Thái Cực Dưỡng Sinh

Ðỗ Quang-Vinh

Một Cách Thiền Để Dưỡng Sinh
Trong Thái Cực Quyền
(Trích sách “TẬP THÁI-CỰC DƯỠNG SINH,
Let’s Practice Nutri-Living TaiChi Exercises!”
Đỗ Quang-Vinh, Canada, 2013)
http://doquangvinhvenguon.com/thaacutei-c7921c-d4327905ng-sinh.html

Hằng ngày, chúng ta đều phải làm việc và suy nghĩ; những
cảm xúc, những tiếng động xung quanh, hết thảy đều kích
động khiến ta đau đầu, làm rối loạn tuần-hoàn, căng thẳng
cơ bắp và thần-kinh, vì vậy ta cần được thư giãn để dưỡng
sinh.
Thiền cũng như Thái-cực-quyền đều là lưỡng diện của nhất
điểm dưỡng sinh. Nói khác, cả hai phương-thức này đều
nhằm giải-quyết những bế-tắc về tâm sinh lý ngõ hầu giữgìn sức khoẻ, ngăn ngừa và chữa trị bệnh tật mà tăng
thêm tuổi thọ. Tuy cùng chung một mục-đích song mỗi
cách có những đặc-tính khác nhau: nếu thiền là phươngpháp tĩnh thì Thái-Cực-Quyền là phương-pháp động, cũng
là thiền song thiền động.
Và vì với mục-đích dưỡng-sinh, nên ta không nhìn quyền
dưới góc độ võ-thuật, và chỉ bàn về khía cạnh y-lý mà thôi.
Cho nên cũng có người gọi cho rõ hơn đó là môn y-võ
dưỡng-sinh. Môn này là mô-hình của triết-lý âm dương
dịch-học, là một nghệ-thuật thẩm-mĩ mang tính khoa học,
và nhất nữa, là một môn thuốc linh-họat có cơ-sở y-lý. Vì
vậy trong bài này, ngoài tính thẩm-mĩ nói trên, chúng tôi
xin phác họa một vài cái nhìn về triết-lý và y-lý mà tháicực-quyền đã ứng-dụng.
Giả thử người tập Thái Cực Dưỡng Sinh hai tay cầm que
lân tinh chiếu sáng trong đêm, ta sẽ thấy những chiêu thức
vẽ ra những đường thẳng đường cong, vòng cung hình học
giao nhau thật đẹp. Những nét vẽ mĩ thuật này còn cho
thấy các chuyển động đều dựa trên nguyên lý động học với
nguyên tắc đòn bẩy hay cân bằng hai lực tương tác đối
nghịch trong khoa vật lý học.
Cái tương tác đối nghịch này hệt như mô hình âm dương
tương tác trong Dịch lý triết học cũng như trong y-lý cổ
truyền.
§1-Thái-cực-quyền và triết-lý âm dương dịch-học:
1.1- Triết-lý âm dương: thái cực, âm dương, chukỳ sinh và tái sinh
a- Việt-triết âm dương
Ðiều cần nói ngay là văn hóa Bách-Việt vốn sở-hữu một
nền Việt-Triết Âm Dương. Trong cuốn Tiếng Việt Tuyệt-Vời
ấn bản 2, chúng tôi có dành trọn chương 8 để chứng minh
rằng Triết-Lý Âm Dương là sở-hữu của tổ-tiên Việt-tộc,
không hẳn được chứng thực bởi di-vật trống đồng như đã
được các nhà khảo cổ phát-hiện, cũng như được xác-minh
qua tài-liệu “Bách Việt Tiên-Hiền Chí” trích trong đại-bộ
Lĩnh-Nam Di-Thư của Trung-Hoa mà học-giả Hán Chương
Vũ Ðình-Trác sau này đã tìm thấy trong thư-viện của ÐạiHọc Ðông-Kinh, vâng, không hẳn là như vậy, mà cụ-thể
nhất, và hùng-hồn hiển nhiên nhất là triết-lý ấy tiềm-tàng
ngay trong ngôn-ngữ Mẹ Việt. Triết-lý ấy được sang
Thaùi-Cöïc döôõng sinh Ñoã Quang-Vinh
8
nhượng cho ngoại-tộc khi người Hán xâm chiếm
Việt-tộc mang toàn bộ văn-hoá Việt đi theo, và dĩnhiên dần dà qua các thời-đại đã được biến-đổi cho
thích-nghi với chế-độ mới, khiến lịch-sử sau này cứ
quen gọi là Dịch-Lý Trung-Hoa. Người Trung-Hoa ngày
nay quen gọi “the Taoist Taichi Chuan” là ý nói môn quyền
này dựa theo triết-học của Lão-Tử. Thực ra Lão Tử của
Ðạo-Giáo hay Khổng Tử của Nho giáo đều là các
triết-nhân kế-thừa các tiên-hiền của Bách-Việt.
Trong tài-liệu Bách Việt Tiên-Hiền Chí, triết lý Âm Dương
được xuất hiện dưới ngòi bút của các vị tiên hiền: Kế Nghi,
Dưỡng Phấn, Quách Thương. Kế Nhi đề cập luật âm dương
với ngũ hành. Dưỡng Phấn trình bày hậu quả của âm
dương. Quách Thương nhấn mạnh dương đức là căn bản
của chánh sách tu, tề.” (Vũ Đình-Trác)
b- Thái-cực (太極), âm dương, chu-kỳ sinh và
tái sinh
Trong vũ-trụ, mọi sự đều biến chuyển không ngừng, không
có gì là tuyệt-đối, tất cả đều là tương-đối, mọi sự đều hàm
chứa sẵn hai mặt tương khắc mà lại tương sinh. Ấy là cặp
âm dương tương đối, tuy nhị nguyên đấy mà lại huyền
đồng nhất thể, như hai mặt của bàn tay.
Âm Dương bao trùm không gian và thời gian, khí hậu thờitiết, sự việc và mọi hiện tượng trong vũ-trụ. Có vui thì cũng
có buồn, hết nóng phải lạnh, hết ngày thì sang đêm. Ngày
đêm tuy tương khắc, nhưng tương sinh điều hoà cho cuộc
sống con người. Cho nên không thể chịu đựng nổi suốt một
ngày dưới sức nóng gay gắt và ánh sáng chói chan của mặt
trời, con người chờ đón bầu khí mát dịu của đêm trăng.
Hết ngày sang đêm, qua đêm tới ngày. Bĩ cực thì thái lai.
“Ai giàu ba họ ai khó ba đời”. Thương hay ghét cũng chỉ là
lưỡng diện của nhất điểm tình yêu: Yêu nhau lắm thì cắn
nhau đau, ghen hờn chẳng qua là mặt trái của yêu đương.
Đấy là lẽ biến dịch của tự-nhiên.
Thừa hưởng Triết-Lý Âm Dương của Bách-Việt Tiên-Hiền,
Lão Tử của Trung Hoa viết lại Dịch-Lý (易 理), chữ Dịch,
Hán-tự (易) tượng hình hai hình ảnh âm dương tương hỗ
gồm chữ Nhật là mặt trời “dương” nằm bên trên chữ
Nguyệt là mặt trăng “âm”, nói lên ý nghĩa của âm dương
dịch học.
Nói theo cách nhìn nhân-bản, thuận âm dương là tuân theo
trật tự thiên-nhiên, thuận thiên-lý, không cưỡng Đạo Trời.
Giải thích một cách triết-lý, cái Đạo (道) ấy, là nguyên-lý
tuyệt đối của vũ-trụ đã có từ trước khi khai thiên lập địa,
không sinh, không diệt, không tăng không giảm, một
nguyên lý huyền diệu, siêu hình, bất khả luận. Cái tuyệt đối
ấy là cái khí tiên-thiên, là chỗ hư vô Vô Cực (無極). Một
máy vi tính bỏ không, bất động, máy ấy đang ở trong trạng
thái của Hư Vô, Vô Cực, bỗng có người ngồi vào định đặt
tay lên bàn phím, người ấy đã đem vào cái hư vô đó một
chuyển động, đấy là khởi sự có Thái Cực (太極), là khởi
điểm của lịch trình biến hoá, là nguồn mạch của dịch biến
âm dương. Vô Cực hiện hữu trước khi có chuyển
động. Khi có một sự khởi động thì tình trạng bất
động của Vô Cực không còn nữa, lúc ấy Thái Cực bắt
đầu và phân tán nhị nguyên biến dịch theo hai mặt âm
và dương đối nghịch, rồi kết thúc chu kỳ sinh bằng
Thái Cực Dưỡng Sinh Ðỗ Quang-Vinh
9
phản phục trở về Thái Cực theo lẽ huyền đồng nhất
thể, rồi lại cứ thế tiếp diễn chu kỳ tái sinh, hệt như chu
kỳ của hình Sin trong toán học. Thái là lớn hơn hết thảy, là
cái chỗ tột cùng, tận điểm. Cái trạng thái “trống không” của
Vô Cực là Âm, và cái “mầm mống chuyển động” khởi phát
từ Vô Cực là Dương. Âm và Dương tuy tương khắc nhưng
điều hợp làm một thực thể. Trời là Dương, Đất là Âm, con
người hấp thụ khí Dương của Trời, khí Âm của Đất để điều
hoà cuộc sống. Ấy là Tam Tài “Thiên Địa Nhân”. Có nam thì
có nữ. Nam nữ giao hoà để sinh con là thuận thiên lý âm
dương, là hợp Đạo.
Dịch biến từng được diễn tả trong Phục Hy Thái Cực Đồ
(伏羲太極圖) sau đây (hình 1):
(hình 1)
Tác-giả Jou Sung Hwa nối Dương với Âm và Thái-Cực bằng
đường cong là do tính động của dịch biến xoay vần; nếu là
đường thẳng tức Thái-Cực ở tình trạng tĩnh (1).
Và trong mỗi Âm, đều có Dương, trong mỗi Dương
đều có Âm là mầm mống của chuyển động dịch biến,
nên mới nói Dương cõng Âm, và Âm cõng Dương. Vì có
chút mầm Âm trong Dương, nên khi Dương đạt tới cực độ,
thì mầm Âm trong Dương làm cho Dương chuyển biến dần
sang Âm. Vì có chút mầm Dương trong Âm, nên khi Âm đạt
tới cực độ, thì mầm Dương trong Âm làm cho Âm chuyển
biến dần sang Dương để trở về đạt tới cực độ, kết thúc chu
kỳ sinh, rồi chu kỳ tái sinh lại cứ thế tiếp diễn. Và như vậy
ngày mới chuyển dần sang đêm, đêm mới chuyển dần
sang ngày.
Âm thịnh thì Dương suy. Dương thịnh thì Âm suy. Làm sao
quân bình được âm dương tức là quân bình giữa tình cảm
và lý trí. Trong người nam, không hoàn toàn 100% dương
tính, phải có một chút âm-tính thì con người mới điều hoà
được cuộc sống an vui, ngược lại đối với người nữ cũng
thế, nếu không thì hoặc quá cứng nhắc, hoặc quá yếu
mềm, cuộc sống không thể hài hoà, hài hoà với chính bản
thân, với thiên nhiên Đất Trời, và với tha-nhân xung quanh
mình. Cho nên yếu tố Dương và Âm được tượng hình như
sau (h. 2):
Thái Dương
Dương tăng dần Âm tăng dần
Thái Âm
(Hình 2)
Màu trắng là màu của Dương, chỉ rằng đó là phía có ánh
sáng mặt trời. Màu đen là màu của Âm vì đó là phía bị mặt
trời che khuất. Trong mỗi phần Dương và Âm đều có một
Thaùi-Cöïc döôõng sinh Ñoã Quang-Vinh
10
chấm đen hoặc trắng, đó là mầm mống của âm hoặc
dương làm phát sinh chuyển động dịch biến. Hai hình con
cá chia đôi vòng tròn Thái Cực là nói lên ý nghĩa Âm Dương
quân bình.
Gọi Thái-Cực Quyền là môn y-võ dưỡng-sinh vì võ thuật
này dựa trên dịch-lý âm Dương có tác-dụng di dưỡng tinh
thần, quân bình thân tâm, vốn là cơ bản thiết yếu điều hoà
cuộc sống cho thân thể được khoẻ mạnh an vui.
1.2- Thái-Cực Quyền, một mô-hình của Âm
Dương Dịch-lý.
a) Ý-nghĩa của chiêu thức:
 Trước hết, diễn trình các chiêu thức trong bài
Thái Cực Quyền hình dung diễn trình của Thái Cực đồ nói
trên. Thoạt đầu, người tập đứng im nhìn về hướng trước
mặt, thân hình phải thẳng góc với mặt đất, tâm thân hoàn
toàn buông lỏng, sao cho tâm hồn thư thái, nét mặt thanh
thản, ấy là thể-hiện tình trạng của hư không Vô Cực. Tư
thế sẵn sàng chuyển động, ấy là giai đọan chuyển từ Vô
Cực sang Thái-Cực. Người tập đứng thật thẳng như chôn
chân dưới đất, như đầu treo thõng xuống từ trần nhà, để
cho sinh khí (生氣) chạy thẳng từ dưới chân lên đỉnh đầu,
ấy là hình ảnh của người đầu đội Trời, chân đạp Đất trong
tam tài Thiên, Địa, Nhân mà Nhân chính là Thái Cực ở
giữa.
 Khi thế khởi động bắt đầu, các chiêu thức tay lên
tay xuống, tay ngửa tay úp, bước tới bước lui, lúc đứng khi
ngồi, quay dọc quay ngang, xoay trái xoay phải v.v. tất cả
nhịp-nhàng, nhưng hoàn toàn thư giãn cả thể xác lẫn tâm
hồn, để cho thân tâm hoà đồng hoàn toàn vào vũ-trụ, khi
ấy mình là Thái Cực và Thái Cực chính là mình, ấy là hài
hoà với bản thân, với tha nhân, với thiên-nhiên, vạn vật.
Tay vươn ra là Dương, tay co vào là Âm, tiến bước là
Dương, lùi bước là Âm. Tiến xong lại lùi, vươn ra lại co vào,
ấy là nhị nguyên Âm Dương tương khắc tương sinh. Giao
nhau rồi lại tách rời. Các chiêu thức này vẽ ra những
đường vòng, đường cung biểu thị vòng tròn Thái Cực xoay
vần để đạt tới Âm Dương quân bình. Diễn tiến chấm dứt ở
thế hoàn nguyên, trở lại khởi điểm ban đầu, ấy là diễn tiến
của cuộc đời bổng trầm thăng giáng, nhưng luôn luôn giữ
được thăng bằng cho cuộc sống hài hoà, an nhiên tự tại.
 Ngay trong mỗi chiêu thức cũng vậy. Lấy ví-dụ
thế tứ lục :
Trong thế Đăng Sơn Bộ, 60% sức nặng đè trên
chân trước, 40% còn lại đặt nhẹ trên chân sau, ấy là cái
mầm 40% Âm đang sẵn sàng chuyển động (hình 3).
Trong thế đi Miêu Bộ, 60% sức nặng đè chân sau,
40% đặt nhẹ lên bàn chân trước mở ra, ấy là cái mầm 60%
Dương đang sẵn sàng chuyển động cho bàn chân trước đè
nặng lên mặt đất chuyển từ 40% sang 60% ở thế Đăng
Sơn Bộ. Ấy là mầm Âm trong Dương và mầm Dương trong
Âm (hình 4).
Thái Cực Dưỡng Sinh Ðỗ Quang-Vinh
11
§2- Thái Cực Quyền và Sinh, Y-lý:
Tinh Khí Thần (精氣 神) là ba thứ quý giá của sự sống
con người. Thần chủ động ở não liên quan tới tâm, tâm có
an thì thần mới ổn. Lao tâm quá độ, lao lực quá sức, tinh
khí không điều hoà sung mãn, con người sẽ đau yếu, tâm
thần sẽ rối loạn.
2.1- Tinh Khí và Khí Huyết
Huyết cần cho sự sống, lưu thông trong hệ tuần
hoàn qua các động mạch và tĩnh mạch, nuôi sống các
tế bào khắp thân thể. Một động mạch bị đứt, nếu không
cầm được, sẽ không còn máu nuôi cơ thể, con người sẽ
chết. Thiếu máu, hay mạch máu bị tắc nghẽn, con người sẽ
gầy mòn, ốm yếu, bệnh tật.
Khí cũng cần thiết cho sự sống, nhưng vận chuyển
qua hệ thần kinh, đi khắp châu thân. Theo y-lý Đông
Phương, Tinh gồm tiên-thiên-khí và hậu-thiên-khí. Tiên
thiên khí là nguyên khí bẩm sinh do cha mẹ di truyền, bắt
đầu có khi trứng thụ tinh để thành thai nhi trong bụng mẹ.
Khí đó là Dương. Khi trẻ lọt lòng mẹ, hít thở dưỡng khí
ngoài trời, ăn uống các chất dinh dưỡng, ấy là hậu thiên
khí hấp thụ từ trời đất và môi trường xung quanh. Khí đó là
Âm, có tác dụng duy trì và bổ sung cho nguyên khí, hợp
với nguyên khí gọi chung là tinh khí. Đây là Chân Khí tích
tụ ở thận bao gồm cơ quan sinh dục, luân lưu trong các
kinh mạch và lục phủ ngũ tạng, chủ yếu gồm 2 mạch Đốc
và Nhâm liên quan đến các cơ quan nội tạng, họp thành
tiểu chu thiên, cùng với 12 kinh nối kết tứ chi họp thành
đại chu thiên.
Trái với hệ tuần-hoàn huyết, hoạt động theo chu kỳ nhất
định không thay đổi, chu-kỳ kinh mạch vận khí theo âm
dương giao hoà chuyển hoá, giống như các hiện tượng
thiên nhiên thay đổi như nóng lạnh, sáng tối, ngày đêm,
tháng năm, tứ thời bát tiết, v.v…
Khí được coi như một thứ điện năng mà hệ thần
kinh như một mạng điện chằng chịt. Nếu hệ thần kinh
bị trục trặc rối loạn, như cột sống bị tổn thương chẳng hạn,
khi ấy khí không thể chu luân điều hoà đem năng lượng
đến cho khắp cơ thể, và nếu một lúc nào đó, chẳng may
dòng khí bị tắc nghẽn, các cơ quan sẽ không làm tròn chức
năng của mình, sinh ra đau ốm bệnh tật, nhẹ hay nặng tuỳ
theo tình trạng khí hư hay mất. Người ta sẽ kích thích các
vị trí liên quan trên các kinh mạch, gọi là các huyệt vị, để
đánh thức các huyệt này hoạt động trở lại giúp cho khí lưu
thông điều hoà, đây là công việc của nhà châm cứu, bấm
huyệt và thở khí công.
Các chiêu thức Thái Cực Quyền, vận động khớp cốt, toàn
thân, trôi theo giòng liên tục nhẹ nhàng, cùng với nhịp thở
tự nhiên điều hoà, có tác dụng khai thông những huyệt vị
bế tắc trong các kinh mạch giúp cho khí chu luân khắp toàn
thân đi vào lục phủ ngũ tạng.
Làm như vậy, vì khí vận chuyển làm cho huyết lưu thông,
khí gắn liền với huyết, cũng như tinh với khí, cho nên
thường nói tinh khí và khí huyết là vậy.
Hoành cách mô phân chia 2 khí tiên thiên và hậu
thiên ấy như trong hình (5) dưới đây:
Thaùi-Cöïc döôõng sinh Ñoã Quang-Vinh
12
(hình 5)
Trung tâm năng lượng phát sinh khí lực đi khắp cơ
thể, nằm sâu trong khoang bụng, bên dưới rốn
khoảng 3 đốt ngón tay, được coi là bể khí, là nơi hội tụ
của tiên thiên khí, tức Hạ Đan Điền, quen gọi là Đan điền
(h. 6), có nghĩa là ruộng trồng đan-dược. Trong bụng mẹ,
bào thai tăng trưởng xung quanh khoang dưới rốn của mẹ.
Bào thai hô hấp khí tiên thiên và hấp thụ dinh dưỡng từ
“bánh nhau” trong bụng mẹ vào cuống rốn của mình xuống
vùng hạ bộ, ngược lên đầu, xuống lưỡi, rồi trở lại vùng rốn
của mình. Vì vậy, gọi vùng rốn này là đan điền, trung tâm
cực mạnh hội tụ và sản sinh khí lực là năng lượng cho sự
sinh tồn. Đứa trẻ lọt lòng mẹ, hô hấp hít vào hậu thiên khí,
thở ra tiên thiên khí. Khi hít vào thì cơ hoành hạ xuống cho
phình bụng ra. Khi thở ra thì cơ hoành đẩy lên cho bụng
thót lại xẹp xuống. Vì lúc cơ hoành hạ xuống, các nội tạng
trong bụng bị dồn xuống, bụng phình lên; lúc ấy hậu thiên
khí bị hút vào vì vậy có động tác phình bụng thở vào. Lúc
cơ hoành nâng lên, tiên thiên khí bị đẩy ra, các nội tạng
trong bụng bị kéo theo, bụng thót lại vì vậy có động tác
thót bụng thở ra.
(Hình 6)
Người ta cũng phân biệt:
 Thượng Đan Điền trùng với huyệt Ấn Đường ở giữa
2 đầu lông mày, nếu bị đánh mạnh có thể tử vong.
 Trung Đan Điền, trùng với huyệt Đản Trung ở giữa
đường nối 2 đầu vú.
 Hạ Đan Điền trùng với huyệt Khí Hải, nằm dưới rốn
khoảng 3 cm
2.2- Hệ-thống kinh mạch. Quan sát chu kỳ lưu thông
của khí nơi thai nhi, y-lý Đông phương, từ đó, phát hiện ra
các kinh mạch chính, gồm 2 mạch chủ là Đốc Mạch và
Nhâm Mạch nối với 12 nhánh “Kinh” chính, từ đó phân ra
các nhánh nhỏ gọi là “Lạc” phân bố chằng chịt khắp toàn
thân hệt như mạng tơ sợi:
a- Mạch Đốc điều hoà phần Dương của toàn thân, qua
28 huyệt-vị, khởi từ Hội Âm vòng ra sau lưng chạy dọc
theo cột sống, qua các huyệt Trường Cường, Mệnh Môn,
Chí Dương, Đại Chuỳ, Phong Phủ, đi vào trong não, lên tới
huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu, xuống Nhân Trung và chấm
dứt ở huyệt Ngân Giao, nơi đây sẽ gặp Mạch Nhâm từ Hội
Âm và Đan Điền lên.
Thái Cực Dưỡng Sinh Ðỗ Quang-Vinh
13
 Huyệt Hội Âm, huyệt thứ nhất của Mạch Nhâm,
nằm ở giữa bộ phận sinh dục ngoài và hậu môn, là nơi tập
trung khí âm, hội tụ 3 mạch Nhâm, Đốc và mạch Xung,
mạch này kiểm soát khí huyết toàn thân, từ dạ con vào cột
sống, phân nhánh ra đi từ Hội Âm lên rốn, ngực, họng, mặt
và vòng ra xung quanh môi. Huyệt này đóng mở để cho
tinh khí xuất ra.
 Huyệt Trường Cường: huyệt thứ nhất của Mạch
Đốc, là một trong những huyệt tuỷ xương, dài (trường) và
mạnh (cường), nằm ở chỗ lõm phía sau hậu môn và phía
trước đầu xương cùng (coccyx), rất quan trọng, vì nơi đây,
khí lực vào được cơ thể hay thoát đi mất. Tinh khí khi quay
về, sẽ đi qua đường này, vào cột sống và lên não. Cho nên
gọi đây là Ngõ vào Cửa Sinh Tử, nơi đây dòng điện ấm của
dương khí vào được tận trung ương của thần kinh hệ.
 Huyệt Mệnh Môn: huyệt thứ 4 nằm ở trung điểm
của đường nối 2 quả thận, nằm ở vùng eo lưng, đối diện
với rốn, trong hố lõm ở chỗ gồ lên của đốt xương sống thứ
2, được gọi là Cửa (Môn) Sự Sống (Mệnh), nơi đây tập
trung tinh lực, nguyên khí. Thận bên trái là Âm, thận bên
phải là Dương, Mệnh Môn là chỗ Âm Dương quân bình. Thở
nhịp nhàng theo chiêu thức Thái Cực Quyền, tập trung ý
nơi đây, khí lực sẽ theo cột sống lên đầu xuống chân.

 Huyệt Chí Dương: huyệt thứ 9 của mạch Đốc,
nằm dưới đốt sống lưng số 7, ở chỗ giao điểm của đường
nối 2 đầu mỏm xương bả vai với đường dọc cột sống, liên
quan tới vùng ngực, gan và túi mật.
 Huyệt Đại Chuỳ: Huyệt thứ 14 của Mạch Đốc, ở
dưới xương to đốt sống cổ 7, có tác dụng lưu thông tuần
hoàn não, tăng cường thể chất, phòng ngừa các bệnh về
hô hấp.
Thaùi-Cöïc döôõng sinh Ñoã Quang-Vinh
14
 Huyệt Phong Phủ: huyệt thứ
16 của Mạch Đốc, liên hệ với tuỷ
xương, nằm ở chỗ lõm giữa gáy và ở
trên chân tóc gáy 1 thốn (khoảng 2
cm), là nơi gió tập trung vào, Phong
khí và Hàn khí xâm nhập mạch Đốc
qua huyệt này. Nếu trúng phạm, sẽ
gây nên tử vong.
 Huyệt Bách Hội: huyệt thứ 20 của Mạch Đốc, là
điểm lõm ngay trên đỉnh đầu, giao điểm của đường nối 2
đỉnh vành tai với đường dọc cơ thể, một trong các đại
huyệt quan trong nếu phạm phải có thể gây tử thương.
Trong tam tài “Thiên Địa Nhân”, Bách Hội chính là nơi hội
tụ khí Dương của Trời, giao hoà con người với khí âm của
Đất.
 Huyệt Nhân Trung: huyệt
thứ 26 của Mạch Đốc, nằm ở vùng
rãnh mũi môi trên, điều hoà nghịchkhí của Âm Dương. Bấm huyệt này
để cứu người bất tỉnh.
 Huyệt Ngân Giao : huyệt
thứ 28 của Mạch Đốc, là chỗ lợi và
răng hàm trên giao nhau nằm trên
nóc miệng, trước khe các chân răng cửa của hàm trên.
b- Mạch Nhâm: Là bể chứa khí Âm, điều hoà phần Âm
của toàn thân, qua 24 huyệt, khởi từ huyệt Hội Âm đi
ngược lên, theo đường giữa bụng qua huyệt Quan Nguyên,
Khí Hải, Trung Quản, lên ngực, họng đến cằm ở huyệt
Thừa Tướng, rồi chạy quanh vùng miệng môi hợp với Mạch
Đốc tại huyệt Ngân Giao.
 Huyệt Quan Nguyên: là
huyệt thứ 4 của Mạch Nhâm,
nằm ở 3/5 trên và 2/5 dưới của
đường nối điểm giữa bờ trên của
xương mu và rốn, là nơi chứa đựng nguyên khí, nên gọi là
cửa (quan) của nguyên khí, rất cần cho sự sống, có công
dụng bồi thận, bổ khí và hồi dương.
 Huyệt Khí Hải: huyệt thứ 6 của
Mạch Nhâm, là bể (hải) chứa khí nằm ở lỗ
rốn thẳng xuống 1.5 thốn (khoảng 3cm),
cũng gọi là Hạ Đan Điền.
 Huyệt Trung Quản: huyệt thứ 12
của Mạch Nhâm, ở phía trên rốn 4 thốn,
hoặc ở đểm giữa của đoạn thẳng nối rốn và
đường gặp nhau của 2 bờ sườn, có tác
dụng hồi dương cứu nghịch, thúc đẩy quá
trình tiêu hoá thức ăn, hấp thụ các chất
dinh dưỡng, chủ trị huyết áp cao, thần kinh
suy nhược.
Thái Cực Dưỡng Sinh Ðỗ Quang-Vinh
15
 Huyệt Thừa Tương: huyệt
thứ 24 của Mạch Nhâm, ở đáy chỗ
lõm chính giữa và dưới môi dưới trên
đường bổ dọc giữa hàm dưới, nơi
thường nhận (=thừa) nước miếng
(=tương) chảy ra, có tác dụng điều
hoà khí âm dương.
(1) The Tao of Tai-Chi Chuan, Way to Rejuvenation, Tai
Chi Foundation Jou, Tsung Hwa, POB.828, Warwick,
N Y. 10995, ISBN: 08048-1357-4)
2.3- Khai Thông kinh mạch và vận khí.
a- Khai thông kinh mạch
Khai thông Nhâm Đốc Mạch, là để khí vận hành không
ngừng theo vòng khép kín Tiểu Chu Thiên cho chân Hỏa ở
Trường Cường cũng như nội khí sinh ra ở Đan điền có thể
giao hoán luân lưu tuần hoàn, cho Âm Dương, ngũ tạng
(tâm, can, tỳ, phế, thận) lục phủ (vị, đảm, tam tiêu, bàng
quang, tiểu trường, đại trường) được quân bình.
Âm đi xuống, Dương đi lên. Mạch Nhâm sẽ từ huyệt Thừa
Tương đi xuống theo đường giữa bụng xuống đến Hội Âm.
Mạch Đốc đi từ Hội Âm vòng ra sau theo cột sống ngược
lên Bách Hội ở đỉnh đầu xuống đến Ngân Giao ở môi trên.
Người tập ngậm miệng để cho đầu lưỡi chạm lên nóc
miệng đụng chân răng cửa hàm trên, cho 2 mạch Nhâm
Đốc nối liền như nối 2 cực âm và dương của mạch điện,
thở ra hít vào bằng mũi, khi ấy 2 khí tiên thiên và hậu thiên
giao hoà, phát sinh năng lượng xuống vùng hạ đan điền,
hệt như điện năng từ động cơ nổ trong vật lý học, chu luân
không ngừng trong vòng khép kín của tiểu chu thiên 2
mạch Nhâm Đốc.
b- Vận Khí Qua Hệ-Thống Kinh Mạch
Hai mạch Đốc và Nhâm liên quan đến các cơ quan
nội tạng, họp thành tiểu chu thiên, cùng với 12 kinh nối
kết tứ chi họp thành đại chu thiên. (H. 7)
Tại tứ chi, nơi 2 lòng bàn tay có huyệt Lao Cung và
gan bàn chân có huyệt Dũng Tuyền là 2 huyệt quan
trọng. Lao cung nằm trên lòng bàn tay ở giao điểm giữa
đường tâm đạo và đường thẳng dọc khe giữa hai ngón áp
út và ngón giữa (H.8). Dũng tuyền ở chỗ lõm dưới lòng
bàn chân nằm tại điểm chia 2/5 đoạn thẳng tính từ đầu
ngón chân thứ hai đến bờ sau của gót chân (H.9). Lao
cung là Hoả huyệt của đường kinh Tâm Bào. Dũng tuyền là
Tĩnh huyệt của đương kinh Thận. Việc thăng giáng qua lại
giữa Lao cung và Dũng tuyền tạo ra hiệu quả thăng giáng
giao hoà tương ứng giữa Tâm và Thận cũng như giữa Đan
điền và Đản trung tức hiện tượng Thuỷ Hoả ký tế (*) mà
theo y-lý đông-phương cổ-truyền đó là biểu-hiện của một
cơ thể khoẻ mạnh. Mặt khác trong quá-trình vận khí, Bách
Hội thu thiên-khí giáng xuống Lao-Cung, đồng thời huyệt
Dũng Tuyền thu địa-khí thăng lên làm cho khí âm vận lên
từ hai huyệt Trường cường và Hội âm. Do đó sự vận
chuyển lên xuống của Khí cũng tác động vào cả hai mạch
Nhâm và Đốc làm tăng cường chân khí, tăng cường sức đề
kháng và cải thiện toàn bộ công năng của các tạng phủ.
(*) Cước Chú: Ký tế 既際, Ký=đã xong, Tế=vượt qua sông, đã
thành sự; Ký Tế là hai bên vừa giao tiếp xong với nhau. Trong Kinh
Dịch, Quẻ 63 “Thủy Hỏa Ký tế” gồm bên trên là Khảm (Thủy),
dưới là Ly (Hỏa). Hoả (lửa) ở dưới đun Thủy (nước) bên trên làm cho
Thaùi-Cöïc döôõng sinh Ñoã Quang-Vinh
16
nước sôi, tạo thành áp suất, gây ra năng lực hữu ích dùng để chạy
máy hơi nước. Lửa giúp nước tạo thành năng lực, tức là thành công
kết quả.

(H. 7

(H. 8) (H. 9)
Mạch Nhâm, Đốc đã khai thông, khi ấy mọi kinh mạch
trong cơ thể cũng đều khai thông, nhưng để đạt hiệu quả,
người tập Thái Cực Dưỡng Sinh cần tuân theo những
nguyên tắc căn bản sau đây:
§3- Nguyên Tắc Cơ-Bản
Thực-Hành Thái-Cực Dưỡng Sinh
1- Buông lỏng tâm thân, hoàn toàn thư giãn cả tâm
hồn lẫn cơ thể:
a- Không dùng sức để đưa đẩy, không cương cơ
bắp khi chuyển dịch.
b- đồng thời phải giữ tâm không, tâm phải an-bình
phẳng lặng, hoàn-toàn quên đi mọi ưu-tư, không nghĩ gì
khác hơn là tập-trung tư-tưởng vào những động-tác, quẳng
“gánh lo” đi để mỉm cười theo dõi tiến-trình của khí vậnhành trong từng bước đi, theo mỗi chuyển động, giữ niềm
vô tư lạc-quan, bình-thản, phóng ngã, vị tha, để hài-hoà
với thiên-nhiên tạo-vật, với tha-nhân. Chính giữ tâm không,
còn cần thiết cho sức khoẻ xét về mặt y-lý, vì mọi thái quá
đều có hại cho ngũ tạng:
* vui mừng quá thì hại cho tim.
* u-buồn quá thì hại cho phổi.
* tức giận quá thì hại cho gan.
* lo sợ quá thì hại cho thần kinh.
* suy nghĩ quá thì hại cho tỳ.
2- Giữ hơi thở trong đan-điền, bằng cách ngậm miệng
thở đằng mũi. Trong phép thở Đan Điền quen gọi là thở
bụng, người tập vận khí qua chu-kỳ hít vào thở ra, kíchhoạt nơi hoành-cách-mô, thở ra thì cơ hoành đẩy lên cho
Thái Cực Dưỡng Sinh Ðỗ Quang-Vinh
17
bụng thớt lại xẹp xuống, hít vào thì cơ hoành hạ xuống cho
phình bụng ra. Làm sao cho dưỡng khí vào tràn đầy buồng
phổi và dự trữ trong đan điền. Muốn vậy, khí vận hành
theo quy trình gồm 3 thì như sau: thì thứ nhất hít vào
chậm nhẹ cho phình bụng lên; thì thứ hai nén hơi, hoặc
bằng cách nín thở, hoặc nuốt khí như nuốt nước bọt chẳng
hạn, khí sẽ được giữ lại dự trữ nơi đan điền, và thì cuối
cùng thót bụng lại để chậm nhẹ thở ra qua mũi, như vậy là
vừa để nối 2 cực là huyệt Ngân Giao của Mạch Đốc và
huyệt Thừa Tương của Mạch Nhâm làm cho phát sinh điện
năng, vừa giữ lại được năng lượng dự trữ trong đan điền
nhờ không thở bằng miệng làm cho khí thoát hết ra ngoài.
Rõ-ràng là những người vừa chạy bộ vừa nói chuyện bao
giờ cũng mau mệt mất sức hơn người ngậm miệng vốn “dai
sức”. Dĩ-nhiên là phải giữ tâm không, phải quẳng “gánh lo”
đi, để hoàn toàn thư giãn cả thể xác lẫn tinh thần. Tác giả
tóm tắt phép thở bụng trong bài thơ sau đây:
“Chậm, đều, ngậm miệng, thở sâu:
Thở ra: thót bụng, hít vào: phình lên,
Nén hơi đưa xuống đan-điền,
Thở ra tống hết lo phiền ưu tư”
Phép thở đan điền có thể áp dụng mọi lúc, mọi nơi: khi
nằm, ngồi, khi đi, đứng. Tuy nhiên mới đầu tập Thái Cực
Dưỡng Sinh, khi di chuyển phải tập trung vào các chiêu
thức động, khó thực hiện đúng như cách vận khí của toạthiền tĩnh, nên bình thường cứ thở tự nhiên, miễn ngậm
miệng.
Khu phản xạ nơi gan bàn chân
Thaùi-Cöïc döôõng sinh Ñoã Quang-Vinh
18
Ngoài việc tập dưỡng sinh, mỗi buổi tối, nên ngâm chân
trong nước ấm vì nơi gan bàn chân có vô số rễ thần kinh
liên quan mật thiết với thần kinh trung khu đại não, đồng
thời liên hệ mật thiết đến lục phủ ngũ tạng.
Làm như vậy, sẽ kích thích tuần hoàn máu, giải trừ mỏi
mệt, giúp dễ ngủ làm hưng phấn các rễ thần kinh, giúp
tăng cường trí nhớ, đem lại cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng
cho chân và não, tóm lại là giúp cải thiện sức khoẻ tổng
quát.
3- Người tập thái-cực quyền thường được nhắc-nhở
10 điều quan yếu sau đây:
Con người là một “tiểu vũ-trụ” với đầy đủ Âm Dương, Ngũ
Hành. Khi mọi yếu-tố đó vận-hành trơn tru, con người sẻ
khỏe mạnh, nếu rối loạn sẽ sinh ra các thứ bệnh tật. Vì vậy
người tập dưỡng sinh cần phải tuân theo những yếu-quyết
sau đây:
1.1- Hư linh đỉnh kình: đầu cổ ngay thẳng, thần quán
tại đỉnh, không vận sức mà phải tự-nhiên.
1.2- Hàm hung bạt bối: ngực hơi thót vào để khí chìm
vào đan điền (hàm hung), khí bám dính vào lưng (bạt bối)
1.3- Tùng yêu: buông lỏng eo, các động tác hư thực
đều biến hoá tùy theo sự chuyển động của eo.
1.4- Phân hư thực: tách biệt rõ-ràng hư thực của độngtác, thủ-bộ cước-pháp sức nặng dồn lên chân nào, đó là
thực, còn lại là hư.
1.5- Trầm khiên trụy chẩu: hai vai buông lỏng tự nhiên
(trầm kiên), hai cùi chỏ cũng hạ thấp xuống (truỵ chẩu)
1.6- Dụng ý bất dụng lực: toàn thân buông lỏng, không
dùng sức mạnh cứng nhắc, dẫn ý theo động tác, ý, khí, lực
là 3 mối tương quan, ý dẫn khí, khí dẫn lực, ý đến thì khí
đến, khí đến thì lực đến.
1.7- Thượng hạ tương tuỳ: trên dưới phải theo nhau.
Tay động, eo động, chân động, nhãn thần cũng động theo,
tập trung tư tưởng dõi nhìn các động tác khi chuyển dịch
1.8- Nội ngoại tương hợp: Khi mở cũng như khi đóng,
lúc khai lúc kết, thảy đều trong ngoài hợp nhất, từ thần
thái đến cơ-thể đều tương hợp, thần là chủ để sai khiến
thân.
1.9- Tương liên bất đoạn: chuyển động liên tục tự
nhiên như kéo tơ, như suối chảy không gián đoạn.
1.10- Động trung cầu tịnh: lấy tĩnh mà điều khiển
động, tuy động mà cũng như tĩnh, càng chậm càng tốt,
càng khiến cho hô hấp được dài và sâu, khí càng chìm sâu
nơi đan điền.
Tác-giả với thức “Vận Thái-Cực”

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here