. Nguyễn Hữu Nghĩa

Người Việt vốn có nhiều tên, ngoài tên tục, tên tộc, tên khai sinh, tên thường dùng, tên cúng cơm, hiệu, tự còn có bí danh, bí số, mật danh, nguỵ danh, hỗn danh, xước danh, biệt hiệu, bút hiệu (bút danh), nghệ danh,.. chưa kể tên rừng (Hướng đạo), tên thánh (Công giáo), thánh danh (Cao đài), pháp tự, pháp hiệu, pháp danh (Phật giáo); hay tên kèm chức vụ (quan quyền), tên kèm học vị; hoặc niên hiệu, tôn hiệu, thuỵ danh, miếu hiệu (vua). Ôi thôi là phức tạp; nhưng ngộ nghĩnh nhất là “nhũ danh”.

“Nhũ” ở đây là “nhũ mẫu”, bà vú, chị vú, không phải là cái bộ phận hấp dẫn mà các ông hồi nhỏ đã từng mân mê cả năm trời nên ghiền.

Nhũ danh là tên do bà vú hay do cha mẹ đặt cho đứa nhỏ khi nó còn bú. Cả trai lẫn gái đều có nhũ danh. Đó thường là một cái tên xấu háy, vì người Việt tin dị đoan, tránh gọi con bằng tên chính thức, để đứa nhỏ không bị quỉ thần quở phạt hay bắt hồn. Nhũ danh thường là Tí, Tèo, Tủn, Cu, Bướm, Hĩm, Lượm, Nhỡ, Xíu, Xiu,.. có khi là Chó, Mèo, Chim, Chuột,.. có khi là Hôm, Mai,..

Trong dân gian sau này xảy ra một sự hiểu lầm ngộ nghĩnh: nhũ danh bị hiểu là tên riêng của phụ nữ trước khi lấy chồng, thí dụ “bà Nguyễn Văn A, nhũ danh Trần Thị Lý.”

Tại sao có sự hiểu lầm tai ác như vậy, phải chăng vì “nhũ” là vú, bà Lý là phụ nữ, bà đã có nhũ hoa tất phải có …nhũ danh? Như vậy “nhũ danh” hiểu theo nghĩa này thì phải có hai cái cho đủ cặp, sao bà Lý chỉ có một?

Danh từ đúng nhất để gọi tên riêng của phụ nữ (maiden name) là khuê danh, không phải nhũ danh. Khuê là tên riêng của phụ nữ lúc chưa lấy chồng. Dân gian thường dùng tên ông chồng để gọi người vợ. Bà lấy ông Nghĩa thì người ta gọi bà là bà Nghĩa. Chẳng may bà lấy ông Đực thì người ta gọi bà là bà Đực, dù rõ ràng bà vẫn thuộc giống cái!

 

Đã nói về “nhũ danh” (tên do cha mẹ hay bà vú đặt cho đứa trẻ khi nó còn bú) và khuê danh (tên riêng của phụ nữ khi chưa xuất giá) tưởng cũng nên nói qua về “nhạc phụ, nhạc mẫu”.

Nhạc phụ, nhạc trượng hay trượng nhân là bố vợ; nhạc mẫu là mẹ vợ. Chữ “nhạc” này chỉ áp dụng cho đàn ông khi nói về bố mẹ vợ, không áp dụng cho đàn bà khi nói về bố mẹ chồng.

Khi nói về bố mẹ chồng, chữ Hán Việt có hai tiếng khác, không thông dụng lắm, là “gia công” (cha chồng) và “gia bà” (mẹ chồng).

Ca dao Huế có câu:

Vì chồng phải nể mụ gia,

Chớ tôi với mụ có bà con chi!

“Mụ gia”đây chính là bà mẹ chồng.

Phụ nữ miền Nam cũng dùng chữ “ông gia, bà gia” khi nói về bố mẹ chồng.

Nam giới thì dùng và “ông nhạc, bà nhạc” khi nói về bố mẹ vợ.

Thỉnh thoảng tôi cũng nghe có vài ông nói về bố mẹ vợ: “ông gia, bà gia tôi”. Tôi hơi ngạc nhiên, cứ phải nhìn trộm, quan sát kỹ xem ông ta có dấu hiệu nào chứng tỏ đã giải phẫu đổi giống không, vì “ông gia, bà gia” là tiếng dành cho phụ nữ mới dùng khi nói về bố mẹ chồng”./.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here