Tiếng Việt Tuyệt-Vời  ​​​​ Đỗ Quang-Vinh

 

Chương 3

 

TING VIT GIÀU T

 

Tiếng Việt phong-phú không những vì giàu tứ mà còn vì giàu từ. Kho ngữ-vựng vốn đã dồi-dào, lại thêm kiểu nói lái, một từ-hoa đặc-biệt, một khả-năng độc-đáo của Việt-ngữ, tạo thêm những từ-ngữ mới rất​​ dí-dỏm do óc khôi-hài ưa trào-phúng và do tính thâm-thúy sẵn có của quần-chúng Việt-Nam.

I- MT KHO T-NG​​ DI-DÀO

Trong rất nhiều trường-hợp, tuy chỉ một công-dụng mà sử-dụng rất nhiều từ. Chẳng hạn:

1- Về cách xưng-hô

Tùy theo thứ bậc, quan-hệ, mức độ tương-thân, tùy theo tập-quán địa-phương mà cách xưng-hô chào hỏi gọi nhau cũng đổi thay. "Ðức Vua, Ðức Phật, Ðấng Tối Cao, Thưa Ngài, Thưa cố, Thưa cụ, chào ông, chào bà, chào anh, chào chị...". Bạn bè bằng vai thân-mật nói chuyện với nhau ngoài cách xưng-hô khuôn thước thông-thường còn có: "đằng ấy, cậu, mày, so với tớ, mình, tao (miền Bắc) hoặc mi, bồ, tui (miền Trung, Nam) v.v..." Vợ chồng gọi nhau là "cậu mợ" xưng em hay tôi, hoặc "anh anh em em", gia-đình cổ-kính hay dân-giả thì nói "thày nó, bu nó, ông​​ nó, bà nó, mẹ mày, mình, nhà..."​​ 

Ðối với vợ chồng già thì:

  • Ông nó ơi! Có khách.

  • Bà nó ơi! Cơm đã chín chửa?

Ðối với vợ chồng trẻ, thì mặn-nồng thắm-thiết hơn:

“Có mặt mình, ăn muối cũng vui,

Vắng mặt mình, một bữa chẳng vui chút nào.”

hoặc:

“Hồi nào​​ mình bịnh, mình đau,

Bắt từng con cá ruộng nấu canh rau nuôi mình.”

*  "Mình vừa chỉ ngôi thứ nhất, vừa chỉ cả ngôi thứ hai, là tiếng xưng-hô hoặc âu-yếm giữa đôi tình-nhân, vợ chồng hoặc thân-mật trang-nhã giữa đôi bạn nối khố".

"Hôm qua, mình có đến song​​ không gặp cậu" lời nói nghe vẫn thân-thiết hơn là "hôm qua, tôi có đến ..." .

*​​  "Mình" là tiếng xưng-hô tuy thân song trang-trọng đứng-đắn hơn "tớ". "Mình" tuy chỉ một người mà cũng chỉ nhiều người: "Mình đi chơi đi" thay vì nói "Chúng mình đi chơi đi!";​​ "bọn mình" thay vì "bọn chúng mình".

*  "Mình" vẫn thân-thiết hơn "ta". "Ta" lại nghe gần-gũi hơn "chúng ta":

“Ta về, ta tắm ao ta,

Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.”

"Ta" cho thấy rõ hơn cái ý-nghĩa lập bè kết-đoàn, đồng-tâm hiệp-ý. Khi nói "phe ta"​​ thì rõ là nêu lên sự hợp-tác chặt-chẽ giữa "chúng ta" đối-nghịch với phe địch.

Nên chi người khách viễn-phương kia, tuy chưa hề quen biết Ðạm-Tiên, mới chỉ nghe đồn danh-sắc của nàng thôi, mà đã tự-nhận như kẻ đồng-hội đồng-thuyền với kẻ tài-hoa bạc-mệnh.​​ Cất công tìm đến, những tưởng sơ-ngộ là hạnh-ngộ, nào ngờ nàng đã ra người thiên-cổ tự bao giờ, xác nằm vất-vưởng "đã không kẻ đoái người hoài". Tiếc thương cho nỗi bất-hạnh của người, của mình, chàng​​ 

“Khóc than khôn xiết sự tình,

Khéo vô duyên bấy là mình với ta!”

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

*  "Mình, ta", đấy là cách nói trong quan-hệ thân thiết cùng lứa bằng vai. Người trên rủ kẻ dưới có thể nói được: "Thôi, mình (ta) đi kẻo trễ!" hay thân hơn nữa thì: "thôi, thầy trò mình (ta) đi kẻo trễ". Còn như kẻ dưới​​ đối với người trên, nói theo cách sau thì ra vẻ thân-kính hơn vì có chỉ-danh thêm thứ bậc, chứ nói trống không như cách một thì có vẻ khiếm-lễ. Càng khiếm-lễ hơn nếu học trò, con cái nói với thầy giáo, cha mẹ rằng: "Thôi, chúng mình đi thôi kẻo trễ!"​​ 

* ​​ Thêm tiếng "chúng" vào thành "chúng mình", nói như vậy là có ý "chơi trèo", là tỏ ra cá mè một lứa, cá đối bằng đầu. Vì lẽ, "chúng" thì hàm-ý rẻ-rúng, khiêm-hạ, hoặc chỉ-danh xô-bồ. Cho nên vẫn thường nói "con dại, cái mang, làm cha mẹ phải răn đe chúng" hoặc "chớ có huênh-hoang kẻo chúng cười". Ðều là nhân-xưng đại-danh-tự ngôi thứ ba số nhiều, tiếng "chúng" trên thay cho "chúng nó" không trân-trọng chỉ-danh nhân-vật, tiếng "chúng" dưới còn thêm ý chỉ-danh xô-bồ thay vì nói "kẻo thiên-hạ (hay dân-chúng) họ​​ cười". Hay trong một lá đơn gửi người trên hoặc trong một bài nói với công-chúng, cử-tọa, độc-giả, người viết nói rằng: "chúng tôi thiển-nghĩ..., chúng tôi quan-niệm rằng..." thì "chúng tôi" ra cái ý nhún mình khiêm-cung hơn là "tôi". Vì vậy, "bè-bạn" khác với "chúng bạn" là thế. Khi nói "ai thèm chúng bạn với nó" thì ý rẻ-rúng khinh thường vẫn nặng hơn khi nói "ai thèm bè-bạn với nó"

           ​​ *  Người Âu-Mỹ nói "ils, elles, il, elle" hay "they, he, she", ta không thể bất cứ trường-hợp nào cũng thay bằng "chúng nó, nó, hắn, y". Thật là ngây-ngô, tức cười khi phải nghe nói như sau: "Tôi mua cái này cho má tôi, nó thích lắm", lời nói không thể chấp-nhận này gọi là ngây-ngô vì hẳn là do người mới học tiếng Việt chưa thông-hiểu văn-hóa Việt-Nam.​​ 

     *  Một​​ số người bình-dân miền Nam nói rằng:

"Tôi mua cái này cho má tôi, bả thích lắm"

Thế nhưng thay "bả" bằng "bà ấy" theo cách nói sau đây:

"Tôi mua cái này cho má tôi, bà ấy thích lắm"

thì người miền Bắc thấy chói tai vì cho là kém thân-thương và thiếu lễ-độ.​​ 

Trái lại:

"Tôi mua cái này cho má tôi, bà (hay bà cụ) thích lắm".

thì lấy lại được vẻ thân-kính, trang-trọng hơn, nhất là khi nói:​​ 

"Tôi không bao giờ quên được hình-ảnh mẹ tôi lúc còn sinh-thời; cho đến nay lời Người dạy vẫn còn văng-vẳng bên tai"​​ thì đại-danh-từ Người - viết hoa - ở đây lại thực-sự nói lên niềm tôn-kính sâu-xa:

“Nuôi con khôn lớn nên người,

Mẹ cha khốn khổ cả đời lao-đao.

Ơn Người biển cả non cao,

Đạo con phải nhớ làm sao báo đền?”

(Đỗ Quang-Vinh,​​ Ca-Dao Đố Vui Học Tiếng Việt)

Nói​​ về người trên mình vào bậc tôn-kính mà dùng tiếng "ông ấy", "bà ấy" thì không ổn. Như

"Thưa bác Tư, ba con đi vắng. Con sẽ thưa với ba con có bác Tư lại thăm" thì vẫn lễ-độ hơn là:

"Thưa bác Tư, ba con đi vắng. Con sẽ nói với ông ấy là có bác Tư lại thăm".​​ 

*​​  Ðối với bậc vị-vọng như: Quốc-Trưởng, Giáo-Hoàng, Tăng-Thống, Giám-Mục, Linh-Mục, Hoà-Thượng, Thượng-Tọa v.v... tuy không thân song để tỏ lòng tôn-trọng chức-vị của nhân-vật, đại-danh-từ được dùng để chỉ-danh bằng "Ngài": "Chúng tôi được Quốc-Vương tiếp kiến, Ngài nhắn-nhủ rằng..." 

*  Cách xưng-hô quả là có phức-tạp, nói đúng hơn là rất tế-nhị, vì nó thể-hiện tâm hồn Việt-Nam, nói lên đặc-thù của văn-hóa Việt.

#  Con cái gọi cha mẹ là: bố mẹ, ba me, ba má, thầy u, thầy bu, thày mẹ, thày đẻ, tía bầm, cậu mợ v.v... Hai tiếng "cậu, mợ" rất thông-dụng trong giới thị-thành miền Bắc. Vợ chồng gọi nhau là cậu mợ, con cái gọi bố mẹ cũng là cậu mợ, mẹ chồng gọi con trai, con dâu cũng cậu mợ. Ta hãy nghe bà Án, mẹ chồng hụt của cô Mai trong "Nửa Chừng Xuân":

"...Mai hai má đỏ bừng, đầu nóng như sốt, ngồi im không đáp. Bà Án lại hỏi:

‘Mợ nên nghĩ đến cậu ấy, trong sáu năm nay không một phút nào là không nhớ thương mợ.’

Mai giận đến cực-điểm, rồi không nhịn được nữa:

“Tôi xin cụ đừng gọi tôi là mợ. Tôi không phải, tôi không còn là con dâu cụ, mà cũng không bao giờ cụ thèm nhận tôi là con dâu cụ, cụ nhớ điều ấy cho. Vậy cụ cứ dùng chữ cô cũng đủ lắm rồi’."​​ (Khái-Hưng,​​ Nửa Chừng Xuân, trang 264)

Ngày xưa còn chế-độ tập-ấm, vua phong cho con các đại-thần là ấm-sinh,​​ ấm-tử được hưởng một số đặc-quyền. Vì thế người ngoài gọi là các "cậu ấm", gọi vợ cậu là mợ. Con cái cũng theo gia-nhân gọi bố mẹ là cậu mợ, rồi vợ chồng cũng quen miệng gọi nhau là cậu mợ luôn, lâu dần hai tiếng này phổ-biến trong các gia-đình quyền-quý​​ nhất là ở giới thị-thành.

#  Tại một vài vùng miệt Hậu Giang, người thanh-niên tỏ tình với người yêu gọi "bậu" xưng "qua".

“Trách mẹ, trách cha, qua không trách bậu,

Cha mẹ bậu tham giàu, gả bậu đi xa.

#  Trong một vở thoại-kịch của đoàn Vũ-Hân hồi thập-niên 1960, một cảnh có màu sắc thật dân-tộc nổi bật khi anh chồng theo học ở tỉnh về, quần áo tây, thắt cà-vạt, chị vợ nhà quê được cưới gả từ lúc chàng còn hàn-vi ở quê nhà, chị hoảng-hốt kêu la khóc-lóc "Nhà ơi nhà! có điều gì không nên không phải thì nhà​​ nói ra, sao nhà lại thắt cổ tự-tử vậy?" ​​ Tiếng "nhà" ở đây trỏ người chồng, nói bằng giọng âu-yếm nhưng còn thấy ngại-ngùng không dám nói thẳng cái sự âu-yếm ra như hai tiếng "anh, em" hay "mình mình"​​ 

#  Trong ca-dao, trai gái tỏ tình với nhau, để che giấu bớt cái sự âu-yếm ấy, họ xưng-hô lấp-lửng:

“ Mẹ già như chuối chín cây,

Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu cùng?”

Hai tiếng "liệu", liệu trước là liệu việc nhân-duyên, liệu sau là liệu chung việc săn-sóc lo-lắng cho mẹ già, thêm vào cách xưng-hô "đây, đấy"​​ rõ là giọng thân yêu nhưng còn e-ấp ngượng-ngùng nên nói lấp-lửng trống không, e-ấp nên chẳng dám như ai kia nói thẳng ngay là "mình, mình" vì chưa chính-thức nên chồng, hay là "anh em" như đã dạn-dĩ bộc-trực tình yêu âu-yếm.

“Ví dù đấy có lòng yêu,

Bảo​​ đây gánh đá Đông-Triều cũng đi.”

hoặc:

“Thấy anh, em những mơ-màng,

Tưởng rằng đây đấy phượng-hoàng sánh đôi.”

#  Thúy-Kiều trình-bày hơn thiệt để khuyên giục Thúc-Sinh phải sớm dứt-khoát tính-toán tình-trạng "già nhân-ngãi non vợ chồng", mong sao được "trong ấm thì ngoài mới êm", chàng đã trả lời:

“Sinh rằng hay nói dè chừng,

Lòng đây, lòng đấy chưa từng hay sao?”

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Cái cách xưng-hô "qua, bậu, nhà, mình, đây, đấy" là cách nói lửng-lơ muốn diễn-tả sự âu-yếm mà lại không nói ra, bỏ lửng như ngập-ngừng e lệ. Nhưng càng lơ-lửng mập-mờ, lại càng cực-tả hết tình âu-yếm nồng-nàn. 

2- Về cách diễn-tả

Khi muốn diễn-tả một ý-nghĩ, một hành-động, một cảm-giác, một sự-kiện hay một nhận-xét, từ-ngữ cũng không phải nghèo-nàn. Những từ này có thể riêng-biệt khác hẳn nhau, cũng có thể là do ghép thêm vào một tiếng đệm hay một vài thuộc-từ khác thành những tiếng ghép đôi, ghép ba trở nên những thành-ngữ. Tất cả cùng diễn-tả một chủ-điểm song mỗi từ-ngữ là mỗi ghi nhận tinh-tế các chi-tiết và các trường-hợp khác nhau. 

a. Những tiếng riêng biệt khác nhau.

 * Cũng chỉ là một động từ "Porter" để tả động-tác "mang", theo Pháp-ngữ, tiếng Việt có biết bao nhiêu cách nói để phân-biệt tỉ-mỉ những cách "mang" khác nhau: đem, vác, xách, cắp, bưng, bê, quẩy,​​ gánh, khiêng, đội:

“Lao-xao gà gáy rạng ngày,

Vai vác cái cày, tay dắt con trâu,

Bước chân xuống cánh đồng sâu,

Mắt nhắm, mắt mở, đuổi trâu ra đồng.

Ai ơi, bưng bát cơm đầy!

Nhớ công hôm sớm cấy cày cho chăng?”

"Mang" là nói chung-chung tổng-quát: mang trong người, mang trên vai:

“Vai mang túi bạc kè-kè,

Nói quấy, nói quá người nghe rầm-rầm.”

nhưng nếu nặng mang trên vai thì phải chỉ-định rõ hơn bằng động-từ "vác":

“Anh đi, em ở lại nhà,

Hai vai gánh vác mẹ già con thơ.”

Nếu "mang" hàm-ý​​ chuyển-dịch từ nơi này tới nơi khác thì việc mang theo như vậy được chỉ rõ bằng động-từ "đem":

“Ai đem con sáo sang sông,

Để cho con sáo sổ lồng, sáo bay?”

Cầm một tay mà mang đi khác với kẹp bên hông bên sườn, cho nên "xách" khác với "cắp"

“Chổi cùn cắp nách khăng-khăng,

Hễ ai hỏi đến thì văng ngàn vàng.”

 

Mang bằng hai tay gọi là "bê". Nhưng nếu bê một cách cẩn-trọng thì gọi là “bưng”. Bê thì hai tay đỡ thấp, mà bưng thì nâng cao trước ngực như có vẻ trân-trọng giữ gìn:​​ 

“Nghĩa nhơn như bát nước đầy,

Bưng​​ đi mà đổ, hốt đầy được đâu!”

hoặc:

“Con đã bảo mẹ rằng: đừng!

Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.”

Dùng đòn như đòn gánh, đòn xóc, đòn càn mà mang trên vai ấy là gánh. Nhưng gánh cũng chỉ là nói chung-chung, như:

“Gánh vàng đi đổ Sông Ngô,

Đêm nằm mơ tưởng đì mò Sông Thương.”

Còn nếu nói quảy gánh, thì ý nghĩa được tượng-hình linh-động hơn, cho ta hình-dung ra cử-động ghé vai mà gánh, nhanh-nhẹn chuyển gánh lên vai mà nhẹ-nhàng cất bước, cho nên mới nói "quảy gánh lên vai":

“Buộc yên, quảy gánh vội-vàng,

Mối​​ sầu sẻ nửa, bước đường chia đôi.”

    (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Ấy là khi ở hai đầu đòn trước sau đều phải gánh; nếu sức nặng của vật mang theo chỉ trĩu ở một đầu - đầu sau của đòn - thì khi ấy gọi​​ là “gồng”. Cho nên nói "Kẻ gánh người gồng" là vậy. Chẳng hạn nói rằng: "Kẻ gánh người gồng tấp-nập tản-cư ra khỏi thành-phố". Khi nói: "các cô gái quê gánh-gồng ra chợ tỉnh", hình-ảnh "gánh-gồng vẽ ra cảnh đoàn người đòn gánh nặng trĩu, thoăn-thoắt trên đường xa, tay đong-đưa lên xuống đánh theo nhịp bước:

“Anh đi anh nhớ non Côi,

Nhớ sông Vị-Thuỷ, nhớ người tình chung,

Quản bao non nước ngại-ngùng,

Lấy ai san sẻ, gánh gồng đàng xa?”

Còn như mang trên đầu, lấy đầu mà đỡ, tiếng Việt dùng động-từ đội:

“Ba cô đội gạo lên chùa,

Một cô yến thắm bỏ bùa cho sư,…”

hoặc:​​ 

“Ngang lưng thì thắt bao vàng,

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài,

Một tay thì cắp hoả-mai,

Một tay cắp giáo quan sai xuống thuyền,

Thùng-thùng trống đánh ngũ liên,

Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.”​​ 

(Ca-Dao)

 

        * Ngôn-ngữ ấy phong-phú do óc nhận-xét tinh-tường.       ​​ 

#  Bởi vậy nhận-xét về màu sắc người ta phân-biệt mỗi màu đen mỗi khác, nên phải dùng những tiếng khác nhau mà chỉ-định: áo thâm, chó mực, ngựa ô, mèo mun, dầu hắc, gà ác, trâu đen, tất cả đều chỉ tả chung một màu đen mà riêng cho mỗi trường-hợp.

#  Tuy cùng là loài ăn cỏ nhai lại, song nếu bò non thì gọi là bê, trâu non gọi là nghé.

 #  Cũng là lấy thức ăn vào bát, nhưng phải nói múc canh, múc cháo, xới cơm. Khi thổi cơm, muốn cho cơm khỏi "trên sống dưới khê, tứ bề nhão nhoét" thì phải​​ ghế cơm, cơm chín rồi thì​​ xới cơm​​ ra, đắp thêm vào thì​​ đơm cơm​​ cho đầy bát, hay​​ đơm​​ đĩa rau sao cho không có ngọn. 

         *​​ Nếu ngôn-ngữ đã biểu-thị một nhận-xét tinh-tế thế nào thì khi bày tỏ một ý-nghĩ cũng phải làm sao diễn-tả cho rõ-ràng thế ấy. Cũng là phủ-định, song khi thì "không, khôn" lúc thì "chẳng, chả".

# "KHÔNG", mang tính-chất phủ-định khách-quan, nặng về bản-chất của một sự-kiện, hay của một khách-thể.

Không mua rượu, không phải là vì không có tiền nên mới không mua, Nguyễn-Khuyến có thơ rằng:

“Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua, không phải, không tiền, không mua”

Cái sự-kiện nó thế là như thế! Nó chỉ đơn-giản khách-quan ghi nhận một thực-tại, xác-định có sự hiện-hữu hay không? Sự-kiện là không bạn hiền và không mua rượu. Sự-kiện là bác-bỏ ngộ-nhận cho rằng vì nghèo không có tiền nên không có rượu uống. Sự-kiện xác-nhận rằng bởi không có bạn hiền nên không mua rượu ngon. Rõ-ràng chỉ có thế! Bản-chất của sự-kiện là "có" hay "không"? là xác-nhận hay phủ-nhận? Thấy thế nào, nghĩ ra sao thì nói ra cho thấy rõ sự việc nó như vậy, không chủ-động luận thêm cái ảnh-hưởng của nó biến-chuyển tới tâm-lý của chủ-thể như thế nào.

Cũng như muốn xác-nhận tình-trạng sức khỏe hiện ốm đau hay mạnh khỏe? Mạnh thì rằng có khỏe hay nói ngược lại là không ốm đau, Tú-Xương kể lại trong bài tự-trào "Mùa hè mặc áo bông" rằng:

“Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông,

Tưởng rằng ốm nặng hoá ra không.”

Giản-dị đó chỉ là​​ phủ-định một cách khách-quan​​ bác-bỏ ngộ-nhận cho rằng ốm nặng và xác-nhận rằng vẫn​​ khỏe mạnh, "không đau".

Khi nói "thuốc này không say" ấy là vì thuốc chất-lượng kém nên người sành điệu hút vào bảo rằng thuốc không say. Bản-chất của sự-vật, của khách-thể nó thế là như thế! Thuốc nhạt lắm, nên hút không say. Không phải riêng mình ta thấy​​ như vậy mà bất cứ ai sành điệu đều cùng nhận xét như thế. Nó tùy thuộc ở bản-chất của vật-thể, chứ không thay đổi theo lòng người, người hút chỉ mô-tả sự nghiệm-xét của mình: không say là tại thuốc nhạt, chứ không mở ra cái tâm-trạng của mình là thế nào như khi nói rằng: "Thuốc​​ không thể làm ta say", nói khác đi "khó làm cho ta say": không say là tại ta chứ không tại thuốc.

Tiếng "không" phủ-định trong bài ca-dao sau đây đã mô-tả, ký-sự thực chất của một sự-vật: của cây "không hoa mà có quả", cũng như​​ hiện-trạng của một sự-kiện: của việc "không chồng mà lại có con".​​ 

“Không hoa có quả mới kỳ,

Có hoa có quả, cây gì lại không?

Không chồng mà chửa mới ngoan,

Có chồng mà chửa, thế-gian sự thường.”

 ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​​​ #  Bởi vậy, "KHÔN" thì mang tính-chất​​ phủ-định chủ-quan, hàm-ý miễn-cưỡng, không thể được, thiên về tâm-lý của nhân-vật chủ-thể: tuy cũng muốn đấy mà không thể được, hoặc vì bản-chất của thực-tại ngăn không cho thực-hiện, hoặc vì do chính lòng mình xui nên. Trừu-tượng như: nỗi nhớ khôn nguôi, nỗi buồn khôn​​ xiết, niềm vui khôn tả, đau xót khôn lường, hoặc cụ-thể như trong thơ Yên-Ðổ:​​ 

“Ao sâu, nước cả, khôn chài cá,

Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.

Tất cả đều cho thấy: hoặc cái trạng-thái buồn vui, mong nhớ xót xa nó lớn-lao quá độ đến nỗi lòng người không lúc nào có thể khuây-khỏa, không tài nào kể ra cho xiết, tả hết nên lời hay đo lường đúng mức; hoặc cái bản-chất của ao sâu dâng nước lên mênh-mông đến nỗi không làm sao có thể thả vó buông chài. Ðây là có muốn mà cũng không thể nào muốn cho được.

Nước mắt cũng có bằng ấy thôi! Ai cũng có thể khóc được. Song khóc ít, khóc nhiều, lệ hoen rươm-rướm hay tuôn trào lã-chã là do ở lòng người có muốn hay không, do mức độ cảm-xúc của con người chứ không phải do nước mắt có nhiều hay ít. Một khi lòng đã sầu muộn ủ-dột​​ thì dù không muốn khóc cũng không thể ngăn rơi giòng lệ. Ðây là do tâm-tính của người nhạy cảm dễ nhớ, dễ thương, dễ mau nước mắt, cho nên Tú-Uyên trong Bích-Câu Kỳ-Ngộ mới

"Tình thơ lai láng, sóng Tương khôn hàn"

Dù cho bản-chất của sự-vật nên "Khôn chài​​ cá" hay dù tại lòng mình mà "sóng Tương khôn hàn" thì tiếng "khôn" diễn-ý phủ-định ở đây cũng​​ nhấn mạnh đến tâm-lý chủ-động của nhân-vật​​ so với tiếng "không".

  # Còn như "CHẲNG",​​ một khẳng-định của phủ-định, thì dung-hợp được cả "khôn" và "không". Người​​ hút có thể bảo rằng thuốc này nhạt lắm, chất-lượng kém hơn nên hút chẳng say (ấy là "không"), hoặc bảo rằng thuốc này đậm ngon như thế mà chẳng thể làm ta say, phải chăng vì lòng ta u-ẩn niềm nhớ cố-hương nên chẳng cảm thấy say (ấy là "khôn", là không thể). Mà thực vậy,

“Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.”

Thế nhưng, xa quê hương thì đã có thuốc lá thơm! Dù có hút thuốc điếu hay cho là có thuốc lào đi nữa, thì thuốc lào trồng nơi đất khách cũng chẳng thể sánh bằng thuốc lào Tiên-Lãng, Cái-Sắn mà mờ sáng thức dậy rít một hơi đã đủ để đê-mê choáng-váng. Thuốc ở đây phẩm-chất kém, không cao, không đậm-đà bằng, nên quả là không say. Thuốc lào ở quê nhà gửi sang, ngon đấy, thế mà cũng chẳng (thể) làm ta say!

Như sẽ đề-cập, nguyên tính nhạc không thôi của ngôn-ngữ Việt, tự nó cũng đã diễn-ý cho lời rất nhiều, cho nên "chẳng" với trầm-thượng-thanh nghe ra vẫn mạnh hơn, vừa có giọng khẳng-quyết, vừa có vẻ chán-chường, nó vừa khách-quan ghi nhận đặc-tính của sự-vật, vừa nhấn mạnh cái cảm-nghĩ tình-ý của người ghi nhận. Cho nên có thuốc, có trà đấy, mà kẻ lữ-thứ hoài-hương đành chép miệng:

"Thuốc điếu chẳng say, chát giọng trà!"

hay bâng-khuâng thở dài (nếu thay "chẳng" bằng tiếng khác)​​ 

"Thuốc điếu nào say, chát giọng trà!" (xem Phụ-lục II)

Bởi vậy:

“Cũng chẳng giầu mà cũng chẳng sang,

Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng-nhàng.”​​ 

(Nguyễn-Khuyến)​​ 

vẫn khác hẳn:

 

Cũng không giầu mà cũng không sang,

Không gầy, không béo, chỉ làng-nhàng.

 

hay như Truyện Kiều:

“Mà ta suốt một năm ròng,

Thế nào cũng​​ chẳng giấu xong được nào.”

vẫn mạnh hơn:​​ 

"...Rồi ra không thể giấu xong được nào"​​ 

hoặc:​​ 

"...Rồi ra khôn giấu cho xong được nào"

 

Ðúng thế, "không" thì kém quả-quyết hơn "chẳng": "chẳng có thì đừng", ý vẫn dứt-khoát hơn là: "không có thì thôi",​​ hoặc:​​ 

“Ta rằng ta chẳng có ghen,

Chồng ta, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi.”

"Chẳng" mà đi kèm theo với "nghiến, nghiền" thì nghĩa đã mạnh-mẽ, rắn-rỏi, lại thêm quyết-liệt hơn, tưởng chừng như đang nghiến răng mà nói.

      # Thế nhưng "CHẢ", thì lại nghe ra giọng nũng-nịu ngọt-ngào, vẻ chán-chường hờn giỗi, hay thở dài bâng-khuâng.

Em bé nũng-nịu với chị: "Em chả thèm đâu!". Chán-chường thất-vọng, bà mẹ than-thở: "Anh Hai con đi đã năm, sáu năm nay rồi, sao vẫn chả thấy tin-tức tăm-hơi!".

Cũng như "hổng" thay cho "không" ở miền Nam, "chả" là thổ-ngữ của miền Bắc thay cho "chẳng". Song giọng nói hạ dịu nhẹ-nhàng của "chả" khiến cho tình-ý diễn-tả nó không sống-sượng, thẳng đuỗn như giọng nói quyết-liệt của "chẳng".​​ 

Cho nên bà Án - mẹ Lộc - trong "Nửa Chừng Xuân", trước câu nói đốp-chát của cô Mai, con dâu bị bà ruồng-rẫy, bà đành dịu giọng "nhắc lại lời đã nói", mong vuốt được cơn "giận đến cực-điểm" của cô, bà nói:​​ 

 

“Mợ chả nên thế, một ngày là nghĩa!”

    (Nửa chừng Xuân, trang 264)

Cho nên nói rằng:​​ 

“Tiếc thay cái tấm lụa đào,

Áo rách​​ chẳng​​ vá, vá vào áo tơi!

Trời ơi! Có thấu chăng trời?

Lụa đào má vá áo tơi sao đành!”

thì "chẳng vá" so ra vẫn mạnh-mẽ và không tỏ được cái tiếc-nuối ra vẻ hờn giỗi, nhẹ trách bằng:

“Tiếc thay cái tấm lụa đào,

Áo rách​​ ch​​ vá, vá vào áo tơi!

Bởi vậy người vợ trong ca-dao đã hờn trách chồng bằng một giọng tràn đầy yêu thương tình-tứ:

“Đêm qua, đêm lạnh đêm lùng,

Đêm đắp áo cánh, đêm chung áo dài,

Bây giờ chàng đã nghe ai?

Áo cánh chả đắp, áo dài chả chung.”

 #  Nhân nói về​​ tiếng​​ "không",​​ tưởng cũng nên thêm rằng:​​ "không"​​ không phải chỉ là một phủ-định-từ mà còn là một vấn-từ nữa.​​ 

Phân-tích những câu sau đây mới thấy sự phong-phú tinh-tế trong cách dùng từ của người Việt-Nam.

Sao? Nó nói không?

Sao? Nó có nói không?

Sao? Nó​​ nói hả?

Thế nó chưa nói hả?

Nó không nói hả?

Nó sẽ nói hả?

Cũng là hỏi để yêu-cầu trả lời rằng có hay rằng không, hai câu đầu: hỏi khi chưa chắc-chắn lắm về việc xảy ra, những câu sau thay "không" bằng "hả" có thanh trắc dằn giọng hơn thì rõ ra cái​​ ý-nghĩa mạnh-mẽ hơn, như đã nắm chắc sự-kiện rồi song còn muốn xác-nhận lại để cho ý được xác-quyết hơn. Cho nên lúc thì hỏi "không?" lúc thì hỏi​​ "hả"​​ là vậy. Nói theo miệt Vườn Nam-Bộ thì cách hỏi trên có vẻ như hỏi lông-bông mà cách hỏi dưới là​​ hỏi giựt​​ một.​​ Ngay như hỏi "không" thôi, ý cũng phần nào kém hơn hỏi​​ "có...không". Thêm tiếng có với thanh trắc thì nhấn thêm giọng nói cho mạnh, đưa thêm ý muốn biết cho được rõ-ràng hơn so với chỉ hỏi trỏng "không" thôi, vì tiếng "không" bình-thanh làm cho câu hỏi nghe ra nhẹ-nhàng. Cũng giống như trong câu xác-định nếu viết rằng "nó nói" thì ý vẫn không xác-quyết bằng "nó có nói". Tiếng có thêm vào làm chức năng như trợ-động-từ "to do" trong Anh-ngữ vậy.

          b- Những tiếng ghép thêm tiếng đệm hay thuộc-từ

*  Cũng là​​ "lạnh"​​ song để giảm mức độ lạnh thì nói "lành-lạnh". Tùy theo mức độ gia-tăng và mỗi cảm-giác của lạnh gây nên, người ta nói: lạnh-lùng, lạnh ngắt, lạnh giá, lạnh buốt, lạnh cóng. Những từ này vừa ghi nhận cái lạnh của thiên-nhiên bên ngoài theo​​ nghĩa hẹp vừa để tả cái tình-cảm, nỗi lòng bên trong theo nghĩa rộng.​​ 

Thế nhưng nói rằng: "ông ấy có thái-độ lạnh-lùng" thì lại khác với "anh em nhà ấy ghẻ lạnh". Tuy cùng diễn-tả sự kém nhiệt-tình theo nghĩa bóng nhưng hai thái-độ khác hẳn nhau, thái-dộ​​ lạnh-lùng nhìn theo một khía cạnh tiêu-cực là thờ-ơ, không thắm-thiết, không vồn-vã, là dửng-dưng không chút xúc-động; nhưng ghẻ lạnh thì có vẻ tích-cực hơn, hàm-ý bất-hòa xa cách, ghét bỏ không ưa, âm-ỷ sẵn cái mầm chia rẽ dễ đưa đến xích-mích đổ vỡ.​​ 

Ðến như "lạnh tanh" thì không phải chỉ tả khung cảnh lặng-lẽ "vắng tanh" mà còn muốn nhấn mạnh đến hậu quả của trống vắng là "lạnh-lẽo", nó khác hẳn với "lạnh ngắt" chỉ tả mức độ và cảm-giác của lạnh chứ không tả cảnh-tượng gây ra cảm-giác ấy:

Ví dụ như”

“Trải vách quế, gió vàng hiu-hắt,

 ​​ ​​ ​​​​ Mảnh vũ-y lạnh ngắt như đồng”

  (Cung Oán Ngâm Khúc)

So với:

“Ngó lên nhang tắt đèn thờ,

Mẫu-thân đâu vắng, bàn thờ lạnh tanh.”

*​​ Ghi lại một sự-kiện, chẳng hạn nói về sự chết, nhưng lại diễn-tả nhiều cách khác nhau:

“Yêu​​ anh cốt rã xương mòn,

Yêu anh đến thác cũng còn yêu anh.”

Người ta cố né tránh dùng động-từ "chết", nghe ra như có vẻ phũ-phàng. Người ta lựa lời nhẹ-nhàng xa-xôi mà bày tỏ như cuộc đối thoại sau đây:

  • “Bố con mất rồi!

  • Ông qua đời hồi nào? Tôi đâu có hay.

  • Dạ, cũng được hai tháng, bố con đi nhẹ-nhàng lắm.”

Bày tỏ lòng tiếc thương với người thân yêu "lìa đời", người ta cầu chúc cho linh-hồn người quá-cố được an giấc ngàn thu hay tiêu-du tiên-cảnh. Vĩnh-biệt người chết, vừa như an-ủi tang-quyến, vừa như nói với người đã nằm xuống, người ta cất tiếng: "Cụ ngủ ngon quá, giấc ngủ của cụ thanh-thản êm-đềm". Trong đám tang tiễn đưa, người ta nghe tiếng khóc "ông ơi, sao ông vội trốn tôi, ông bỏ đi". Ðã có lần, người viết cho dầu đang thổn-thức trong tiếng khóc thầm​​ trước linh-cửu thân-phụ, cũng đã phải khựng lại chú ý khi nghe bà bác vừa tuổi xấp-xỉ gần đất xa trời cất tiếng khóc rằng: "cậu tệ lắm, sao cậu lại ăn vụng, ăn tranh phần tôi?".

Tùy người, tùy cảnh tùy mỗi tình-huống, tất cả những từ-ngữ, những lối diễn-tả​​ trên xung-quanh có một cái chết, chứng tỏ tiếng Việt thật uyển-chuyển phong-phú vô-cùng.​​ 

*  Cũng là mô-tả kiểu ngồi, ghép thêm một vài tiếng thuộc-từ, ta có ngồi xổm, ngồi bó gối, ngồi duỗi chân, ngồi xếp bằng tròn, ngồi chống nạnh, ngồi bắt chân chữ ngũ​​ (ngồi bắt chéo) v.v... Sau này thêm tiếng lóng "ngồi nước lụt" để chỉ ngồi xổm. Cách ngồi thì có ngồi vắt-vẻo, ngồi nghễu-nghện, ngồi ngất-nghểu, ngồi nhấp-nhổm, ngồi bảnh-chọe, ngồi một đống...

  “Ai bảo chăn trâu là khổ?

Chăn trâu sướng lắm chứ!

Đầu​​ đội nón mê như lọng che,

Tay cầm cành tre như roi ngựa,​​ 

Ngồi ngất-nghểu trên mình trâu…”

   (Quốc-Văn Giáo-Khoa-thư)

 

hoặc như Tú Xương trong bài “Cái Học Nhà Nho”:

 

“Cô hàng bán sách lim-dim ngủ,

Thầy khóa tư-lương nhấp-nhổm ngồi.”

hay như Nguyễn Khuyến​​ nói trong bài  “Ông Tiến-Sĩ giấy”:

“Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh-choẹ,

Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi.”

     *  Diễn-tả một cảm-nghĩ hay một nhận-xét, cũng một tiếng "Rối" ghép thêm những tiếng đệm vào, từ đó sinh-sôi nẩy-nở ra biết bao nhiêu tiếng khác, mỗi tiếng áp-dụng cho mỗi tình, mỗi cảnh, ví dụ câu nói sau đây:

"Trong khi họ reo mừng rối-rít, thì lòng mình​​ bối-rối​​ lo-âu, toàn là những chuyện​​ rối-ren​​ đau đầu nhức óc. Càng nghĩ càng thêm​​ rối-rắm​​ chẳng có lối ra. Ðã vậy, ngoài xã-hội thì​​ rối loạn​​ đảo-điên. Chuyện mình, chuyện đời, chuyện nhà, chuyện cửa cứ​​ rối lên​​ như mớ bòng-bong. Lòng dạ thật​​ rối​​ như tơ vò".

Cho nên có người bảo: "Tiếng Việt rắc-rối". Nói như vậy chưa đúng hẳn. Chỉ gọi là rắc-rối khi nó gợi cho ta cái cảm-giác khó chịu không vui vì đối-tượng vốn khôn-lường, khôn thấu: "Con người ấy rắc-rối khó hiểu, chẳng biết đâu mà lường". Cũng như nàng Kiều khi "thấm đòn" Hoạn Thư mới vỡ lẽ con người này thật là "nham-hiểm rắc-rối" vì:

“Chước đâu có chước lạ đời?

Người đâu mà lại có người tinh ma?

Rõ-ràng thật lứa đôi ta,

Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.”

Bởi vậy, nàng mới:

“Càng trông mặt càng ngẩn-ngơ,

Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.” 

Tiếng Việt quả là có nhiêu-khê phức tạp. Song chính cái nhiêu-khê ấy lại phản-ánh một tập-tục, thể-hiện một nếp sống với những lễ-nghi gia-giáo kiểu-cách cổ-truyền. Chính cái phức-tạp ấy lại nói lên óc tinh-tế của người Việt trong cách nhận-xét và diễn-tả của mình, quen để ý và phân-biệt từng chi-tiết của cuộc sống. Chính​​ cái nhiêu-khê phức-tạp ấy đã làm giàu cho ngôn-ngữ Việt-Nam, biểu-hiện trọn vẹn nhân-sinh-quan và vũ-trụ-quan, nói lên hết tình-tự dân-tộc. 

II- Kiểu nói lái

Kho từ-ngữ phong-phú ấy còn được bổ-sung bằng một từ-hoa đặc-biệt: kiểu nói lái. Nói lái là nói ngược lại, đảo lộn thứ tự trước sau của mỗi từ và​​ lấy dấu của từ này ráp đổi với dấu của từ kia, hoặc lấy phụ-âm đầu của từ này đổi với phụ-âm đầu của từ kia, để ghép thành một tiếng mới vẫn có ý-nghĩa tuy nghĩa đã đổi khác. Ðây là một cách hài-hước phản-ánh tính hiếu-kỳ thích tìm-tòi, ưa đố vui của người Việt-Nam. 

1- Về cách nói lái liên-quan tới Hán-tự

* Giai-thoại về Trạng còn kể lại chuyện món ăn "Ðại-Phong" dâng lên chúa Trịnh, để răn Chúa một bài học cần biết cảm-th ông với nỗi khổ của dân cũng như để hiểu cái tâm-lý thế nào là ăn ngon, mặc dầu​​ nhà Chúa lúc nào cũng đầy-đủ cao-lương mỹ-vị đến sinh ra bệnh chán ăn kinh-niên. Sau khi để Chúa đói quá vì chờ mãi món ăn "mầm đá" do Trạng định thết Chúa, Chúa đành chấp-nhận ăn cho đỡ đói một bữa ăn không cần thịnh-soạn, Chúa đòi được ăn xuềnh-xoàng như​​ Trạng vẫn thường ăn. Ăn lấy ăn để, gật-gù tấm-tắc khen ngon, Chúa hỏi :

- Nhà ngươi cho ta ăn thức gì mà ngon quá vậy?

- Bẩm Chúa, đây là món đại-phong.

- Thế là thế nào?

- Thưa, đại-phong là gió lớn. Gió lớn thì đổ đình đổ chùa, sư sãi bỏ chạy,​​ tượng cũng phải lo. Mà tượng lo là lọ tương ạ.

 

Thì ra đây là món rau muống chấm tương và tượng lo đọc lái hai tiếng lọ tương. Cả hai đều có nghĩa.

 

 *​​ Ngày nay các tay nhậu vẫn ưa cái món thú nhất trên đời, gọi nó là "mộc tồn". Theo nghĩa chữ Hán, mộc tồn​​ là cây còn. Cây còn nói lái lại là con cầy tức con chó, món ăn mà họ vẫn thường nói:​​ 

“Sống trên đời đánh miếng dồi chó,

Xuống âm-phủ biết có hay không?”

 

 * Cuối thập niên 40, tại miền Tây Nam việt, Đốc-phủ Nguyễn văn Tâm, quận trưởng quận Cai Lậy, nổi tiếng tàn bạo, bị thiên-hạ gọi là “Hùm Xám Cai Lậy”, được Pháp tin dùng, sau làm thủ tướng thời chính quyền Bảo-Đại. Giai-thọai kể rằng khi Nguyễn văn Tâm ra kinh lý ngoài Bắc, nhân sĩ Bắc Hà mừng Tâm bức hoành phi đề 4 đại-tự “Đại Điểm Quần Thần”, ý nghĩa​​ ca tụng ông thủ tướng là một quan to, thành-phần ưu-tú bậc nhất (Đại Điểm) đứng đầu trong hàng các triều-thần (Quần-Thần). Dịch nghĩa chữ Hán thì Đại là​​ Lớn, Điểm là một​​ Chấm, có nghĩa là​​ Chấm To,​​ nói lái là​​ Chó Tâm, còn quần-thần có nghĩa là​​ Bầy Tôi​​ trong​​ triều, nói lái là​​ Bồi Tây,​​ bức hoành phi đại tự hàm ý xỏ xiên chửi xéo Nguyễn Văn Tâm:​​ Chó Tâm là Bồi Tây.​​ 

 * Vùng Hà Đông, có ông Chánh Tổng tại chức mãi mà không chịu lui về, nhường chỗ cho người khác, viên Phó tổng bèn nhờ người tặng ông Chánh Tổng ba​​ chữ​​ “Tư vô tà”.​​ Hiểu theo Kinh Thi thì “Tư vô tà” chính là đạo người quân tử giữ tâm trong sạch​​ (sách Luận Ngữ có câu: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: "tư vô tà" nghĩa là Thi có ba trăm thiên, nhưng chỉ một lời có thể thâu tóm được tất cả là: không nghĩ bậy.)​​ Chánh tổng được tặng chữ thích lắm, cứ treo mãi trong nhà cho đến lúc có người cắt nghĩa:​​ “Tư vô tà” chính là “Ta vô từ”,​​ nghĩa là “Ta không chịu từ chức”, ý mắng cụ Chánh Tổng tham quyền cố vị, cố đấm ăn xôi không nhường chức Chánh tổng cho​​ người khác. ​​ 

* Năm Tự Đức thứ​​ 26 (1873),​​ Ông Ích Khiêm được cất nhắc vào chức Tiễu Phủ Sứ, vâng lệnh vua cầm quân ra ​​ Bắc dẹp giặc Lý Dương Tài ở Hồ Ba Bể. Xuất phát từ Thái Nguyên lên tới nơi phỉ đóng quân phải mất hơn 10 ngày. Ông dẫn quân trèo lên​​ ba đỉnh núi mà bọn phỉ đóng ở dưới chân núi. Nửa đêm, ông cho quân buộc dây từ đỉnh núi tụt xuống, lệnh cho 4 chiếc thanh la cùng gõ, rồi 80 quân đột nhập vào doanh trại giặc khi chúng đang ngủ, chém giết trên một ngàn quân phỉ kể cả tên tướng giặc Lý Dương Tài. Trở về, ngang qua Hà thành, ông sai lập một ngôi đền để tưởng​​ niệm tử-sĩ. Ông cử phó tướng đến nhà cụ Yên Đổ xin chữ để ông đề ngoài cổng đền. Phó tướng không có thói quen trọng văn-nhân. Đến nhà cụ Yên Đổ, phó tướng cao giọng: “Tiễu Phủ Sứ muốn nhờ ​​​​ ông viết cho mấy chữ để an-ủi vong-linh quân lính của tôi”. Thấy thái-độ chướng tai gai mắt, Cụ cho ba chữ​​ “Tối Linh Từ”.​​ Phó tướng cầm lấy, nghệt mặt ra nghĩ: sao cụ lại cho ba chữ tầm thường thế. Năn-nỉ mãi, cụ mới bảo:​​ “Tối Linh Từ, tức là lính tôi chết. Tối linh, nghĩa lính tôi”. ​​ 

*​​ Giai thoại kể rằng: có một ông kia vốn làm nghề lái lợn, làm ăn phát-đạt thành đại phú-hộ, bèn cậy người đến xin quan tỉnh là bậc đại-khoa, ban cho mấy chữ để treo trong nhà cho sang trọng. Nể lời, quan tỉnh đồng ý viết cho ba chữ​​ “Phúc Đại Lai”.​​ Ông ta khoái chí mừng thầm rằng quan chúc cho mình đại-phúc. Ít lâu sau, có người đến nhà đại phú-hộ chơi, xem thấy mà phì cười. Đại phú-hộ thắc mắc, người này mới trả lời: “Phúc, nghĩa là tên của ông. Đại lai, nghĩa là lớn lại.​​ Phúc lớn lại” là “Phúc lái lợn”​​ chứ còn gì nữa mà ông tự hào.”

  ​​ ​​​​ * Riễu quan thị (hoạn-quan) là kẻ nịnh thần, Trạng Quỳnh đọc cho ông nghe câu văn trong sách:​​ “Ngã tư thế sự. Tư viết: tả, tô, chấn tân thịnh nền, giai khống, xái châu”. Quan thị ngơ-ngác​​ không hiểu, Trạng mới cắt nghĩa:​​ “Ngã tư thế sự“​​ là ta nghĩ về sự đời, “tư viết” là nghĩ rằng,​​ “tả, tô, chấn”​​ là mình phải tả ra, phải tô điểm, phải làm cho hưng chấn thêm,​​ “tân thịnh nền”​​ là cái nền thịnh trị tân tiến, còn​​ “giai khống”​​ là đẹp-đẽ vô cùng (Không / khống / khổng  ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​​​ vừa có nghĩa là trống rỗng, không có gì, vừa có nghĩa là cao rộng to lớn  ​​ ​​ ​​​​ ),“xái châu”​​ là ngọc ngà châu báu cũng không sánh kịp. Quan thị tâu với nhà Chúa lời giải thích. Trạng được Chúa khen thưởng. Quan thị​​ đến nhà kể công với Trạng, nhờ y mà nhà Chúa ban thưởng cho Trạng. Trạng cười khẩy bảo: Câu trong sách ấy không phải tặng cho nhà Chúa đâu, mà tặng cho ngài quan thị đấy, rồi Trạng giải thích:​​ “ngã tư thế sự”​​ là tao nghĩ ​​ về cái trò đời,​​ “tư viết”​​ là nghĩ​​ rằng,​​ “tả tô chấn”​​ là tổ cha hắn,​​ tân thịnh nền”​​ là tên nịnh thần, “giai khống” là không giái,​​ “xái châu”​​ là xấu chơi. Kết luận là: tao ngẫm nghĩ cái​​ trò đời mà thấy nực cười, “tổ cha hắn, tên nịnh thần không giái xấu chơi”

2- Về cách nói lái thuần nôm.

*​​  Vẫn món mộc tồn, thay vì nói giết chó hay rủ nhau đánh đụng cầy tơ, họ nói lái  là "hạ cờ tây", tức hạ cầy tơ .​​ 

*  Ðược hỏi về tửu-lượng, tay nhậu vui-vẻ cười hằng-hặc: "ít lắm, chỉ mới lai rai có ít ly thôi", ít ly đây là "y lít" nói lái lại: uống đúng y một lít. Thế mà là ít ly thôi!! Câu nói lái trở nên câu nói khôi-hài.​​ 

* Trêu ghẹo công-chúa đi ngang, Trạng Quỳnh đứng bên vệ ao, cứ lấy chân đá bèo trôi. Thấy vậy, công chúa dừng lại hỏi. Trạng nói: “Hôm nay nắng cực, nên ra đây đá bèo”, ý muốn riễu công-chúa qua cách nói lái hai tiếng nắng cực và đá bèo.

 

* Nhà văn Nguyễn Bá-Triệu kể rằng: Trên báo Ngày Nay hồi thập niên 30, đùa một nữ sĩ có tên là Ngọc Hồ, nhà thơ Tú Mỡ trào-phúng nói lái trong câu đối tục sau đây:

 

 “Hồ tù ngán nỗi con​​ rồng​​ lộn,

 Ngọc vết thương tình kẻ​​ cố đeo.”

*  Ðể riễu các "lãnh-tụ" người ta nói "tủ lạnh" (miền Nam đọc sai dấu ngã thành dấu hỏi: lảnh-tụ)

 * Sau 30-4-1975, trong chính-sách "lùi một tiến hai", "đánh xoa, đả vuốt" để xoa vuốt bằng các chiến-dịch sửa sai​​ đổi mới, người dân được khuyến-khích phải tranh-đấu, họ đã mỉa-mai trả lời "Ðấu-tranh! Lại nữa! Chị “Nguyễn Y Vân” hoặc lại ông Vũ ​​ như ​​ Cẩn! nói lái là “vẫn y nguyên” và “vẫn như cũ”. (Cẫn, người miền Nam thường phát-âm không đúng giọng, đọc trại thanh "ngã" thành "hỏi", nên chính-tả sai là Cẩn, Nguyễn Y Vân là vẫn y nguyên) vì "đấu-tranh" thì nguy-hiểm lắm: "tránh đâu" khỏi bị trù-dập, vả rồi rốt cuộc cũng lại "vẩn như cũ" mà thôi”. Và người dân mới hài-hước rằng: đấu tranh là đánh trâu, nhưng đánh trâu,​​ rủi bị trâu đánh thì biết tránh đâu.

*​​  Sau đây là một cuộc đối-thoại ngắn:

  • “Sao? Hồ-sơ của bác tới đâu rồi?

  • Chưa nếp tẻ gì cả! Chưa qua được thủ-tục​​ đầu tiên. Căng lắm!

  • Căng cái con phải gió! Còn thủ-tục gì nữa! Đã đổi mới tư-duy rồi mà!

  • Đấy chính là tin​​ đồn của ông​​ Vũ Như Cẩn!

*​​  Thủ-tục​​ "đầu tiên"​​ chính là nói lái hai tiếng​​ "tiền đâu". Ðấy là cách châm-biếm lối tham-ô của cán-bộ nhà nước mọi việc muốn cho qua, trước hết phải có tiền để đáp-ứng được câu hỏi "đầu tiên" là "tiền đâu?". Thủ-tục đầu tiên hay​​ thủ-tục "tiền đâu?" cả hai đều có ý-nghĩa, sử-dụng nói lái ở đây thật đắc-vị.

*​​  Cũng như họ đã phân-biệt cán-bộ bảng đỏ sao vàng để ám-chỉ loại đảng-viên đã​​ "bỏ đảng"​​ để chạy theo​​ "sang giàu". (Hai tiếng sao vàng, người miền Nam đọc trại âm au thành ao, r​​ đọc là d, gi nên sao vàng là sau giàng tức sang giàu) bởi vì “con đường​​ Bác đi, ôi​​ bi đát”, hoặc nói đập lột để mỉa-mai hai tiếng độc-lập. Ai cũng biết nói lái. Trẻ em cũng rành nói lái. Nói lái để trào-phúng mỉa-mai. Những tiếng lộng kiếng, bộ-đội, vĩ-đại, giải-phóng vốn có nghĩa nghiêm-túc của nó lại được nói bằng giọng châm-biếm theo ý nghĩa nói lái, người vô-tình sơ-ý nghe câu chuyện sẽ ngơ-ngác ngỡ-ngàng nếu không chú-ý tới giọng nói điệu văn.

*  Sau ngày 30-4-1975, tại Sàigòn, đời sống trở nên cơ-cực​​ thiếu-thốn, trẻ em đã thực-hiện luôn khẩu-hiệu "sạch nhà sạch phố" sinh ra cái tật "chà đồ nhôm", ấy là "chôm đồ nhà" lén đem bán ve chai.

  * hoặc như bài thơ sau đây, hẳn do các thầy giáo, kỹ sư làm ra để mỉa mai cảnh đổi đời:

 

Kỹ-sư nay trở thành cư-sĩ

Thầy giáo nay cũng phải tháo giầy.

Giáo chức giờ cũng đành dứt cháo,

Quen khoái ăn sang nay sáng ăn khoai.

 

 * hoặc như một bài thơ, có lẽ xuất phát từ miền Nam, vì vần​​ iêng​​ người miền Nam đọc trại thành​​ iên, ang​​ thành​​ an,​​ đã truyền miệng mỉa-mai​​ rằng:

 

Chú phỉnh​​ tôi rồi​​ chính phủ​​ ơi!

Chú khiêng​​ đi mất​​ chiến khu​​ rồi!

Thi đua​​ sao cứ​​ thua đi​​ mãi?

Kháng chiến​​ như vầy​​ khiến chán​​ thôi!”

*  Lối nói lái này vốn là một tập-quán. Cho nên ngay từ xưa văn-chương bình-dân đã tận-dụng lối nói lái như một​​ cách chơi chữ, tạo nên vẻ đẹp cho tiếng Việt.

“Con​​ cá đối​​ nằm trên​​ cối đá,

Con chim​​ đa-đa​​ đậu nhánh​​ đa-đa.

Anh khuyên em đi lấy chồng xa,

Nữa mai sau cha yếu, mẹ già,

Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ-trà ai bưng?

(ca-dao)

*  Ðặc-biệt những khi diễn-tả lời thanh ý tục, nói lái rất đắc-dụng với các nhà thơ cổ.​​ 

Hồ-Xuân-Hương đến chùa Quán-Sứ Hà-Nội, tức-cảnh đề thơ:

“Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo?

Hỏi thăm sư cụ​​ đáo nơi neo?

Chầy kình tiểu để suông không đấm,

Tràng hạt vãi lần​​ đếm lại đeo….”

 

và trước "Quán Khách vào Thanh-Hóa", bà cũng đề thơ vịnh cảnh rồi kết-luận:​​ 

  “Thú vui quên cả niềm lo cũ,

Kìa cái diều ai nó​​ lộn lèo!​​ 

 

Đề Hang Cắc-Cớ, bà khen:

 

“Giọt nước hữu tình rơi lõm-bõm,

Con đường vô ngạn tối om om

Khen ai​​ đẽo đá​​ tài xuyên tạc,

Khéo hớ-hênh ra lắm kẻ​​ dòm”

 

Vịnh cái quạt, bà kết thúc bằng hai câu:

“Nâng-niu ướm hỏi người trong trướng,

Phì-phạch trong lòng đã​​ chán chưa?

 

Chán chưa​​ nói ngược lại thành​​ chưa chán, mà nói lái lại thành​​ chứa chan, chan chứa, cách nào cũng có nghĩa cả.

Truyện kể rằng: Chiêu Hổ đến thăm, thấy trên dây phơi có nhiều quần áo đàn bà, nên ngại-ngần bước qua, Hồ Xuân hương liền ra vế đối:

 

“Tàn vàng, tán tía che đầu nhau đỡ khi​​ nắng cực

 

Chiêu Hổ thấy ở đầu sân có chiếc thuyền nan, bèn đối lại:

 

“Thuyền rồng, mũi phượng, rẽ sóng ra​​ khơi há​​ lộn lèo​​ “

 

Vào chùa Bà-Ðanh, Cống-Quỳnh đề thơ:​​ (*)​​ 

 

“Khen ai​​ đẽo đá​​ tạc nên mày!

 Khéo đứng​​ chi mà đứng mãi đây?

 Trên cổ​​ đếm đeo​​ dăm chuỗi hạt,

 Dưới chân​​ đứng chéo​​ một đôi giầy.”

Lối nói lái này, không những tạo thêm được từ-ngữ mới mà​​ cái ẩn-ý sâu sắc hàm-súc trong ngôn-từ quả đã làm nổi bật nét đặc-thù của tiếng Việt.

.......................................................................................................................

​​ (*)​​ Cước-chú:​​ Chùa Bà Ðanh còn gọi là Bảo-Sơn-Tự​​ như tên đề trước tam-quan, toạ-lạc tại nơi hẻo-lánh, thường có cọp qua lại, cách huyện Kim-Bảng, tỉnh Hà-Nam chừng hai cây số, nên tục-ngữ có câu: Vắng như chùa Bà Ðanh.​​ 

…………………………………………………………………………………………….

III- Những tiếng khác nhau giữa các miền

Ngoài những tiếng khác nhau do âm giọng biến-đổi theo phong-thổ như sẽ đề-cập, mỗi miền vì tập-tục và sinh-hoạt đã có những từ-ngữ, thành-ngữ và đặc-từ khác nhau, điều này khiến cho kho từ-ngữ Việt vốn đã dồi-dào lại càng thêm phong-phú.​​ 

Dĩ-nhiên những tiếng khác nhau này dùng để chỉ-danh những sự-vật chỉ riêng miền này có mà miền kia lại không như cây vú sữa, trái sầu-riêng ở miền Nam, hoặc cây soan, cây ruối, bụi găng ở miền Bắc. Ðây là tên gọi những đặc-sản nổi tiếng của mỗi miền.​​ 

Chẳng hạn ở miền Nam​​ có cá nhồng, cá buôi, cá chốt như ca-dao vẫn thường hát:

“Chi ngon bằng gỏi cá nhồng?

Chi vui bằng được tin chồng vinh-quy?”

hay:​​ 

“Ba tiền một khứa cá buôi,

Cũng mua cho đặng mà nuôi mẹ già.”​​ 

“Bạc-Liêu là xứ quê mùa,

Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều-Châu.”

 

Còn miền Bắc thì có con ruốc, con rươi:

“Tháng chín ăn rươi,

Tháng mười ăn ruốc”

 

Từ đó mới có tục-ngữ: "Kẻ ăn rươi, người chịu bão".

Ở đây chỉ nhấn mạnh đến những thổ-ngữ của mỗi miền. Ðó là những tiếng đồng-âm song mỗi miền chỉ mỗi ý khác nhau hoặc những tiếng tương-ứng song lại dị-biệt không trùng lẫn với những tiếng khác và đặc-biệt là những đặc-từ, thành-ngữ riêng, phản-ánh đời sống và tâm-hồn của người dân mỗi miền. 

1- Những tiếng đồng-âm song mỗi miền mỗi ý khác​​ 

*  Bông: miền Nam gọi là bông​​ trong khi miền Bắc gọi là hoa. Miền Nam gọi là bông gòn trong khi miền Bắc gọi là bông hay bông vải.​​ 

      *  Cây bạc-hà: để chỉ cây rau dọc mùng ở miền Bắc, miền này gọi cây bạc-hà là một loại rau húng mùi hắc không ăn như húng giũi, húng láng,​​ thường dùng làm thang thuốc giải cảm hoặc cất lấy tinh-dầu để chế thành dầu gió như dầu bạc-hà (essence de menthe). Miền Trung gọi là cây chột nưa.​​ 

 *​​  Người miền Nam gọi là hòm, người miền Bắc gọi là cỗ quan-tài, và chỉ dùng tiếng hòm để chỉ danh cái rương của người miền Nam.​​ 

*  Quả roi của miền Bắc, người miền Nam gọi là trái mận, trong khi trái mận của miền Bắc người miền Nam cũng gọi là mận và thường khi gọi là mận Ðà-lạt.

2- Những tiếng tương-ứng song hoàn-toàn dị-biệt không trùng với những tiếng khác

Miền Bắc

Miền Nam

Căn nhà

Căn phố

Sang một căn nhà

Tửng một căn phố

Cái bát

Cái chén

Cái cốc

Cái ly

Bàn là

Bàn ủi

Hào bạc

cắc bạc

quả na

Trái mảng cầu

một vốc cơm

một vụm cơm

giả vờ

giả đò

nổi cáu

nổi quạu (quạo)

rán

chiên

Trú mưa

đụt mưa

được

đặng

xấu hổ

mắc cỡ

nhảy cẫng lên

nhảy đổng lên

Nói phét, nói khoác, phét lác

Nói dóc, nói xạo, ba xạo, xạo đế

Khoác lác

Dóc tổ

Đi một mạch

Đi một lèo, một nước

được

đặng

xấu hổ

mắc cỡ

nhảy cẫng lên

nhảy đổng lên

Nói phét, nói khoác, phét​​ lác

Nói dóc, nói xạo, ba xạo, xạo đế

Khoác lác

Dóc tổ

Đi một mạch

Đi một lèo, một nước

cười ầm (rộ) lên

cười lên cái rần

Coi bộ, xem ra, có vẻ

Coi mòi

cứ thong-thả

cứ thủng-thẳng

đồn rầm, làm to chuyện

Làm rùm beng

Y hệt

Y chang, y khuôn

Tréo​​ ngược

Tréo cẳng ​​ ngỗng, tréo ngoe

Nói xa nói gần

Nói dày nói mỏng

Làm nũng

Nhõng-nhẽo

Chút ít

Chút đỉnh

giọng ca ngọt

Ca mùi, mùi rệu

Cái chum

Cái lu

chiếc thuyền

chiếc ghe

chiếc thuyền chở đầy

chiếc ghe chở khẳm

Người miền Bắc khi nói​​ bếp-núc, nghỉ-ngơi, đường-sá, đánh-đập, ấy là đã kết-hợp với tiếng miền Trung xứ Huế gọi núc là bếp, ngơi là nghỉ, sá là đường, đập là đánh. Cũng như khi nói chuối ngự là kết-hợp với tiếng ngự của đất Thần-kinh dành riêng khi nói về vua chúa, như nói "ngự-trà" chẳng hạn. Chuối ngự là loại chuối thơm, trái rất nhỏ vỏ rất mỏng, nhỏ tựa trái chuối cao (cau) của Sàigon, có lẽ ngày xưa quen dùng để dâng lên cho vua chúa, ngày nay thường bày cúng trên bàn thờ Phật, tổ-tiên.

Có thể nói rất nhiều thổ-ngữ miền Nam đã trở nên phổ-thông, người miền Bắc ngày nay đã quen dùng, chứ như những thổ-ngữ miền Trung thì, như bác-sĩ Lê-văn-Lân đã trình bày (1), quả thực là "cực kỳ đặc-biệt". Những tiếng này không được nhiều người biết đến; riêng ngay tại vùng đất Thuận-Hóa "đi từ vùng giáp-giới​​ Quảng-Trị ở phía bắc xuôi về các vùng giáp-giới Ðà-Nẵng ở mặt nam" tiếng nói cũng đa-dạng "thay đổi từ huyện này qua huyện khác". Ðó là phần vì đất Thần Kinh cổ-kính vốn khép kín phần vì các miền quê xứ này không phải là nơi hấp-dẫn các người dân đến sinh-cư lập-nghiệp như miền Nam phì-nhiêu màu-mỡ, khiến cho sự giao-lưu văn-hóa khó thực-hiện. Chỉ nội "cái âm-sắc của Huế vốn "trầm nặng" đã đủ cho các dân Hà-Nội hay Sàigon nghe mệt rồi, chứ đừng nói các thổ-ngữ đặc-biệt".​​ 

Những thổ-ngữ này​​ đại-khái như là:

miền Trung ​​ 

miền Bắc / miền Nam

Phách đấu

Nói xạo, nói dóc

Cái nùi

Cái nút

Cái nốt

Cái thuyền

ở nể

ở không, rảnh rỗi

Ăn cơm nể

Ăn cơm lạt

chộ

thấy, gặp (Vd: tau chộ hắn)

nằm chộ

nằm thấy, nằm mơ thấy

chắc

Cái mình

ngồi một​​ chắc

ngồi một mình

thời​​ 

Ăn (Vd: mời ông thời cơm)

Ngơi, thét, giấc

ngủ

cưới

Cái sân

Ló cấu

lúa gạo

Ngoài những dẫn-chứng nói về thổ-âm xứ Huế, tác-giả Lê-văn-Lân​​ (*)​​ có kể lại một câu chuyện gây-gổ đánh lộn giữa hai vợ chồng ở một vùng quê xứ​​ Thừa-Thiên như thế này:

“Hai cấy dôn đập chắc ngoài cươi,

Ôông trọi mụ một cấy côi oót

Mụ cắm ông một cấy dưới trắp bã

Ôông mụ lo đập chắc từ chiều đến chừ

Không lo thửa việc ló cấu.”

 

Nghĩa là:

“Hai vợ chồng đánh lộn ngoài sân,

Ông đánh bà một cái​​ trên đầu (côi oót)

Bà cắn ông một cái dưới bắp chuối (trắp bã)

Ông bà lo đánh lộn từ chiều đến giờ,

Mà không lo việc lúa gạo chi cả.”​​ 

Học-giả Thái-văn-Kiểm trong bài Ô-Lâu Tình-Sử (2) cũng kể ra những thổ-ngữ miền Bình-Trị-Thiên trong bài ca-dao Châu Ô (được kể dẫn trong chương VII đoạn I.1) và trong hai câu hát đối sau đây:​​ 

  • Trâu ăn giữa vạc ló lỗ

Ai mà nỏ chộ, đã nguy, chưa tề!

 ​​​​   ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​​​ (Trâu ăn giữa vạc lúa trổ

  ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​​​ Ai mà chẳng thấy, đã lạ-lùng chưa kìa!)

 

  • Một lẽ củi săng, chẻ ra văn võ (văng vỏ)

 ​​ ​​ ​​ ​​ ​​ ​​​​ Bỏ vô lửa đỏ, than lại thành than (g)

………………………………………………………………………….……………​​ 

(*)​​ Cước-chú:​​ 

 (1) Lê văn-Lân, Thổ-âm Xứ HUế (Tạp-Chí Nắng Mới, số 9, tháng 6-1992)​​ 

 (2) Trong “Làng Xưa Phố Cũ, tập 1, Hoài-Việt, Từ-Nguyên & Hồ Trọng-Khởi)​​ 

……………………………………………………..………………………………………

3- Những đặc-từ

Nói chung, nếu có rất nhiều tiếng Việt khó mà diễn-tả hết ý ra tiếng nước ngoài, thì nói riêng, ngay giữa mỗi miền đất-nước cũng có rất nhiều tiếng ở miền này khó có thể kiếm được ở miền kia những tiếng​​ khác tương-ứng hoặc diễn-dịch cho hết ý-nghĩa, vì lẽ, như đã đề cập, ngôn-ngữ là một thực-thể sáng-tạo của đời sống, phản-ánh tất cả những sắc-thái của mọi sinh-hoạt vốn tùy thuộc ở tâm-hồn con người và tập-tục tại mỗi địa-phương.​​ 

Những tiếng Việt khả-xúc ấy, thể-hiện rõ nét khuôn dáng đặc-thù cửa mỗi miền, chỉ có thể gợi lên những rung-cảm thực-sự một khi con người đã tham-dự tích-cực, nghĩa là đã hoàn-toàn hội-nhập vào cuộc sống. Chính cuộc hội-nhập này đã khiến rất nhiều đặc-ngữ của người miền Bắc không còn xa lạ gì với người miền Nam sau ngày 20-7-1954. Người miền Nam đã tự-nhiên buột miệng nói những thứ ngôn-ngữ ấy của miền Bắc với tất cả tâm-tình của người miền Bắc và ngược lại những người từ Bắc di-cư vào Nam cũng đã sống thực-sự với ngôn-ngữ và phong-tục miền Nam chừng như nơi đây là chốn chôn nhau cắt rốn của họ. Người người không phân-biệt địa-phương gốc-gác đã cùng suy-nghĩ, cùng nói, cùng viết và cùng rung-cảm qua một thứ tiếng Việt mà ta không thể, như thói quen vốn dễ-dãi, nói rằng đó là tiếng​​ Bắc, tiếng Nam, nhưng đúng ra phải nói rằng đó chỉ là cách nói của miền Bắc, miền Nam mà thôi.​​ 

Chẳng hạn, khi nói: cô ấy​​ rõ là​​ đáo-để!​​ mà giải-thích theo cách nói của miền Nam như: Thiệt là gớm-ghê, dữ-dằn! Thiệt hết nói! hay thiệt là đành-hanh v.v... vẫn không lột tả được hết cái ý của ngôn-từ "đáo-để", mà ngay chính người miền Bắc cũng khó có thể làm nổi công việc giải-thích này cho thỏa-đáng. Hoặc rằng: “ngon đáo để”, dù cho giải thích là ngon hết chỗ nói, hay như người miền Nam bảo là ngon hết xảy thì​​ cái âm giọng của “đáo để” vẫn có nét đẹp riêng hình dung được điệu bộ vẻ mặt cái miệng của người khen.

Bởi vì đó là những đặc-ngữ, những biểu-từ khả-xúc đặc-thù. Nói rằng: cô ấy trông thương đáo-để,​​ xinh đáo-để!​​ thì không thể nói theo người miền Nam là: cô ấy trông thiệt dễ thương! đẹp quá chời! quá xá cỡ! Cũng như khi nói: sướng mê-tơi, dù cho tạm diễn-giải là: sướng đã đời, hay đã đời Vân-Tiên thì cũng không thể đem câu "thích đã đời" mà thay cho thành ngữ "thích chí, khoái mê-tơi" như trẻ em miền Bắc vẫn thường hát:​​ 

“…Anh chàng voi ta thích chí mê-tơi,

Liền mời anh khác đằng xa vào chơi.” 

 

Trên đây chỉ là đan-cử vài ví-dụ. Có lẽ điều đáng ghi-nhận thêm là riêng ngôn-ngữ đặc-biệt của miền Nam thì thực phong-phú dễ-dãi vô-cùng, phong-phú như ruộng​​ đồng phì-nhiêu bát-ngát, dễ-dãi như tâm-hồn chất-phác tự-do:​​ 

 

“Ruộng đồng mặc sức chim bay,

Biển hồ lai-láng mặc bầy cá đua.” ​​ 

Ngôn-ngữ mộc-mạc giản-dị ấy đã thấy tản-mát trong các tác-phẩm của những nhà văn miền Nam như Hồ-Biểu-Chánh, Bình-Nguyên-Lộc trước đây, nay lại đưa tên tuổi những Xuân-Vũ, Hải-Bằng, Nguyễn-Văn-Ba v.v... thành nổi tiếng là những nhà văn của đồng quê, "miệt vườn" Nam-Bộ. Không phải đã sinh ra và lớn lên trong ruộng rẫy như họ, thì khó mà có thể nói lên được trọn vẹn những tình-tự dạt-dào bằng tiếng nói ngọt-ngào uyển-chuyển của đồng ruộng miền Nam. Chính ngôn-ngữ này đã phơi bày tất cả cuộc sống và con người của miền Nam phóng-khoáng, cởi mở dễ thương. 

Từ những chiếc​​ cà-ròn​​ quảy​​ tòn-ten​​ trên vai những​​ bác Tám, bác Chín, dượng Tư,​​ chú Ba​​ đi​​ lơn-tơn​​ ngoài đầu ngõ đến​​ ơ mắm cá trèn​​ của những​​ Dì Năm, Thím Tư,​​ hay​​ ba con cá lon-con nướng lửa ngọn,​​ cá lóc​​ kho tộ, nướng trui,​​ mấy con lươn​​ loi-roi​​ nấu canh chua cơm mẻ, vài trái xoài tượng chua với mắm ruốc hay​​ nước​​ mắm kho quẹt​​ bầm ớt cho​​ cay​​ xé lưỡi,​​ hoặc mấy con​​ cá rô mề chiên xù​​ ngon​​ quá xá cỡ,​​ khiến các tay nhậu​​ ưa lai-rai ba sợi,​​ thích nói chuyện​​ tầm-xàm bá-đế​​ phải chép miệng nuốt nước miếng:​​ "Ôi chu-choa! kẹt lắm! à nghen".​​ 

 

Ngần ấy thứ​​ hổng thôi​​ cũng đủ để làm nên ruộng đồng Nam Bộ,​​ cho ta hình-dung ra những chiếc​​ áo bà-ba đen,​​ khăn rằng​​ ướt tình sông nước Cửu-Long, tản-mát​​ dưới​​ miệt vườn,​​ trong rẫy,​​ khác hẳn với những cánh áo nâu sồng, những giải yếm sồi đen quây-quần thủ-thỉ tình yêu trong lũy tre làng xanh ngắt.​​ Miệt vườn​​ không thể chỉ hiểu đơn-thuần là miền vườn, miền ruộng vì "miệt" thì hàm cái ý "mãi tận miền xa". Cũng như "mấy con gà​​ bươi đất​​ ngoài vườn"​​ không hẳn chỉ là "bới đất" mà còn hàm cái ý vất-vả cực-nhọc vì phải​​ "bươi-bả"​​ như người miền Bắc thường cho là đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương. Cái tiếng "bươi" không chỉ mô-tả sự-kiện mà còn thẩm-định để nói lên cảm-nghĩ về sự-kiện.​​ 

"Khuya​​ dữ​​ rồi! (tr.75)...làm như tui​​ ngu​​ dữ​​ (tr. 81)…

Cha-chả, con cá này​​ bự dữ ta!​​ (trang 105).​​ 

Thổ mà ca cũng​​ ... dữ ... hén!​​ (trang​​ 194)​​ 

(Hải-Bằng,​​ Gia-đình Bác Tám)."​​ 

Dĩ nhiên, dữ đây không phải là dữ-dằn, nó diễn-tả cái ý nghĩa "nhiều lắm", nhưng nếu nói như người miền Bắc "khuya lắm rồi" thì nghe vẫn còn ấm-ức vì chưa tả hết được cái "nhiều lắm" ấy nó "lắm" đến như thế nào, đấy là​​ vì cái tiếng này còn phát ra cái âm-giọng miền Nam nó "õng-ẹo" mềm-mại dễ thương​​ (như sẽ đề cập ở đoạn 6.III nói về sự biến-dạng âm và thanh giữa các miền). Vả chăng, "nhiều lắm" chỉ là một trạng-từ chỉ số-lượng trong khi "cũng dữ hén!" thì "dữ" còn có chức-năng thay-thế cho cả một mệnh-đề, một tiền-ngữ được tóm gọn, hiểu ngầm. Ở đây ta hiểu rằng: người Thổ này dù chỉ là Miên-Kiều thế mà ca cải-cách cũng​​ mùi rệu quá xá​​ đi thôi!​​ Ấy là chưa kể thêm vào những thán-từ "ta, hén!" với âm-giọng đặc-biệt miền Nam​​ ướp thêm cho ngôn-ngữ được ngọt-ngào hơn. Cái ngọt-ngào ấy thấy man-mác yêu thương như khi nghe cô gái miền Hậu-Giang cất tiếng khen nhẹ-nhàng đầy tràn tình-tứ "Gớm!​​ dử thần hôn!"

Dưới đây người viết xin được kể thêm một số đặc-ngữ miền Nam. Những tiếng này nhan-nhản trong "Gia đình Bác Tám" và "Giòng sông nước mắt" của Hải-Bằng:

 - Tui​​ "hỏng"​​ có​​ cà-rỡn​​ với anh nữa đâu. (GÐBT, tr. 83)...

 

 - Nó trả lời​​ cà-rỡn​​ (GÐBT, tr 166)...

 

 ​​ ​​ ​​ ​​​​ -  Ai biểu, tôi​​ kêu anh giựt một, mà anh cứ mê ca, không thèm trả lời, làm​​ chi (GÐBT, tr 59)

- ​​ Cái chiện đó thì dễ ợt​​ (GÐBT, 196)

-  Với​​ cái mửng này thét rồi​​ dân quê mình còn nước phải ăn gạo lức (GÐBT, tr 97)

-  Chín Ðờn Cò để chén cháo xuống bộ ngựa,​​ giọng cà-lâm cà-lịch​​ (GÐBT, tr 76)

 -  Bà Năm Trầu không buồn trả lời, mà vẫn​​ còn​​ cà-hước cà-hước ở cuống họng​​ nhiều hơn (GÐBT, tr 51)​​ 

 

 -  Mấy thằng​​ "ôn dịch bắt"​​ đó​​ mần khó mần dễ​​ ... nghe mà phát​​ tức cành hông​​ ... luôn (GÐBT, tr 165)

- ​​ Nằm chèo-queo​​ trên võng (GÐBT, tr 58)...Chín Ðờn Cò...vui vẻ​​ hỏi trỏng​​ (GÐBT, tr 94)

- ​​ Tui đã nói cho cả xóm biết về cái vụ anh ta cứ​​ tò-vè tui, cái vụ tui đang mò cá mà y cứ nhè cặp đùi tui mà dòm thiếu điều rớt con mắt luôn. Tui tức quá mới nói xỏ: "Bộ cặp ... giò tui cũng...ngụy nữa sao, mà anh​​ dòm lom-lom​​ vậy?" (GÐBT, tr 83) ...

"Cái chị​​ này,​​ thiệt là liếng-khỉ​​ không ai bằng" (GÐBT, tr 117)​​ 

-  Chín Ðờn Cò chọc: "Bộ có​​ mình ên​​ chị biết giận ... chắc" ... "Thôi đi hái rau, hái cỏ, ở đó mà​​ nói dần-lân hoài" (GÐBT, tr 97,98)

-  Con Hiền nó​​ khôn-khéo vàng trời,​​ chớ bà tưởng! (GÐBT, tr 123)​​ 

-  Bà Giáo hỏi con gái: "Bộ không còn​​ miếng dầu​​ nào thắp đèn sao con?" (Giòng sông nước mắt, tr 240)

-Mắc dịch​​ anh nè. Già đầu rồi mà cứ​​ cà-rởn​​ như con nít,​​ hổng sợ​​ bà con thiên-hạ họ cười (Hải-Bằng,​​ Giòng Sông Nước Mắt,​​ tr 213).

  • Ghiền dẩu lên (GĐBT, tr. 173)

  • Lâu dẩu rồi (GĐBT, tr. 175)

  • Vui dẩu lên (GĐBT, tr. 186)

  • Sửa-soạn dẩu lên (GĐBT, tr. 192)

​​ 

Có "uống nước sông Tiền, sông Hậu, hay "nặng tình biển cả Bạc-Liêu "mới tả hết được cái thú quê đi "thụt lịch, bắt chạch" hay đi "bắt cá bống kèo" đem về làm bữa​​ nhậu lai-rai".​​ 

"Lịch nướng trộn gỏi chuối cây xắt nhuyễn và rau răm​​ nhậu lai-rai​​ với rượu nếp thì​​ hết trật,​​ còn cá chạch kẹp giữa hai thanh tre chẻ dọc, nướng trên than hồng cho đến khi mỡ chảy ra xèo-xèo mùi hơi khét, rồi làm nước mắm gừng. Cá chạch nướng ăn với nước mắm gừng và gạo nàng hương thì​​ "hết phản".

Còn "cá bống kèo không có ở các vùng sông Tiền hay sông Hậu nước ngọt quanh năm". Bặc-liêu​​ sình-lầy​​ nước lợ​​ là nơi chúng dung-thân. "Cá tươi mới bắt từ dưới sông lên, đưa cay một chung rượu nếp, húp​​ vài muổng nước cá​​ nấu mẳn,​​ thiệt​​ đã điếu ông địa", hay làm "một tô bún nghi-ngút khói, nước xâm-xấp, năm sáu con cá bống kèo đã tuốt xương, trải trên mặt, điểm thêm tí hành lá, chút tiêu sọ trắng tinh ... Tô bún​​ ngon quá-xá quà-xa,​​ ... ăn​​ một hơi ráo​​ trọi"​​ (**)

Hết trật, hết phản, quá-xá quà-xa, đã điếu ông địa, (Nguyễn-Văn-Ba) hay​​ đã đời Vân Tiên​​ (Hải-Bằng) v.v... chính đó là những sáng tác tự-nhiên thốt ra từ những cảm-xúc. Những biểu-từ ấy là đặc-trưng của con người miền Nam. Những biểu-từ ấy phong-phú, hồn-nhiên dễ-dãi như tâm-hồn và ruộng đồng Nam-Bộ.  

Chúng tôi nghĩ rằng những đặc-ngữ trên mới chỉ là những lượm-lặt trong muôn vàn. Ðó là chân-dung của Nam-Bộ. Phải đã sống thực-sự cuộc sống của miền Nam như những nhà văn gốc rễ miền Nam, mới thấu-triệt được tất cả cái kho-tàng đặc-ngữ phong-phú của miền đất yêu thương này cũng như thấy được cái thú-vị khi ngồi nhấm-nháp ba múi sầu-riêng bùi-bùi, thơm-thơm, ngọt-ngọt bên chén​​ “trà quạu"​​ ướt giọng: tôi đang nghĩ đến những chất liệu cần thiết ắt có của​​ một bộ từ-điển bách-khoa Việt-Nam toàn-bích trong mai này.

………………………………………………………………………………………

(**) Cước-chú:​​ Nguyễn-văn-Ba, “Muối Bạc-Liêu Nặng Tình Biển Cả.​​ Tạp-chí Làng Văn, số 83 tháng 7-1991, tr. 61, Toronto, Canada

………………………………………………………………………………………

 

 

 

96

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here