CHIẾN TRANH VIỆT NAM TOÀN TẬP
. Nguyễn Đức PHương
(kỳ 2)
Bối-cảnh lịch-sử
Ðiện-Biên-Phủ thất thủ (7.5.1954), hội-nghị Genève 1954 đã đưa đến việc chia cắt tạm thời đất nước Việt-Nam làm hai, lấy vĩ-tuyến 17 làm ranh-giới. Thỏa ước đình-chiến nầy cũng đã đưa đến việc quân-đội Pháp phải rút ra khỏi vùng phía bắc vĩ-tuyến 17, tập kết các lực-lượng CS tại phía nam dưới sự giám-sát của Ủy-hội Ðình-chiến để tiến đến tổng tuyển cử thống-nhất đất nước được dự định tổ chức trước ngày 20.7.1956.
Chính-phủ Mỹ với nỗ lực ngăn chận sự bành trướng của Trung-Cộng sau hai thành-công của CS tại Hoa lục (1949) và Triều-Tiên (1950) đã trực tiếp viện-trợ miền Nam VN. Ðồng thời Mỹ cũng kêu gọi thành-lập Tổ-chức Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á (SEATO) với mục-đích ngăn cản sự bành trướng của CS. Tổ-chức Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á chính thức ra đời ngày 8.9.1954 tại Manila, thủ-đô Phi-Luật-Tân với các hội viên gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Úc-Ðại-Lợi, Tân-Tây-Lan, Hồi-quốc, Thái-Lan và Phi-Luật-Tân. Do các giới-hạn của Hiệp-định Genève, VNCH, Lào và Kampuchia không thể trở thành hội-viên của minh-ước. Tuy nhiên như ngoại-trưởng Mỹ J.F. Dulles đã xác nhận, Tổ-chức Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á có thể bao gồm cả ba nước Ðông-Dương (1).
Mục-đích của Minh-ước Liên-phòng Ðông Nam á theo bản tin báo chí của ngoại trưởng Mỹ là (2): “Chúng ta đoàn-kết vì một mối nguy-hiểm chung, sự nguy hiểm đến từ CS quốc-tế với tham vọng vô bờ bến. Chúng ta đã biết rằng bất cứ nơi nào họ thắng-lợi, thí dụ như tại Ðông-Dương, thì những thắng-lợi nầy sẽ không dừng lại, như một giải pháp chung cuộc, mà chỉ là đầu cầu để từ đó tiến đến các sự chiếm hữu trong tương-lai. Sự kiện nầy khiến chúng ta phải quan tâm đến những gì đang xảy ra tại một nơi nào đó. Hiểm nguy được thể hiện dưới nhiều hình thức. Một trong các hình thức nầy là xâm-lăng bằng vũ-lực. Chúng ta có thể giảm thiểu được hiểm họa đó bằng cách minh định rằng một cuộc tấn-công vào địa phận của minh-ước sẽ đối đầu với một sự đoàn-kết, rất mạnh-mẽ và hữu-hiệu để khiến kẻ gây hấn sẽ bị thiệt hại nhiều hơn là thắng-lợi. Do đó tổ chức của chúng ta là liên-hệ các thành-viên để phát-triển khả-năng đơn-phương cũng như hợp-đồng hầu chống lại các cuộc tấn-công bằng vũ-lực”.
Ngày 16.1.1950, Trung-Cộng nhìn nhận chính-phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa, Nga
công nhận ngay sau đó. Hơn 60 quốc-gia không CS trên thế-giới do đó đã mau lẹ nhìn nhận chính-phủ Bảo-Ðại tại miền Nam VN. Ngày 11.5.1950, quốc-hội Pháp chấp thuận việc thành-lập Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam (3).
Ngày 7.7.1954, nội các Ngô-Ðình-Diệm được thành-lập. Sau đó hai tướng Mỹ E.G. Lansdale (6.1954) và J.L. Collins (12.1954) được gửi sang Sài-Gòn để cố-vấn cho chính-phủ VNCH. Ngày 23.10.1955, quốc-trưởng Bảo-Ðại bị truất phế do cuộc trưng cầu dân ý. Thủ-tướng Ngô-Ðình-Diệm trở thành Tổng-thống. Quân-đội Quốc-gia Việt-Nam chính thức mang tên Quân-lực Việt Nam Cộng-hòa (3).
Tại Miền Nam VN, chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm phải đối đầu với các khó khăn về giáo phái và Bình-Xuyên. Lực-lượng Bình-Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu bị dẹp tan trong tháng 5.1955. QLVNCH đã mở chiến-dịch Hoàng-Diệu (21.9-24.10.1955) để tảo thanh tàn quân của Bình-Xuyên tại khu Rừng Sát. Tiếp theo là các chiến-dịch Ðinh-Tiên-Hoàng (23.5-12.1955), Nguyễn-Huệ (1.1-31.5.1956), Thăng-Long (11.3-24.3.1956) để tảo-thanh các lực-lượng Hòa-Hảo, Cao-Ðài và Cộng-Sản (3).
Trong khi đó thì tại Miền Bắc, chính-phủ CS đứng trước các khó khăn về kinh-tế và an-ninh chính-trị. Chiến-tranh Việt Pháp đã tàn phá miền Bắc khá nhiều và quan-trọng hơn cả là lúa gạo không còn được tiếp tế từ miền Nam như trước nữa. Năm 1955, gạo phải nhập cảng từ Miến-Ðiện với viện-trợ của Nga (4). Phong-trào cải-cách ruộng đất được tiến hành cùng trong năm với hậu quả là hàng ngàn người đã bị giết, hàng ngàn người khác bị giam cầm (4). Ngày 2.11.1956, dân làng Quỳnh-Lưu thuộc tỉnh Nghệ-An nổi dậy chống lại chính-quyền CS và đã bị đàn áp một cách dã-man. Tuy nhiên các tin tức từ Quỳnh-Lưu đã bị che mờ bởi các biến động đang xảy ra tại Poznan, Ba-Lan; cuộc nổi dậy của nhân-dân Hung-Gia-Lợi và biến-cố kinh đào Suez tại Ai-Cập.
Cả hai chính-phủ Nam và Bắc đều gặp những khó khăn nội bộ ở buổi ban đầu. Ðây cũng là lý do đã khiến kế-hoạch xâm chiếm Miền Nam của CSBV chưa được để ý đến. Các tài-liệu ngoại-quốc cho rằng chính-sách đàn áp đối-lập của chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm đã khiến các đối thủ chính-trị phải dùng đến bạo-lực vũ-trang (4-6). Tuy nhiên không ai so sánh để thấy rằng những đàn áp chính-trị đều đã xảy ra ở cả hai miền. Hoạt-động đắc lực của bộ máy tuyên truyền CS cũng như sự bưng bít của bức màn sắt khiến không ai biết được những gì xảy ra tại Miền Bắc. Ngay chính Trương-Như-Tảng, một cán-bộ cao cấp của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam vẫn tin tưởng rằng những đàn áp chính-trị tại Miền Bắc chỉ là tin đồn, không xác thực (6). Một thí dụ điển-hình là cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại miền Bắc đã được giáo-sư phản chiến G. Kolko mô tả lại như sau (7): “Cuộc cải-cách ruộng đất đã huy động những nông dân nghèo khó để tạo thành một chiến thắng quân-sự, và đến cuối năm 1954 sản-lượng nông-phẩm cũng như hiệu quả đã tăng cao. Ðến năm 1957, hệ-thống đất đai phía Bắc vĩ-tuyến 17 đã được phân chia một cách đồng đều, và những nông-dân nghèo hay những người không có đất đã cải tiến vị-thế của họ một cách khả-quan, ngay cả những nông-dân trung-lưu cũng đã có thể mở rộng đất đai của họ”. Trong khi đó thì cũng chính ông lại viết về kế-hoạch dinh-điền của miền Nam như sau (7): “Các giới hạn về canh-nông của ông Diệm gồm hai giai-đoạn. Ðầu tiên ông bao vây và tiêu-diệt đối lập kể cả các hội-đồng-xã. Năm 1955, các cuộc bắt bớ hàng loạt và đe dọa bắt đầu, chủ yếu là chống lại các giáo phái. Các buổi hội thảo được tổ-chức khắp nơi để công-khai lên án Cộng-Sản. Bốn mươi ngàn người đã bị lên án như vậy chỉ trong vòng năm tuần lễ tại một tỉnh ở phía Nam vùng châu thổ”.
Tình hình chính-trị tại Miền Nam chỉ là một cái cớ để CSBV phát-động chiến-tranh. Ðường lối cai-trị của ông Diệm có tốt đến đâu chăng nữa thì CSBV, sau khi chỉnh-đốn lại nội tình Miền Bắc vẫn sẽ tiến-hành âm mưu thôn tính Miền Nam. Bằng cớ điển hình là từ năm 1958, CS đã bắt đầu thi-hành kế-hoạch khủng-bố phá hoại tại Miền Nam VN.
Theo J. Race thì từ các tài-liệu bắt được cũng như cung từ của một tù-binh CS cao cấp cho thấy CS không hy vọng sẽ có một cuộc tổng tuyển cử để thống-nhất đất nước. Do đó họ đã chuẩn-bị một kế-hoạch thống nhất đất nước bằng bạo-lực vũ-trang (9). Chỉ-thị cho các cán-bộ ở lại miền Nam sau cuộc tập kết đã ghi một cách rõ ràng (10): “Hướng dẫn chính cho người ở lại là sẽ không có những vi phạm thỏa ước (Genève) một cách công khai. Chúng tôi giả dạng duy trì một cách hợp pháp như những công dân bình thường. Các tổ chức được duy trì một cách tối thiểu; bất cứ vì lý do nào cũng không được sử dụng những văn kiện hay tài liệu thành văn. Mục tiêu là hoàn toàn bí mật … Chúng tôi được cho biết rằng Diệm có thể tôn trọng hoặc không tôn trọng thỏa ước nầy. Tuy nhiên trong bất cứ trường hợp nào chúng tôi vẫn phải tiếp tục hoạt động, giữ niềm tin cho mọi người cũng như tổ chức được tồn tại. Trên thực tế nếu có tổng tuyển cử thì chúng tôi có thể nắm vững được tình hình nếu hệ thống vẫn hoạt động. Trong trường hợp không có tổng tuyển cử thì chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh. Bất cứ trường hợp nào, Ðảng sẽ không bao giờ ngủ quên trên chiến thắng”.
Một quyển sử của CS cũng đã thú nhận các âm mưu chuẩn bị đấu tranh vũ trang trong tương-lai như sau (11): “Ðồng Tháp Mười là nơi được lệnh bí mật của cấp trên chôn lại nhiều hầm vũ khí, đạn dược, máy móc binh công xưởng. Riêng huyện Mộc Hóa có bốn hầm bí mật ở Kinh Bùi, Nồi Gọ, Thạnh Phước và Thủy Ðông với hơn 300 súng lục các loại, hai hầm ở Tân Hóa và Cà Dâm (Mỹ Phước) toàn là súng tốt. Các huyện, xã của Tân An, Chợ Lớn và Mỹ Tho mỗi nơi cũng chôn giấu lẻ tẻ vài khẩu súng, phần lớn là súng ngắn, có một ít súng trường. Theo chủ trương chung, xã đội và du kích ở lại, bộ đội đi hết nhưng nhiều cán bộ đại đội, tiểu đoàn và cả trung đoàn, huyện đội và cả tỉnh đội và các cán bộ quân sự khu trên đường về Cao Lãnh hoặc đã tới khu tập kết cũng được lệnh bí mật quay trở lại địa phương. Anh em ở lại khu 8 được tổ chức thành ba tiểu đoàn của khu. Các tỉnh Tân An, Chợ Lớn, Mỹ Tho mỗi tỉnh một khung đại đội phân tán về sống trong dân để khi cần có thể tập trung thành đơn vị”.
Có hai nguyên-nhân khiến CSBV phải trì hoãn đến năm 1959 mới phát động bạo-lực vũ-trang. Lý do đầu tiên là chính quyền CS đang gặp phải khó khăn trong chiến-dịch cải cách ruộng đất. Trong hai năm 1955-56 đã có đến khoảng 50 ngàn người bị hành-quyết và gấp đôi con số nầy đã bị bắt để tập-trung cải tạo (12). Theo học-giả Hoàng-Văn-Chí thì đã có đến nửa triệu người là nạn-nhân của các cuộc đấu tố nầy (13). Lý do thứ hai là do Trung-ương Ðảng CS nhận-xét tình hình Miền Nam chưa đúng lúc để phát-động vũ-trang. Thay vào đó đảng CS chủ-trương tiến-hành các hoạt-động khủng-bố và ám-sát các công-chức và nhân-viên xã ấp. Theo các con số thống-kê từ năm 1959 đến năm 1961 thì số nạn-nhân bị giết đã tăng từ 1200 người mỗi năm lên đến 4 ngàn người mỗi năm (14). Trước những hoạt-động khủng-bố, chắc chắn chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm sẽ phản-ứng. CS sẽ lợi-dụng cơ-hội như vậy để phát-động vũ-trang. Cuối năm 1958, Lê-Duẩn bí mật vào Nam để thẩm định tình hình. Báo cáo của ông đã được đệ trình lên đại-hội lần thứ 15 gồm các ủy-viên Trung-ương Ðảng trong tháng Giêng năm 1959. Ðại-hội đã ra chỉ-thị thành-lập các đơn-vị vũ-trang tại miền Nam VN.
Hai địa danh thường được CS cho là đánh dấu phong-trào Ðồng-Khởi của giai-đoạn nầy là Trà-Bồng thuộc tỉnh Quảng-Ngãi và Bến-Tre thuộc tỉnh Kiến-Hòa. Ngày 28.8.1959, xã Trà-Châu, quận Trà-Bồng đã nổi loạn. Cuộc nổi dậy sau đó đã lan sang các xã khác thuộc các quận Sơn-Hà, Ba-Tơ và Minh-Long. CS đã thành-lập được khu giải-phóng tại vùng rừng núi phía tây tỉnh Quảng-Ngãi. Ngày 17.1.1960, Thường-vụ Tỉnh-ủy tỉnh Bến-Tre đã lãnh-đạo cuộc nổi dậy tại ba xã Ðịnh-Thủy, Phước-Hiệp và Bình-Khánh; thiết-lập tòa án nhân-dân, tịch-thu tài-sản của địa-chủ, … Ngày 24, QLVNCH đã dẹp tan các cuộc nổi loạn tại đây.
Tiếp theo đó, đại-hội đảng lần thứ ba nhóm họp tại Hà-Nội trong tháng 9.1960 đã công khai tuyên-bố ủng hộ bạo-lực vũ-trang tại Miền Nam VN. Ðến cuối năm, Mặt-trận Dân-tộc Giải-phóng Miền Nam Việt-Nam ra đời.
Tại Miền Nam VN, chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm được xem như thành-công trong ba năm đầu (1956-58) trên các mặt an-ninh (15) cũng như về uy-tín quốc-tế (14). Tuy nhiên chế-độ gia-đình-trị, phân biệt tôn-giáo, tiêu-diệt các đảng-phái đối-lập đã làm mất lòng dân cũng như làm suy yếu các nỗ-lực chống Cộng (14). Ngày 26.4.1960, một số các trí thức, chính-trị-gia tại Sài-Gòn đã ra tuyên-ngôn chỉ-trích và khuyến-cáo chính-phủ. Bản tuyên-ngôn nầy thường được gọi dưới tên là tuyên-ngôn Caravelle, là tên khách-sạn nơi ra mắt. Ngày 11.11, các đơn-vị nhảy dù đảo-chánh nhưng bất thành.
Ngày 6.1.1961, Thủ-tướng Nga Nikita Khrushchev tuyên-bố ủng-hộ chiến-tranh giải-phóng trên toàn cầu. Ngay sau đó, CSBV đã chính thức tuyên-bố ủng-hộ Mặt-trận Dân-tộc Giải-phóng Miền Nam. Chiến-tranh bắt đầu lan rộng. Tỉnh Kiến-Hòa bị tấn-công ngày 1.4.1961. Công-trình thủy-điện Ða-Nhim bị phá hoại (14). Ðến tháng 9, Việt-Cộng tràn ngập tỉnh-lỵ Phước-Vinh chỉ cách Sài-Gòn khoảng 40 dặm về phía bắc (16). Lực-lượng VC tại Miền Nam được phỏng-định đã gia tăng từ 5500 người vào đầu năm 1961 lên đến 25000 người vào khoảng cuối năm.
Chính-phủ Kennedy do đó đã gửi Phó Tổng-thống L.B. Johnson (5.1961); phái-đoàn do Tiến-sĩ kinh-tế-học E. Staley, nguyên giám-đốc viện nghiên-cứu Stanford (6.1961) rồi đến Tướng M.D. Taylor và cố-vấn chính-sách đối-ngoại và quốc-phòng W. Rostow sang Việt-Nam (10.1961) để xem xét tình hình tại chỗ. Mặc dù Tướng Taylor đã đề-nghị gửi quân Mỹ sang tham chiến tại VN, Tổng-thống Kennedy chỉ đồng ý cho gia tăng quân-số của QLVNCH từ 170 ngàn lên 200 ngàn (17). Số cố-vấn Mỹ cũng đã được gia tăng đến 3200 người (16). Ba đại-đội trực-thăng H-21 của bộ-binh Mỹ, 16 phi-cơ vận-tải C-123 được gửi sang VN (18). Hai chi-đoàn thiết-vận-xa M-113 cũng đã đến VN trong tháng 4 và được đặt dưới quyền sử-dụng của hai sư-đoàn 7 và 21 BB/QLVNCH. Ngày 8.2.1962, Phái-bộ Cố-vấn và Viện-trợ Quân-sự tại VN (MAAG) được đổi tên thành Bộ Tư-lệnh Viện-trợ Quân-sự Mỹ tại VN (MACV) và do Tướng P. Harkins cầm đầu.
Ngày 27.2.1962, hai Trung-úy phi-công Phạm-Phú-Quốc và Nguyễn-Văn-Cử ném bom Dinh Ðộc-Lập. Cả hai phi-cơ đều bị trúng đạn phòng không của các chiến hạm đang cập bến Bạch-Ðằng. Phi-cơ của Trung-úy Quốc rơi xuống sông Sài-Gòn, ông bị bắt. Trung-úy Cử bay sang Cao-Miên và phải đáp bằng bụng. Ông xin tị-nạn chính-trị tại đây.
Với chiến-thuật và vũ-khí mới, QLVNCH đã đạt được nhiều thắng-lợi trong năm 1962. Nhận-xét về giai-đoạn nầy, Tướng D.R. Palmer viết (16): “Theo năm tháng, phiến loạn đã bị làm chậm lại, ngưng đọng để sau cùng giảm thiểu đi. Các cố-vấn Mỹ đã đốc thúc họ (QLVNCH) bao vây và tiêu-diệt địch-quân, với ưu-thế về di-động do thiết-xa và trực-thăng mang lại, các đơn-vị của QLVNCH đã dần dần chiếm ưu-thế. Vì chưa tìm được phương cách đối-phó với di-động-tính và hỏa-lực của quân-đội chính-phủ, quân du-kích phải chịu những thiệt-hại nặng-nề. Dẫu một đôi khi, họ có thể chống lại một cách hiệu quả. Tuy nhiên những cơ-hội như vậy càng ngày càng xa. Rõ ràng, Hà-Nội không thể nào thay thế được những thiệt-hại bằng các cán-bộ miền Nam. Cuối năm 1962, nguồn nhân-lực nầy gần như đã kiệt quệ. Giật mình vì sự can thiệp bất ngờ của Mỹ và ngạc nhiên bởi sự hồi sinh của quân-đội miền Nam, quân phiến-loạn bắt đầu mất tinh-thần”.
Tiếc thay những thắng-lợi sơ-khởi nầy đã không được khai-thác đúng mức. Chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm với những lỗi lầm vừa kể đã làm hỏng mất cơ-hội chiến-thắng quân CS xâm-lược. Ðúng như R. Shaplen đã viết trong The New Yorker năm 1962 (8): “Cả Việt-Nam và Mỹ đều đồng ý rằng, trên tất cả mọi mặt, năm sắp đến sẽ là một năm quyết định để đi đến kết-quả của cuộc chiến-tranh nầy. Viện-trợ quân-sự Mỹ có lẽ đã giúp chính-phủ có được thời-gian để củng-cố lại sau những thất-bại trong mùa Thu rồi. Nhưng về cả hai mặt xã-hội và tâm-lý, kết-quả vẫn còn đáng nghi ngờ. Chính-phủ phải tạo được niềm tin cho người dân đang sinh sống tại mảnh đất nầy. Ðiều nầy đã thực-hiện được tại một số địa-phương, tuy nhiên vẫn chưa làm được với đại đa số dân chúng. Ðánh bại Việt-Cộng ra khỏi căn-cứ của họ là một việc, nhưng thay thế vào trái tim của dân chúng lại là một việc khác. Về lâu về dài, Cộng-Sản tin rằng thời gian và không gian thuộc về họ. Bất cứ điều gì xảy ra, chính-phủ không thể nào tuần tiễu được cả quốc-gia. Khả-năng để chính-phủ có thể kiểm-soát bằng cách chiếm được sự ủng-hộ của dân-chúng tùy thuộc vào sự kiện chính-phủ có thể trưởng thành được hay không về phương-diện chính-trị cũng như về xã-hội và kinh-tế”.
Bàn luận về giai-đoạn nầy, một vị lãnh-đạo tinh-thần viết (19): “Sự thật không đơn giản như vậy. Việc từ-chối thực hiện tổng tuyển-cử đã vi-phạm hiệp-định Genève và là một yếu-tố đáng kể khiến chiến-tranh bùng nổ trở lại. Tuy nhiên người ta nghi ngờ rằng chiến-tranh có thể bùng nổ trở lại nếu ông Diệm có khả-năng kiến tạo một miền Nam Việt-Nam dân-chủ pháp-trị cũng như một chính-phủ không Cộng-Sản với những kết-quả tốt đẹp về cải-cách xã-hội. Với một số người Việt-Nam, Hồ-Chí-Minh là anh-hùng dân-tộc. Tuy nhiên với nhiều người khác kể cả các lãnh-tụ quốc-gia đã chiến-đấu chống Pháp, họ vẫn còn giữ được những ký ức sống động về sự tàn nhẫn mà bộ máy Cộng-Sản của ông Hồ đã trừ khử những đồng-minh không Cộng-Sản ngay khi chiến-tranh vừa chấm dứt năm 1945 rồi lần nữa năm 1954. Họ là những người đã bị đánh bại trong hai cuộc tranh-đấu với Cộng-Sản trong cố-gắng xây-dựng một chính-phủ liên-hiệp dưới sự lãnh-đạo của ông Hồ. Nhiều người trong số nầy sẽ hoan nghênh một cơ-hội để xây-dựng một chính-quyền dân-chủ không Cộng-Sản hùng mạnh tại miền Nam Việt-Nam, bởi vì đây chính là những gì mà họ đã đi tìm từ năm 1945: một căn-bản để từ đó có thể thương-thảo với Cộng-Sản miền Bắc một thỏa thuận liên kết trong đó quyền-lợi của họ cũng như các nguyên-tắc dân-chủ được bảo-đảm. Do ông Diệm không thực hiện được như vậy, thay vào đó lại thiết-lập một chế-độ đàn áp, trừ khử một cách tàn-nhẫn nhiều nhóm cũng như cá-nhân có thể giúp đỡ ông, dung dưỡng hay khuyến-khích các hình thức bất-công xã-hội, khiến Việt-Cộng có thể lôi cuốn được sự yểm-trợ để tạo thành một mũi tấn-công đáng kể vào chế-độ của ông ta”.
Trong kế-hoạch bình-định lãnh-thổ, những khu trù-mật được thiết-lập vào những năm cuối của thập niên 50 đã được chính-phủ Ngô-Ðình-Diệm, với sự cố-vấn của Sir Robert Thompson biến thành những ấp chiến-lược. Tuy nhiên địa hình Mã-Lai khác xa với Việt-Nam. Thiểu-số Hoa-kiều tại Mã-Lai cũng dễ-dàng phân biệt với người Mã-Lai bản xứ. Tình tự dân-tộc gắn liền với nơi chôn nhau cắt rốn, mồ mả tổ tiên và lũy tre xanh đã khiến người dân quê Việt-Nam khó lòng chấp nhận việc di dân vào các ấp chiến-lược. Bên cạnh đó, Ðại-tá Phạm-Ngọc-Thảo, người phụ-trách toàn bộ quốc sách ấp chiến-lược là một cán-bộ CS nằm vùng khiến quốc sách sau cùng đã thất-bại.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here