. Minh Ðức Hoài Trinh

Thủy tổ của thư khế là sự vẽ vời, hoặc biên khắc, lên đồng, lên đá, lên giáp cốt (xương) hoặc tre gỗ.

Những thứ trên, chẳng biết thứ nào được loài người sử dụng trước. Hình như gỗ và tre được dùng nhiều nhất vì nó ngay tầm tay, dễ sử dụng, nhưng lại chóng bị hư hoại vì thời gian. Ngày nay, với những tiến bộ của văn minh khoa học, loại giấy thật tốt cũng khó qua khỏi tuổi thọ 100 năm. May nhờ có các nhà in để tái bản mỗi khi thấy một tác phẩm có giá trị bị mục nát.

Giáp cốt được phát hiện từ lâu, nhưng đa số chỉ được các trinh nhân sử dụng. Trinh nhân là các ông thầy bói, nhưng mấy ông này không có sự thống nhất phương pháp, mỗi ông ghi khắc một lối khác nhau gây khó khăn cho người đời sau.

Kim thạch là chất liệu thứ ba. Phạm vi bài này chỉ xin nói đến kim thạch, tức là hai thứ bền vững nhất. Kim là kim loại, là đồng, vàng, bạc, chì, sắt. Thạch là đá, là tất cả mọi thứ đá thường cũng như đá quí.

Người xưa rất sợ bị quên lãng nên phải nhờ đến kim, thạch. Người nào vừa mới làm được việc gì, ông hoàng vừa lên ngôi, bà chúa vừa mới xây được ngọn tháp, ngôi đền… đều vội vàng lo mướn thợ đến khắc lên chuông, lên bia kể lại chức vị hay công việc, tác phẩm của mình, vì chỉ có ghi lên đồng lên đá mới khỏi bị lãng quên, mai một. Cũng nhờ đó mà kim thạch học được nhiều trường phái nghiên cứu và nhiều bậc trí thức xưa học hỏi.

Văn tự của kim thạch học là một chuyên môn độc lập. Như những môn học khác, nó cũng có ba trình độ: Khảo đính, văn chương, nghệ thuật.

Kim là gì? Là những cái chuông, cái đỉnh, được gọi là cát kim, dùng để đúc đỉnh, chuông, binh khí, tiền tệ, ấn tỉ và cả những tấm gương soi mặt của nữ nhân.

Thạch là gì? Là lạc thạch, còn gọi là gia thạch hay trinh thạch ở những bia mộ của Lục triều (240 CN). Cả ba thạch trên đều đồng một nghĩa là nói đến thứ đá tốt, đáng giá, được chọn để làm bia, tượng.

Học kim thạch phải đi từ khảo đính cũng như bắt đầu từ bậc tiểu học. Rồi đến văn chương, theo thể chế nguyên thủy như mọi thứ văn chương khác, phải có chương cú, ngôn từ. Viết không thành văn thì dầu có là một tay bút tên tuổi cũng mất giá trị. Ở đây xin ghi thêm rằng chỉ có Đường Vũ Hậu Võ Tắc Thiên mới được viết bia vì việc viết bia đòi hỏi tài nghệ và kiến thức. Bà này có học và có thực tài.

Một tài liệu nào được ghi vào đá hoặc chuông đỉnh đều là tài liệu có giá trị, chân thật. Về sau người ta có thể đối chiếu nó với các tài liệu lịch sử để hiệu đính những chỗ sai lầm, nhất là về năm tháng, địa điểm, tên tuổi,v.v. Thí dụ như khi nhà Tần vừa khởi là đã được ghi lên đá do Thừa tướng Lý Tư viết.

Văn chương vốn có sự phân biệt giữa truyền thế và thọ thế. Truyền thế là lưu truyền lại cho thế hệ mai sau; thọ thế là sống lâu qua nhiều thế hệ. Kim thạch đều thọ cả hai cho nên khi tác giả đặt bút là phải “không tiền tuyệt hậu”, tức là phải tạo ra một tác phẩm đặc biệt độc nhất, trước sau đều chưa có. Tác giả không cần phải quyền cao chức trọng. Trường hợp Võ Tắc Thiên rất đặc biệt, vì người xưa không trọng tài năng và sự hiểu biết của đàn bà. Người viết bia phải có tài phủ phất, đầy hào khí. Vừa có tài vừa có khí mới có thể tung bút ra mà bắt đầu.

Văn chương của kim thạch có thể làm kinh thiên động địa, khống chế quỉ thần, không dễ gì được nhìn thấy. Người ta vẫn cho thư (chữ viết) là chủ, mà văn là khách. Văn của kim thạch có thể đính chính lịch sử, bổ khuyết những gì thất thoát, được gọi là tổ của văn chương.

Cái đặc sắc nhất của kim thạch là vẻ đẹp của thư thể. Nghệ thuật kim thạch học có nhiều biến hoá, rất đặc sắc. Các văn thần học sĩ, ông nào cũng lo học tập về kim thạch học, làm sao để trở thành chuyên môn. Được viết chữ ra làm mẫu cho người khắc lên chuông đồng bia đá là một niềm kiêu hãnh, vì sẽ tồn tại vĩnh viễn. Theo sự nghiên cứu thì từ Tam Đại đến nhà Nguyên có tất cả hơn một 18 ngàn loại chữ và cách viết. Các thư pháp danh gia có độ một 1540 mươi người.

Các nét điêu khắc trên ngọc và đá, chẳng hạn như trên các ấn tỉ, cực kỳ tinh xảo. Có thể bảo rằng trong nghệ thuật kim thạch, mỹ thuật đã có thần khí, làm người xem phải kinh ngạc, kính phục.

Việc ghi khắc lên chuông đỉnh hay bia tượng đòi hỏi những người thợ giỏi làm việc dưới sự trông coi, chỉ vẽ của một bậc nghiên cứu, trí thức, hiểu biết về ngành chuyên môn này.

 

Theo các tư liệu khảo cổ, thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) được gọi là “hữu kim vô thạch” vì khắc lên đồng nhiều hơn đá. Sang đến đời Tần Hán trở về sau là “hữu thạch vô kim” vì dùng đá nhiều hơn đồng. Vì vậy nghiên cứu thời Tam Đại thì không gì bằng đi tìm các thứ chung đỉnh. Nhưng khi cần nghiên cứu đời Tần Hán thì phải tìm đến các bia đá.

Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, Thủy hoàng bản ký ghi rằng có 6 nơi khắc thạch vào đời Tần. Đó là: Tần Sơn, Long Tà Đài, Chi Chúng, Chi Chúng Đông Quan, Kệ Thạch và Cối Kê.

Kim thạch học cực thịnh từ đời Chu đến Hán, Đường, Bắc Tống. Các khí vật về kim thạch của đời Bắc Tống được khai quật rất nhiều ở cao nguyên Mông Cổ, giúp các nhà chuyên môn hiểu thêm về một nghệ thuật cổ.

 

(Minh Đức Hoài Trinh)

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here