽ di-chuyển  vào giữa để được bảo-vệ.

Giai-đoạn hai của chiến-thuật phản phục kích là sử-dụng đơn-vị phía sau hoặc còn ở ngoài tuyến phục kích đánh bọc sườn địch quân để phá vỡ cuộc phục kích.

Hình thức phản phục kích vòng tròn đã giúp liên-đoàn lưu-động 42 tránh được số phận của liên-đoàn 100 khi bị trung-đoàn 108 Việt-Minh phục kích trên quốc lộ 19, bốn ngày sau thảm kịch tại cây số 15. Hình thức phản phục kích xương cá thường được các đơn-vị kỵ-binh thiết-giáp Mỹ sử-dụng trong chiến-tranh Việt-Nam. Trong trận Ðức-Cơ, ngay sau khi biết bị phục kích, chi-đoàn-trưởng 1/5 đã yêu cầu chiến-đoàn trả lại chi-đội chiến-xa tăng phái cho BÐQ đang ở cuối đoàn quân. Ông sử-dụng chi-đội nầy tiến lên phía trước đánh vào cạnh sườn của tuyến phục kích, giải quyết chiến trường một cách nhanh chóng.

Trở lại trận Ðức-Cơ, giai-đoạn công đồn của CS đã thành-công. Các tiểu-đoàn Dù và trại LLÐB nằm dưới tầm pháo của CS. Bộ Tư-lệnh Biệt-khu 24 phải đưa thêm một chiến-đoàn thiết-giáp, BÐQ và một chiến-đoàn TQLC mở đường vào Ðức-Cơ để giải tỏa áp lực địch. Tuy nhiên giai-đoạn đả viện lại thất bại. CS tin rằng tổ-chức phục-kích tại ngã ba Lệ-Thanh, với tốc-độ mở đường và khoảng cách từ đồn-điền Catecka đi vào thì cuộc hành quân khi đến được vị-trí phục-kích trời đã xế chiều, thời-tiết cao-nguyên lại tối sớm. Việc chỉ-huy, điều-động, thông-tin liên-lạc và yểm-trợ sẽ bị ảnh-hưởng nhiều. Ngoài ra do thiếu thốn lực-lượng trừ-bị, Bộ Tư-lệnh quân-đoàn II sẽ không có nhiều quân để gửi vào Ðức-Cơ. Tất cả những tính toán trên đều sai lầm. Khi cuộc phục-kích nổ ra, trời vẫn còn sáng nên phi-cơ dễ dàng yểm-trợ tiếp cận thay thế cho thiếu thốn về pháo binh. Quân-số khá nhiều của hai chiến-đoàn khiến trục tiến quân kéo dài trên quốc lộ 19, tuyến phục-kích do đó không bao gồm được cả đoàn quân như dự tính của CS. Thêm vào đó thành-phần của chiến-đoàn là quân tổng trừ-bị lại có sự yểm-trợ của chiến-xa và thiết-giáp nên chẳng mấy chốc cuộc phục-kích của CS đã bị đánh tan.

 

Chiến-lược

Theo Clausewitz thì các yếu-tố cấu thành chiến-lược bao gồm tinh-thần, vật-lý, toán học, địa hình và thống-kê (23). Yếu-tố đầu tiên chú trọng đến đặc tính của cấp chỉ-huy và tinh-thần binh-sĩ. Yếu-tố thứ nhì liên-quan đến lực-lượng, sự phối hợp, vũ-khí, trang-bị. Yếu-tố thứ ba là cách điều binh và chiến-thuật. Yếu-tố thứ tư bao gồm các chi-tiết địa hình như sông, núi, đầm lầy và vị-trí bộ chỉ-huy, v.v. Yếu-tố sau cùng là việc phối-hợp các công-tác bảo-trì và tiếp-vận.

Dựa vào yếu-tố thứ nhì kể trên, Clausewitz đã đưa ra một nguyên-tắc nổi tiếng là nguyên-tắc khối-lượng. Theo ông thì (23): “Số-lượng quyết định chiến-thắng”. Vì căn-cứ trên khoa-học vật-lý của Newton nên nguyên-tắc khối-lượng bao gồm việc tập trung lực-lượng (lực) (Concentration of Force) để đánh vào yếu điểm (trọng-tâm) (Center of Gravity) của đối phương. Tuy nhiên Clausewitz đã cho rằng nguyên-tắc khối-lượng không phải là nguyên-tắc duy nhất mà chỉ là nguyên-tắc đầu tiên của chiến-lược. Binh thuyết gia B.H. Liddell Hart khai-triển một cách chi-tiết hơn khi viết (24): “Các lý-thuyết quân-sự thường có khuynh hướng cho rằng các yếu-tố vật-lý có giá trị cố định và thường không chỉ rõ được việc áp-dụng sẽ tự nâng cao các giá trị vừa nói. Việc lượng-định các yếu-tố vật-lý thường trở thành việc tính toán số học thuần lý và bỏ sót sự cân nhắc giữa lợi và hại của khối óc”. Nói một cách khác là quá máy móc áp-dụng nguyên-tắc khối-lượng, cấp chỉ-huy có thể dễ dàng quên đi nguyên-tắc lực-lượng kiệm ước. Khác với nguyên-tắc khối-lượng căn-cứ vào cơ-học Newton, nguyên-tắc lực-lượng kiệm-ước đặt căn-bản trên các định-luật kinh-tế. Cấp chỉ-huy có thể tập-trung lực-lượng để giải-quyết chiến trường nhưng cũng phải luôn luôn hành-động trong những điều-kiện tối ưu, suy nghĩ một cách khoa-học, cân nhắc giữa lời và lỗ, giữa những gì ném ra để đổi chác với những gì sẽ thu đạt được.

Ðã biết qua hai nguyên-tắc căn-bản của chiến-lược, người ta có thể từ đó suy luận được hậu quả của trận Ðức-Cơ. Lực-lượng hành quân tương đương cấp sư-đoàn mà trong đó 2/3 là các đơn-vị tổng trừ-bị. Không kể lữ-đoàn 173 Dù Mỹ có nhiệm-vụ giữ an-ninh trục lộ hành-quân. Qua diễn tiến tổng-quát người ta thấy được một số chi-tiết quan-trọng sau:

  1. Tương-quan lực-lượng:

Lực-lượng quân CS có mặt trong vùng khoảng một trung-đoàn. Lực-lượng của QLVNCH tham dự cuộc hành-quân là khoảng một sư-đoàn. Tỉ-số 3 đối 1 vừa đúng cho thế công. Tuy nhiên tại cả hai mặt trận, chung quanh trại LLÐB Ðức-Cơ và tại ngã ba Lệ-Thanh, QLVNCH đều gặp khó khăn trước các cơn pháo dữ-dội của quân CS. Có trong tay một lực-lượng tương đương cấp sư-đoàn, Bộ Tư-lệnh Biệt-khu 24 đã đánh một quả đấm thật mạnh nhưng tiếc thay lại đánh vào chân không. Ðó là chưa kể đến việc sử-dụng các đơn-vị tổng trừ-bị không đúng vào vai-trò của nó. Ưu điểm đánh nhanh, đánh mạnh của các đơn-vị nầy không được khai-thác, thay vào đó họ được sử-dụng như một đơn-vị bộ-binh thuần-túy trong một cuộc hành-quân tảo-thanh. Một khi pháo binh tầm xa của địch bắt đầu thì thiện-chiến hay không đều phải co rút dưới hầm trú ẩn. Người lính thích trực diện với quân thù hơn là nằm đếm pháo địch. Tâm-lý của người lính trong cơn pháo đã được một sĩ-quan Dù kể lại như sau (25):

“Thình lình những tiếng bục, bục, vang dội từ phía nam … Ðúng là súng của địch bắt đầu bắn, tiếng đạn rít trong không khí bay qua đầu chúng tôi … Chờ đợi, đạn nổ phía đóng quân của tiểu đoàn bạn. Pháo kích, pháo kích … Binh sĩ xì xào chạy xuống hầm. Ðừng hoảng. Tôi bấm vào máy truyền tin liên lạc với hai toán tiền đồn ra lệnh đề phòng và trực máy. Tôi nằm yên trong hố, thân cây chuối trên miệng hầm lúc bây giờ quả thật quá mỏng manh, ao ước một gốc cổ thụ, một cây đa che chở. Sợ, hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi. Tôi biết mình đang sợ hãi. Cảm giác buổi chiều khi nghe tiếng mìn nổ trở lại, tôi tưởng chừng như trong bụi chuối, góc nhà có một tên địch đang lẩn trốn, chờ đợi thời cơ hỗn loạn sẽ nhảy ra, trái lựu đạn sẽ nổ về phía tôi … Ðấy là một sợ hãi vô lý, tôi biết vậy. Nhưng đấy chính là mục đích của địch trong chiến thuật tiêu hao dần dần lực lượng của đối phương. Theo dõi, bắn sẻ, gài mìn, đặt bẫy trên hướng tiến quân, đột kích vào vị trí đóng quân đêm, pháo kích, đó là những phương cách có hiệu quả nhất để làm tan hoang tinh thần cũng như sức chiến đấu của một đoàn quân. Tôi nghe rõ những tiếng départ của súng cối địch từ xa, khô gọn và tàn ác như lưỡi dao chém xuống thớt. Nổ ở đây? Hay chỗ kia? Ðịch có điều chỉnh không? Chúng có rõ tiểu đoàn chúng tôi đóng ở đây không? Sau mỗi tiếng départ tôi chờ đợi tiếng nổ của trái đạn với căng thẳng đun nóng trí não. Tôi thở dài nhẹ nhõm mỗi khi nghe được tiếng nổ ở phía xa, phía đơn vị bạn. Tàn ác, ích kỷ? Có thể là như thế, nhưng tôi không thể nào chịu đựng được giây phút trống rỗng khi quả đạn đang bay, tôi ao ước được đụng độ, để giữa tiếng đạn nổ, hơi thuốc súng tôi có thể di động giữa cái sống và cái chết với ý niệm có tự do và chọn lựa. Sự chờ đợi của quả nổ đã biến tôi thành một khiếp sợ hèn mọn. Ai không hèn mọn khi bó tay trước một cái chết không tự do.

“Pháo binh từ Bến Cát phản pháo chính xác làm im súng cối địch, trực thăng đến, di tản thương binh, ánh đèn đỏ của chiếc máy bay lập lòe trong đêm ma quái, tôi nghĩ đến tên Việt cộng bắn súng cối vừa rồi nếu giờ nầy chưa chết vì đạn pháo binh chắc hẳn hắn ta đang hãnh diện vì kết quả thu đạt được. Chiến tranh quả thật tàn bạo, lấy cái chết của những người mình không thù oán làm thành công cho bản thân. Tôi không ngủ, mong trời mau sáng để được rút ra quốc lộ 13. Cuộc hành quân nầy ngắn, sao tôi thấy mệt mỏi vô hạn, có lẽ vì ba đêm thiếu ngủ hay thần kinh bị căng thẳng trong niềm khiếp sợ chờ đợi”.

Quân-đội CSBV đã học được kinh-nghiệm về pháo binh trong chiến-tranh chống Pháp. Hàng rào lửa của Pháp chận đứng quân Việt-Minh trong chiến-dịch Ðông Xuân 1951-52 khi họ tấn-công các cứ điểm chung quanh thị-xã Hòa Bình đã được ghi nhận trong hội-nghị đánh giá chiến-dịch như sau (26): “Trở ngại lớn trong các trận đánh không chỉ là lực lượng chiếm đóng vị trí, mà còn là hỏa lực chi viện từ xa của những trận địa pháo được tính toán rất kỹ lưỡng. Tôi đã nhiều lần trao đổi với Bộ Tổng tham mưu và các đơn vị tìm cách hạn chế sức mạnh phi pháo địch ban ngày cũng như ban đêm. Nhưng hoạt động kiềm chế pháo địch vẫn chưa hiệu quả. Chúng ta chưa có khả năng dùng pháo binh tiêu diệt những trận địa pháo của địch. Dùng súng cối để kiềm chế pháo địch không dễ dàng. Trong trận Tu Vũ, một trung đoàn đã được phân công kiềm chế pháo địch, nhưng vẫn có hơn năm ngàn trái đại bác rơi vào đội hình quân ta ! Pháo địch vẫn là trở ngại lớn nhất trong những trận công kiên”. Do đó một khi đưa quân đội chính-qui vào chiến-đấu tại Miền Nam, CS thực-hành ngay bài học máu lửa của những năm xưa.

Ngoài ra, Bộ Tư-lệnh hành-quân cũng không thể nào xác-định được trọng-tâm với chiến-thuật du kích của quân CS. Bá-tước de Jomini, một chiến lược gia đồng thời với Clausewitz đã viết (27): “Rất dễ-dàng khuyến khích việc ném tất cả lực-lượng vào những điểm quyết-định (trọng-tâm), tuy nhiên điều khó khăn là làm thế nào để xác định được những điểm nầy”.

 

  1. Nguyên-tắc lực-lượng kiệm-ước:

Ðiểm đầu tiên là Chuẩn tướng Cao Hảo Hớn vừa mới nhận chức Tư  lệnh Biệt khu 24. Dưới tình thế gay go vì quân CS đánh khắp nơi, ông đã khẩn thiết yêu cầu tăng viện và có bao nhiêu đơn-vị từ Sài-Gòn gửi ra cứ đưa vào chiến trường! Có lẽ trong lúc bối rối ông đã quên đi nguyên-tắc lực-lượng kiệm-ước. Kết quả là lực-lượng cứu viện Ðức-Cơ bị thiệt hại khá nhiều vì pháo binh địch nhưng lại không thu được kết quả tương ứng. Chưa kể đến việc không phối-hợp chặt chẽ giữa các đơn-vị hành-quân. Ðêm đóng quân đầu tiên tại ngã ba Lệ-Thanh, tiểu-đoàn 2 TQLC đã bị thiệt hại vì nằm giữa lằn đạn của quân CS và đơn-vị thiết-giáp đóng phía sau. Một yếu-tố quan trọng của nguyên-tắc lực-lượng kiệm-ước là cấp chỉ huy phải bảo đảm được liên-lạc nội bộ (24).

Việc đưa quá nhiều lực-lượng vào một mục-tiêu không tương xứng còn nói lên yếu điểm không có một kế-hoạch tác-chiến phối-hợp của Bộ Tổng tham mưu QLVNCH. Chiến-thuật của CS không được đánh giá đúng đắn. Trong mỗi chiến-dịch, quân-đội CSBV thường chia ra ba hướng tấn-công: một hướng chính, có hoặc không có một hướng phối hợp và nhiều hướng phụ. Trong chiến-dịch Xuân Hè 1965 của CS thì hướng chính là Ðồng Xoài, các hướng phụ là Ba Gia và Ðức-Cơ. Ðổ quân thật nhiều vào hướng phụ để bị thiệt hại vì pháo địch trong khi tăng quân nhỏ giọt vào hướng chính đã đưa đến hai thất-bại tại Ðồng Xoài và Ba-Gia.

Ðiểm thứ hai là cả hai Bộ Tư-lệnh quân-đoàn và biệt-khu đã phòng xa. Trên đất Cao-Miên có một phi-trường nằm gần thị-trấn Bokham chỉ cách Pleiku khoảng 18 cây-số về phía tây. Bộ chỉ huy cuộc hành quân e ngại rằng từ đây quân CSBV có thể nhanh chóng tăng cường cho lực lượng của họ đang có sẵn chung quanh Ðức Cơ. Ðiều lo ngại này không xảy ra vì trọng điểm của CS không phải là Ðức-Cơ mà là Ðồng Xoài. Clausewitz cũng đã cho rằng sự ngần ngại sẽ gây thiệt hại nhiều gấp hàng ngàn lần tính táo-bạo trong chiến-tranh (23). Chỉ-huy là tiên liệu nhưng cái khó là phải tiên đoán chính xác. Ðánh giá cao (overestimate) địch quân thì phí phạm lực-lượng, đó là trường-hợp Ðức-Cơ. Ngược lại khinh thường (underestimate) địch lại có thể đưa đến thất-bại. Cuộc hành-quân Lam-Sơn 719 sau nầy là một thí dụ điển hình.

 

  1. Chiến-thuật hay chiến-lược?

Các đơn-vị tổng trừ bị rất thiện chiến nhưng trận Ðức-Cơ cho thấy họ không thích-hợp với chiến trường do địch quân chọn sẵn như tại vùng rừng núi cao nguyên. Có ý kiến cho rằng nhược điểm tự ban đầu là lãnh thổ quân khu 2 quá rộng lớn, quân số của hai sư-đoàn 22 và 23 không đủ bao vùng. Ðây cũng là lý do đưa đến sự thành lập Biệt-khu 24. Tuy nhiên luận cứ này không ổn vì an-ninh lãnh thổ sẽ do trách-nhiệm của địa-phương-quân. Trước đó quận Lệ-Thanh bị mất vì ÐPQ không đủ khả-năng chống lại quân chính-qui CSBV. Từ đó người ta có thể cho rằng QLVNCH không thích-hợp với chiến-tranh du-kích vì đã được huấn luyện theo đường lối qui ước của Mỹ. Thế nhưng đến giai đoạn đối phương tung ra chiến-tranh qui ước thì quân-đội cũng không đương cự được. Thật ra không có một sự mâu-thuẫn nào mà chỉ vì QLVNCH chỉ chiến-đấu với chiến-thuật mà lại không có một đường lối chiến-lược.

Sau khi chiến-tranh chấm dứt, một sĩ-quan cao cấp của Mỹ đã nhận xét điểm vừa nói như sau (28): “CS đã tính toán một cách khéo léo các cuộc điều quân của họ tại ba vùng chịu áp-lực chính (Sài-Gòn, các tỉnh phía bắc của vùng I chiến-thuật và cao-nguyên), các cấp lãnh-đạo Miền Bắc tìm cách làm cho Bộ TTM/QLVNCH luôn luôn phải lo nghĩ, phải đặc-biệt quan tâm và lo phòng-thủ cả ba nơi. Họ làm như vậy với mục-đích khiến QLVNCH phải phí phạm lực-lượng tổng trừ bị của mình, thông thường đóng tại Sài-Gòn. Trước khi quân-đội Mỹ can-thiệp trực-tiếp, Hà-Nội đã thành-công trong các nỗ-lực làm bối rối chính-phủ  Sài-Gòn. Ðã nhiều lần, lực-lượng tổng trừ-bị, đặc-biệt là Dù và TQLC, phải chịu mệt mỏi vì phải thường xuyên hành quân và tác-chiến. Chiến-lược của địch quân còn có chủ đích khác là làm suy yếu các nỗ-lực bình-định khi lôi cuốn các đơn-vị quân-đội đi xa các vùng đông dân, các vùng cần được bảo-vệ, gây thiệt hại cho các lực-lượng hành quân đồng thời làm phí phạm thời-gian và nhân lực. Phương thức tác chiến được giữ kín nầy khiến người ta nhớ lại chiến-lược đã được Lee và Jackson sử-dụng tại thung-lũng Shenandoah cũng như trong vùng phía tây và tây bắc Washington trong những năm đầu của cuộc nội chiến Mỹ”.

QLVNCH đã thắng hầu hết các trận đánh nhưng vẫn không thắng được cuộc chiến-tranh là vì vậy.

  1. Vai trò của các trại LLÐB:

Mục-đích của các trại LLÐB là để theo dõi và khóa chặt  biên giới. Tuy nhiên như đã thấy theo dõi thì có nhưng khóa chặt thì không. Vị-trí các trại LLÐB lại được lựa chọn ở những nơi xa xôi, hẻo-lánh, khó duy trì tiếp-liệu, tiếp-viện khi cần thiết. Tiếc thay khi Mỹ rút quân, QLVNCH với lực-lượng BÐQ biên-phòng vẫn duy trì các trại nầy. Trại Tống-Lê-Chân đã nói lên sự chịu đựng phi thường của người lính VNCH. Nhưng câu hỏi được đặt ra là các trại LLÐB có phục-vụ được mục-đích như đã định hay không, nhất là khi thường xuyên nằm trong vòng vây, dưới áp-lực của địch? Bài học nầy người Pháp đã học được trong cuộc chiến Ðông Dương. Một thống-tướng Pháp đã từng chiến-đấu tại VN viết (29): “Việc tiếp-tế các đồn bót, quan-trọng hay không, trở thành đắt giá về hiệu quả cũng như về thiệt hại, Việt Minh chọn vị-trí và thời điểm chỉ khi nào họ chắc chắn được cú đánh của họ”.

 

Việt-Nam trong thế chiến-lược toàn cầu của Mỹ

Trên bình-diện thế-giới, Nikita Khrushchev bị hạ bệ tại Nga và được Tổng Thư-ký Leonid Breznev và Thủ-tướng Alexei Kosygin thay thế (15.10.1964). Do không suy đoán được chính-sách của Nga sẽ thay đổi như thế nào trong tương-lai, chính-phủ Mỹ thấy cần phải củng-cố vai trò của mình trên trường quốc tế mà tiêu biểu là sự yểm-trợ Miền Nam VN một cách tích cực hơn. Sau biến cố chính-trị tại Nga, Trung-Cộng cho thử nghiệm quả bom nguyên-tử đầu tiên tại Lop Nor trong sa-mạc Taklamakan. Mặc dù tình-báo Mỹ đã đoán trước được khả-năng nguyên-tử của Trung-Cộng, quả bom nầy vẫn khiến Mỹ lo ngại thêm cho nền an-ninh của vùng Ðông Nam á. Cuộc tấn-công của CS vào phi-trường Pleiku gây nhiều thiệt hại về vật-chất và nhân mạng khiến chính-phủ Mỹ quyết định thay đổi đường lối tại VN từ vai trò cố-vấn sang chiến-đấu trực-tiếp trên chiến trường. Sau một cuộc thanh sát về bảo-vệ an-ninh tại phi-trường Ðà-Nẵng, Tướng J. Throckmorton, Tư-lệnh-phó Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) đề-nghị Mỹ gửi một lữ-đoàn TQLC đến bảo-vệ phi-trường nầy. Cố gắng giảm thiểu tối-đa quân-số Mỹ tại VN, Tướng Westmoreland chỉ yêu cầu Hoa-Thịnh-Ðốn gửi sang VN hai tiểu-đoàn. Ngày 26.2, Tổng-thống Johnson chấp-thuận đề-nghị nầy. Hai ngày sau, tiểu-đoàn TQLC Mỹ đầu tiên dưới quyền chỉ-huy của Chuẩn-tướng F.J. Karch từ bốn quân-vận-hạm thuộc lực-lượng đặc-nhiệm 76 đã đổ bộ vào bãi biển Nam-Ô. Trong khi đó, các vận-tải-cơ cũng đã chuyên chở tiểu-đoàn TQLC thứ nhì từ Okinawa đến phi-trường Ðà-Nẵng.

Phân tích các sự kiện xảy ra trong giai-đoạn nầy, một giáo-sư sử học đã viết (30): “PleiKu chỉ là một tia lửa – một biến cố tương đối không quan trọng – cũng giống như việc ám sát quận công Ferdinand tại Sarajevo năm 1914, đã tạo ra một hậu quả vượt khỏi tầm mức kém quan trọng lúc ban đầu”. Nhận xét nầy đã được chứng minh qua những biến cố tiếp theo sau đó. CSBV đẩy mạnh cuộc chiến-tranh xâm-lược Miền Nam VN mà Ðức-Cơ là một bằng chứng hiển nhiên. Một phúc trình của MACV vào đầu tháng 3.1965 tiên đoán rằng nếu tình trạng không ổn định kéo dài, chính-phủ VNCH sẽ chỉ giữ được các tỉnh và quận lỵ trước chiến-lược lấy nông-thôn bao vây thành thị của CS. Hậu-quả là số người tị-nạn sẽ gia tăng và đổ dồn về các thị-trấn lớn gây thêm hỗn loạn và trong vòng khoảng một năm, Miền Nam Việt-Nam có thể rơi vào tay CS (12).

Với những diễn tiến bất lợi trên cả hai bình diện chính-trị và quân-sự tại Miền Nam VN cùng với những khủng-hoảng trên thế-giới, không ai ngạc nhiên trước sự thay đổi chiến-lược của Mỹ tại VN. Trước ngày bầu cử, khai-thác lợi điểm so với ứng-cử-viên diều-hâu B. Goldwater về việc chống đối sự tham chiến trực tiếp của Mỹ tại VN, Tổng-thống Johnson đã tuyên-bố tại trường đại-học Akron, tiểu-bang Ohio rằng (31): “Chúng ta sẽ không gửi thanh-niên Mỹ 9 hay 10 ngàn dặm xa nhà để làm công việc mà thanh-niên á-Châu phải tự đảm đang lấy”. Chỉ một thời-gian ngắn sau khi tái đắc cử, cũng chính ông đã tuyên-bố trên hệ-thống truyền hình toàn quốc ngày 2./7.1965 (32): “Hôm nay, tôi đã ra lệnh cho sư-đoàn 1 Kỵ-binh Không-vận vừa mới được bổ sung, sang Việt-Nam tức khắc để gia tăng lực-lượng chiến-đấu từ 75 ngàn lên 125 ngàn quân. Những lực-lượng bổ túc sẽ cần đến sau và các đơn-vị nầy sẽ được gửi đi theo yêu cầu”.

Những quyết định của Mỹ trong giai-đoạn nầy đã được một sử gia tóm tắt khá chính-xác như sau (33): “Giữa năm 1965, cuộc tranh chấp chiến-thuật là có nên oanh-tạc miền Bắc hay gia tăng cường-độ chiến-tranh tại Miền Nam bằng cách sử-dụng quân-đội Mỹ hoặc tập-trung nỗ-lực trong việc bình-định nông-thôn đã được giải-quyết. Chính-quyền Johnson sẽ theo đuổi cả ba bởi vì không một chiến-thuật riêng rẽ nào có thể hứa hẹn được một chiến-thắng”.

 

 

 

 

 Tài-Liệu Tham-Khảo

 

  1. Bộ Quốc Phòng – Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam, Lịch Sử Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước – 1954-1975, Tập III, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997.
  2. H.N. Schwarzkopf & P. Petre, It Doesn’t Take a Hero,Bantam Press, London, 1992.
  3. P. Arnett, Live from the Battlefield, Corgi Books, London, 1995.
  4. S. Dunstan, Vietnam Tracks – Armor in Battle 1945-75, Osprey Publishing Ltd., London, 1982.
  5. E.F. Murphy, Dakto, Presidio Press, California, 1993.
  6. E. O’Ballance, The Wars in Vietnam 1954-1980, Hippocrene Books, Inc., New York, 1981.
  7. S.L. Stanton, Green Berets at War,Presidio Press, California, 1990.
  8. Tài-liệu riêng của cựu Trung-tá Cao-Văn-Thinh gửi cho cựu Ðại-tá Tôn-Thất-Soạn ngày 31.12.1999.
  9. Vĩnh Lộc, Why Pleime? PleiKu, August 1966.
  10. C. Bishop, Ed., Vietnam War Diary,The Hamlyn Publishing Group, London, 1990.
  11. Hoàng Linh Ðỗ Mậu, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi,Tác-giả xuất bản, California, 1986.
  12. W.H. Hammond,The US Commitment Becomes Irrevocable, The Vietnam War, Salamander Books Ltd., London, 1981.
  13. Ðoàn Thêm, 1965 việc từng ngày, Tủ Sách Tiến-Bộ, Cơ-Sở Xuất-Bản Phạm-Quang-Khai, Sài-Gòn, 1968.
  14. T. Nguyễn, Quân Trung Từ Mệnh Tập, nxb Sử Học, Hà Nội, 1961.
  15. K.D. Ðào, Trận Phục Kích Giồng Dứa; Mùa Thu Rồi, Ngày Hăm Ba, Tập Hai, Phần thứ Ba – Ðộc Lập Hay Là Chết,nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.
  16. L.V. Nguyễn, Nhớ Lại Trận La Ngà; Mùa Thu Rồi, Ngày Hăm Ba, Tập Ba, Hào Khí Ðồng Nai – Bến Nghé – Cửu Long, Quân Sự – Ðô Thị, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.
  17. L. Vũ, Hùng Thay! Tầm Vu!,Tài-liệu đã dẫn trên (15).
  18. H. de Brancion,Retour en Indochine du Sud – Artilleurs Des Rizières – 1946-1951, Presse de la Cité, Paris, Février 1999.
  19. B.B. Fall, Street Without Joy, Natraj Publishers, India, 1987.
  20. D.A. Starry, Armoured Combat in Vietnam, Blandford Books Ltd., Dorset, 1981.
  21. J.W. McCoy, Secrets of the Vietcong, Hippocrene Books, Inc., New York, 1992.
  22. P. Labrousse, La Méthode Vietminh – Indochine 1945-1954,Lavauzelle Graphic, France, 1996.
  23. C.V. Clausewitz, On War, M. Howard & P. Paret, Eds., Princeton University Press, New Jersey, 1984.
  24. B.H. Liddell Hart, Thoughts on War, Spellmount Ltd., Cornwall, 1999.
  25. Phan Nhật Nam, Dấu Binh Lửa 1963-1973, nxb Hiện Ðại tái bản, Sài Gòn, 1973.
  26. Võ Nguyên Giáp, Ðường Tới Ðiện Biên Phủ,nxb Quân Ðội Nhân Dân, Hà Nội, 1999.
  27. A.H. de Jomini, The Art of War,Greenhill Books, London, 1995.
  28. B. Palmer, Jr., The 25 Year War, Da Capo Press, Inc., New York, 1984.
  29. M. Schmitt, De Diên Biên Phu à Koweit City,Editions Grasset & Fasquelle, Paris, 1992.
  30. P.B. Davidson, Vietnam at War, Sidgwick & Jackson Ltd. Publishers, London, 1988.
  31. Trích trong diễn văn tại Memorial Hall, University of Akron, 21 October 1964, Public Papers: Lyndon B. Johnson, 1963-64, U.S. Government Printing Office, Washington, D.C.
  32. B, VanDeMark, Into the Quagmire – Lyndon Johnson and the Escalation of the Vietnam War, Oxford University Press, New York, 1991.
  33. M.B. Young, The Vietnam War 1945-1990, Harper Perennial, New York, 1991.

 

Hiệp định nầy sẽ có hiệu lực khi đại diện toàn quyền của các bên tham gia Hội nghị Pa-ri về Việt Nam ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành triệt để Hiệp định này và các Nghị định thư của Hiệp định.

 

Làm tại Pa-ri ngày hai mươi bảy tháng giêng năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba, bằng tiếng Việt Nam và tiếng Anh. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh đều là những bản chính thức và có giá trị như nhau.

Thay Mặt Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà

Ðã Ký:

Nguyễn Duy Trinh

Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao

 

Thay Mặt Chính Phủ Cách Mạng Cộng Hoà Miền Nam VN

Ðã Ký:

Nguyễn Thị Bình

Bộ Trưởng Bộ  Ngoại Giao

 

Thay Mặt Chính Phủ Hoa Kỳ

Ðã Ký:

William P. Rogers

Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao

 

Thay Mặt Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà

Ðã Ký:

Trần Văn Lắm

Tổng Trưởng Ngoại Giao

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here