. Nguyễn Hữu Nghĩa (1988)

 

Hai năm 1986 và 1988, phong-trào sáng-tác của các cây bút nữ-giới đã đột khởi trong sinh-hoạt văn-học ở hải-ngoại.

Đây không phải là lần đầu-tiên các cây bút nữ đồng loạt “khuấy-động” trên diễn-đàn. Trước khi nhận-diện trào-lưu văn-học nữ-giới 87-88, chúng ta thử nhìn lại từ đầu thế-kỷ, theo dõi sinh-hoạt của những bóng hồng trong văn-giới, sẽ thấy đã có nhiều giai-đoạn, phái yếu đã làm chủ văn-đàn, chứ không phải đợi đến cuối thập-niên 80. Nhìn lại, chúng ta sẽ thấy những lý-do hoặc trực-tiếp hoặc gián-tiếp cấu thành tính-chất, hay ít nhất, cũng gây được ảnh-hưởng trên nội-dung của các tác-phẩm đời sau. Những nguyên-nhân tác-động ấy, hiển-nhiên không thu gọn trong biên-giới một nước, nhất là trong cái khung hạn-hẹp của một phái — phái nữ. Nhưng phải công-nhận một điều, là những người đồng tính-phái dễ nhạy cảm với những xúc-động và nếp suy-nghĩ của nhau hơn; dễ so-sánh, dòm ngó, xét-đoán tác-phẩm của nhau hơn, do đó có thể — có thể thôi — dễ bị ảnh-hưởng dây chuyền hơn.

Nói đến các nhà văn nữ (xin hiểu theo nghĩa gồm cả các tác-giả thơ, thơ xuôi, truyện, tiểu-thuyết, kịch, kịch thơ v.v…) trong thế-kỷ hai mươi, từ 1900 tới 1986, các nhà chép văn-học-sử không thể không chú-ý ba mốc thời-gian: 1928, 1966 và 1985, chia làm ba giai-đoạn: giai-đoạn 1928 tới 1966; giai-đoạn 1966 tới 1975, và 1975 tới 1986.

Chọn những năm này làm mốc để đánh dấu, vì vào những thời-điểm đó, các nhà văn nữ đã trình làng được nhiều tác-phẩm có giá-trị lớn, khả-dĩ gây được ảnh-hưởng về sau, hoặc tạo thành một hiện-tượng, hay một phong-trào.

1928 là năm tạp-chí Nam-Phong đưa ra Giọt lệ thu của Tương Phố. Thi-phẩm này được viết từ 1923, cảm-xúc từ tang chồng là ông Thái Văn Du, qua đời năm 1920. Tuyệt-tác-phẩm Giọt lệ thu chẳng những đã chứng-minh được tài-năng của tác-giả, mà còn có một sức thu-hút mạnh-mẽ đối với những tài-năng khác, làm lu-mờ cả những tác-phẩm văn xuôi khác của chính bà về sau, như Một giấc mộng, Mối thương tâm của người bạn gái), v.v. và các tác-gia cùng thời bà như Song Thu, Vân-Đài (trước 1930), Nguyễn thị Manh Manh (sau 1930).

Sinh-hoạt văn-nghệ nữ-giới bắt đầu lên mạnh vào khoảng 1940-1945 với Thụy An, Hằng Sơn, Mộng Tuyết, Ngân Giang, Thu-Hồng, Ái Lan, Anh Thơ (thơ), Tú Hoa, Đoàn Tâm Đan (tiểu thuyết) và Mộng Sơn (báo-chí). Tuy-nhiên, chính trong thời-khoản được coi như là mạnh nhất này, các nhà văn nữ cũng chỉ cho phổ-biến được ba tác-phẩm đáng được ghi-nhận, là Bóng mơ của Tú Hoa, Tố Mai của Đoàn Tâm Đan và Một linh-hồn của Thụy-Anh. Trong ba cuốn tiểu-thuyết này, chỉ có Một linh-hồn được Vũ Ngọc Phan giới-thiệu trong Các nhà văn hiện-đại, và tác-giả — Thụy An — là nhà văn nữ duy-nhất được xếp bên cạnh Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Thạch Lam, Trần Tiêu, Nhất Linh, Khái Hưng…

Đầu thập-niên 50, hai ngôi sao sáng chói mới chịu mọc trên vòm trời văn-nghệ nữ giới: Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, bên cạnh các cây bút tên tuổi khác như Hợp Phố, Thanh Phương, Thiếu Mai (về trước vài năm) và Minh Quân, Đỗ Phương Khanh, Nhã Ca (về sau).

Các tác-phẩm của nữ-giới trong giai-đoạn này hầu hết đều là truyện ngắn. Nguyễn Thị Vinh có Xóm nghèo, Hai chị em, Men chiều. Thu Vân in Đất mẹ, Màu mưa đêm. Linh Bảo có Tàu ngựa cũ. Quỳ Hương có trình làng Hai mối tình. Đỗ Phương Khanh cho xuất-bản Hương thu. Không có một thi-phẩm nào nổi bật trong thời gian này.

Tác-phẩm của nữ-giới bắt đầu từ thơ, chuyển dần sang văn xuôi. Mặc dù thời 50 có những tác-phẩm lớn như Thương yêu (Nguyễn Thị Vinh), Gió bấcNhững đêm mưa (Linh Bảo), nhưng phải đợi tới 1963 về sau, sinh-hoạt văn-nghệ nữ-giới mới dấy-động tới tầm-mức phong-trào. Sự lớn mạnh kéo dài cho tới 1966 thì lên tới cao-điểm.

Các khuôn mặt nổi bật thời đó có thêm Nhã Ca, Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Túy Hồng.

Nhã Ca (Trần thị Thu-Vân, 1939, Huế) với Đêm nghe tiếng đại bác trở thành tiểu-thuyết gia có nhiều tác-phẩm xuất-bản nhất lúc đó. Nguyễn thị Thụy Vũ (Nguyễn Băng Lĩnh, 1937, Vĩnh-long) bắt đầu nổi tiếng nhờ Mèo đêmLao vào lửa. Nguyễn thị Hoàng (1939, Huế) tạo nên bao nhiêu là tranh-luận văn-nghệ với Vòng tay học trò. Túy Hồng và Trùng Dương cũng đưa ra nhiều tác-phẩm làm lấn-át cả các cây bút nam-giới, xin xem ở phần sau.

Từ đó về sau, thêm Thiều Giang, Tuyết Nhung, Lệ Hằng, Hoàng Hương Trang, Tuyết Linh, Trần Thị Ngh., Hà Phương xuất-hiện, nhưng nhịp sinh-hoạt đã lắng xuống. Phái nam lại “vùng dậy”, đoạt lại ưu-thế làm mưa làm gió trên văn-đàn.

Sau biến-cố 1975, sinh-hoạt văn-nghệ trong nước đông cứng lại, tê-liệt, chưa kể còn bị tàn-phá, ăn mòn vì ngừng lâu không sáng-tác. Một phần nhỏ các nhà văn nữ thoát được ra ngoài, hoặc ở nước ngoài từ trước như Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, Túy Hồng, Trùng Dương,.. như chim xa đàn, trở thành những nhà văn không còn độc-giả, nên thôi viết. Tất cả đều đứng lại, trong khi dòng thời-gian cứ trôi qua.

Phải đợi đến 1978, 1979 trở về sau, phong trào vượt biên bằng thuyền và bằng đường bộ lên cao, người Việt tị-nạn ngày càng sang đông, phố-phường mọc lên, hội-đoàn, báo-chí đầy dẫy, phát-triển ào-ạt, trăm hướng, trăm ngả, văn-nghệ sĩ vượt thoát ngày càng nhiều, độc-giả cũng tăng, tác-phẩm ném ra có tiếng vang, có sự hưởng-ứng, dòng sinh-hoạt văn-nghệ lưu-vong ra đời, thói quen cầm bút tái hiện. Tuy-nhiên, trong những năm đầu thập-niên 80, phía các nhà văn nữ vẫn hầu như không có gì đáng nói. Mãi cho tới khi Linh Bảo đưa ra tập truyện ngắn Mây tần, Minh Đức Hoài Trinh cho in Bên ni bên tê, người đọc mới bắt đầu nhìn về phía nữ, và cho đến khi sinh-hoạt báo-chí Việt đi vào ổn-định, cùng với sự hoàn-chỉnh của máy xếp chữ Việt có dấu, số người đọc tăng-vọt, sinh-hoạt văn-nghệ bắt đầu khởi sắc.

Đột-nhiên, hầu như có hẹn-hò từ lúc nào, các nhà văn nữ lại đồng loạt xuất-hiện trong khoảng đầu 1985 tới 1986. Trần  Diệu Hằng tung ra cuốn Vũ điệu của loài công, được giới văn-giới chú-ý ngay. Lê Thị Huệ đưa ra tập Bụi hồng, Trương Anh Thụy in Của mưa gửi nắng, Kim Y Phạm Lệ Oanh giới-thiệu tập Kinh Thi, Quốc phong, dịch từ cổ-thư Trung-hoa.

Vào khoảng cuối năm 85, đầu 86, một loạt các cây bút nữ ào-ạt xuất-hiện từ Âu, Á, Mỹ, tung truyện ngắn như hoa xuân rộ nở trên Văn, Văn-Học, Làng Văn, cùng với sự tái xuất-hiện của các nhà văn nữ lớp trước như Vi Khuê, với thi-tập Cát vàng, Nguyễn Thị Vinh, Thanh Phương, với một số truyện ngắn đăng rải-rác trên các báo, Túy Hồng đưa ra Những sợi sắc không cùng Tay che thời-tiết. Tất cả đều đăng trên báo và một số được xuất-bản mấy năm sau đó.

Các nhà văn nữ lớp trước như Linh Bảo, ngoài truyện ngắn còn chuyển sang điêu-khắc, mặc dù các tác-phẩm mới của tác-giả Mây tần “hiện vẫn còn ở trong tình-trạng đất sét”, như tác-giả cho biết.

                Trùng Dương ngưng viết ít lâu, minh-họa Chinh-phụ-ngâm, rồi trở lại văn-đàn với tạp ghi ký tên con gái, Nguyễn thị Tiêu Dao và truyện ngắn, ký tên Thái Chân.

Cũng giống vào điểm nóng 1966, hầu hết tác-phẩm của nữ-giới trong giai-đoạn này là truyện ngắn. Có sự góp mặt của một vài nhà thơ nữ, như Trương Anh Thụy, Trần Mộng Tú, Đặng thị Quế Phượng, v.v. nhưng không gây thành một phong-trào sáng-tác về thơ.

Vào giai-đoạn 86-88, có chín nhà văn nữ thuộc lớp trước hiện ở hải-ngoại, là Thiếu Mai ở Úc, Thanh Phương ở Pháp, Nguyễn Thị Vinh ở Na-uy, Tú Hoa ở Gia-nã-đại, Linh Bảo, Túy Hồng, Trùng Dương, Minh Đức và Đỗ Phương Khanh ở Hoa-kỳ. Đây là những nhà văn đã góp nhiều công-lao cho văn-học Việt.

Lớp sau, có Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Nguyễn thị Ngọc Liên, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Hoàng Dung (tất cả đều ở Hoa-kỳ), Phan thị Trọng Tuyến ở Pháp và Nguyễn thị Hoàng Bắc ở trại tị-nạn Hương-cảng. Đặc-biệt, có hai người mới khởi viết trong vòng vài năm nay, nhưng tuổi đã ngoài ngũ và lục tuần, là Cỏ Tháng Giêng và Huyền Châu. Mặc dù mới xuất-hiện, những cây bút nữ-giới kể trên dã cho phép người đọc chờ-đợi ở họ với nhiều hy-vọng, qua lối viết, cách nhìn và kỹ-thuật dựng truyện của họ.

Trong phần này, tôi chỉ xin nói phớt qua về các đàn chị, và chú-trọng các khuôn mặt mới.

Trước hết là Trần Diệu Hằng (1952, Hà-nội), với số lượng tác-phẩm dồi-dào xuất-hiện đều-đặn trên các báo Tin Việt, Đồng nai, Văn, Văn-học Nghệ-thuật (bây giờ là Văn-Học), Tuổi Ngọc, Nhân-văn Làng Văn. Trần Diệu Hằng bắt đầu viết từ 1984, cho in Vũ điệu của loài công năm 1985, và Mưa đất lạ năm 1986.

Vũ-điệu của loài công được độc-giả đón-nhận khá nồng-nàn, nhờ giọng văn trong-sáng, dụng-ngữ giản-dị, lối dựng truyện cổ-điển. Truyện ngắn của Trần  Diệu Hằng là những nét phác-thảo cho bức tranh xã-hội đương-thời, mà cộng-đồng Việt là trọng-điểm. Bà tỏ ra nhạy-cảm đặc-biệt và chộp bắt được những rung-động bất-chợt, khai-triển một cách thông-minh.

Các nhà phê-bình văn-học thời-đại — đặc-biệt là giai-đoạn sau 75 — có khuynh-hướng xoáy mạnh vào yếu-tố lý-trí của tác-phẩm nghệ-thuật. Ảnh-hưởng nặng-nề của thời-thế khiến mọi tác-phẩm nghệ-thuật đều được nhìn qua lăng-kính đấu-tranh. Cho nên những tác-phẩm không trực-tiếp đóng-góp cho cuộc vận động tự do dân chủ đương thời đều bị coi là sản-phẩm phi nghệ-thuật. Qua 9 đoản-thiên trong Vũ điệu của loài công, ta có thể nói chắc rằng Trần Diệu Hằng đã chọn để đứng đúng vào vị-trí của một nhà văn tâm-lý, tình-cảm. Những ám-ảnh của mối sầu sâu kín xa quê nhớ nước đôi khi hé mở cho người đọc nhận ra khía-cạnh xã-hội trong các truyện ngắn sau này của bà. Bà cụ, Thao, bé Ti trong Chuyến xe về làng Đại-từ, hay Quế, Nguyễn Thị Thôi trong Rồi ngày vẫn mới, đều là những bóng-dáng quen thuộc trong cuộc đời chung-quanh, ở  một chốn không phải là quê-hương. Đọc hết quyển truyện, xếp sách lại, có một chút gì còn sót lại và quanh-quẩn trong lòng người đọc, thì đó là sự mong mỏi, chờ-đợi mơ-hồ như bà cụ trong truyện chờ-đợi một chuyến xe đưa về quê cũ. Chuyến xe sẽ đến, không bao giờ đến, hay đến một cách phũ-phàng, ngoài những chính-trị gia ra, không ai dám nói chắc. Nhưng sự mong-đợi vẫn còn đó, đeo-đẳng không thôi trong hầu hết các tác-phẩm của Trần Diệu Hằng.

Cùng lúc với Trần Diệu Hằng là Lê Thị Huệ (1953, Hà-tĩnh). Truyện ngắn đầu tay của bà là Cánh hoa trước gió đăng trên Văn-học Nghệ-thuật bộ cũ, năm 1979. Năm 1984 trình làng cuốn Bụi hồng. Nhà văn Mai Thảo cho rằng “truyện của Lê Thị Huệ hay vì bút-pháp và từ-ngữ vừa đơn-giản, vừa chính-xác, chuốt-lọc: “Còn hay vì tác-giả giữ vững được ngòi bút trong một giới-hạn nào đó rất vừa-vặn của truyện, tạo cho truyện được một không-khí sáng-láng rất văn-chương mà lại không có vẻ gì muốn làm văn-chương.”

                Đọc Bụi hồng, người ta có cảm-tưởng đi vào thế-giới tị-nạn mông-mênh giăng-mắc từ bên này sang bên kia bờ bến tự-do, ngay trên quê-hương, tù-ngục và xa lạ tới quê người, bơ-vơ. Trong 9 đoản-thiên trong tập truyện, Ghẻ biển là truyện trội nhất viết về cuộc đời, và Thiếu-nữ chờ trăng lên mới là tác-phẩm nói về cuộc tình. Một vịnh nước nông trên biển cả hãi-hùng. Một chỗ trú thân dưới cơn mưa cuồng nhiệt-đới. Một chỗ an-bình cho hai tâm-hồn quấn-quít yêu-thương. Trên nền-tảng đó, cuộc tình đơm hoa, kết trái. Lê Thị Huệ không hề có ý vạch một hướng đi cho giới trẻ, đòi đứng lên giải-phóng phụ-nữ hay diễn-tả một nếp sống nào đó. Bà đưa mỗi người về cái vũ-trụ riêng của chính họ, để đối-diện với chính mình, soi mình vào người trước mặt.

Tình-tiết trong truyện Lê Thị Huệ chỉ là những nét mờ-ảo, những cái cớ để trình-bày nội-tâm khúc-mắc của nhân-vật, nghe tiếng nói vọng lên từ một cõi sâu thẳm ngoài phạm-vi chủ-động của ý-thức. Cách này, bà đã ly-khai tiêu-chuẩn kỹ-thuật cũ, và nhờ vậy, làm nổi bật con người trong cõi sống. Dòng suy-tư ấy không ngừng dằn-vặt người viết lẫn người đọc trong một chuỗi u-sầu…

Trong số những nhà văn nữ mới xuất hiện, Phan thị Trọng Tuyến đã tạo được cho mình những đường nét riêng-biệt, và một sức hút rộng-rãi về phía người đọc. Bà sinh năm 1951, quê tại Bến Tre, dùng tên thật làm bút-hiệu, và mới gia-nhập làng văn từ tháng 3.1985, qua tác-phẩm đăng trên các báo Văn, Văn-Học Nghệ-ThuậtLàng Văn.

Nhân-vật của bà xây-dựng trong truyện không đòi hỏi phải theo một khuôn-mẫu nhất-định nào, mà tùy theo sự dẫn-dắt của ngòi bút, mỗi tên nhân-vật thường chỉ là một cái cớ để thay nhau trình-bày sự việc. Người dẫn đường, là tác-giả, không phải nhân-vật. Người đọc không bị đưa vào những ngóc-ngách hóc-hiểm, mà thênh-thang trên đường lớn, hoàn-toàn thoải-mái trong cuộc sống tự-tại, với những niềm vui hay nỗi bận-tâm không lấy gì làm dị thường, sâu hút. Nhưng từ những sự việc nhỏ-nhoi, tầm-thường nhất, dưới ngòi bút của Phan thị Trọng Tuyến cũng trở nên tươi-tắn, dễ chịu và lôi-cuốn.

Cùng một sự kiện, qua Trần Diệu Hằng, nó mang một nỗi buồn nhẹ-nhàng, kín-đáo. Với Lê Thị Huệ, nó dằn-vặt, buốt xoáy. Tới Phan thị Trọng Tuyến, bà loay-hoay phân-tích, mổ-xẻ, xoay-vần, khắc-phục và xoa tay khoan-khoái: xong rồi, có gì đâu! Cũng nên nói rõ, không có một cách nhìn nào đáng chê-trách, hay được coi như độc-đáo. Vấn-đề là phải có sắc-thái cá-biệt. Cả ba đều đã thành-công trong việc dẫn-dắt độc-giả vào thế-giới của riêng mình.

               

Những vầng trăng mới

 

Nếu bầu trời văn-nghệ hải-ngoại trong năm qua có rực sáng, thì sự đóng-góp công-lao của nữ-giới chẳng những không kém nam-giới mà còn có phần muốn hơn, với sự xuất-hiện của nhiều cây bút cự-phách. Mặc dù họ chưa có nhiều — hay chưa có — tác-phẩm xuất-bản, những chỉ với các truyện ngắn đăng trên báo không thôi, cũng đủ cho phép người ta xác-nhận tài-năng và kỳ-vọng vào họ.

Nguyễn thị Ngọc-Nhung (1955, Sàigòn) mới bắt đầu gửi truyện cho các báo hồi cuối năm 1985, và cũng được sự hưởng-ứng đặc-biệt của độc-giả. Bà viết khá đều tay, đưa vào tác-phẩm những mẩu sống ngoài cuộc đời, giọng văn chứa đựng tình-cảm dịu dàng. Tiến-trình trong văn-nghiệp của cô rộng mở, và rất nhiều hứa-hẹn.

Nguyễn thị Hoàng Bắc, cây bút nữ-giới được độc-giả lưu-ý ngay từ khi hãy còn sống trong trại tị-nạn (Hương-cảng). Bà ở tuổi ngoại tứ tuần, tốt-nghiệp giáo-khoa Việt-Hán tại Sài-gòn và đi dạy học. Vượt biên năm 1985, Hoàng Bắc tới Hương cảng và còn ở trại cho đến nay (1988).

Nguyễn thị Hoàng Bắc bố-cục truyện theo qui-tắc cổ-điển, các tình-tiết nối vào nhau thành những mắt xích liên-tục theo một trình-tự nhất-định, các diễn-biến tự nó vừa là một nút thắt, vừa là mối dây để cởi mở nút thắt ấy. Không khí văn chương Nguyễn thị Hoàng Bắc rất sáng, bạo-dạn, không cầu-kỳ, làm dáng, nhiều màu-sắc tự truyện, lối diễn-tả dí-dỏm, duyên-dáng và thoải-mái.

Ngoài ra còn có Hoàng Dung (Hoàng thị Ái-Thu, 1951, Huế) , Nguyễn thị Ngọc-Liên (Đà-nẵng), Vũ Quỳnh Hương, Phạm Thị Ngọc, Nguyễn thị Ngọc-Dung,.. có truyện đăng rải-rác trên các báo văn-nghệ đều có sắc-thái cá-biệt như những đóa hoa hương-sắc trong vườn văn hải-ngoại.

 

Các nhà thơ nữ

 

Ngoài Minh Đức Hoài-Trinh, Vi-Khuê, Kim Y, còn phải kể thêm Quỳ Hương, Tuệ Nga, Diệu An, Thanh Huệ, Nguyễn Thị Minh, Hương Khuê,.. thuộc các lớp trước; Trương Anh Thụy, Thanh Nhung, Linh Linh Ngọc nối-tiếp ngay sau đó. Lớp sau này có Trần Mộng Tú, Đặng thị Quế Phượng, Vũ Quỳnh Hương, Thanh Trúc, Thanh Hương,.. đều có lối đi riêng và tiến-trình tươi sáng của họ. Rất tiếc là các bài thơ đưa ra còn ở con số quá khiêm-nhượng, và chưa được tập trung in thành tập (dù là một tập gồm nhiều tác-giả) nên chỉ nổi tiếng trong văn-giới.

Nhìn lại sự đóng-góp tích-cực của nữ-giới, nhất là lãnh-vực văn xuôi, bên cạnh những nỗ-lực của nam-giới, trong vòng ba năm trở lại đây, người ta có thể kỳ-vọng lớn-lao vào tương-lai của dòng văn-học Việt-tộc lưu-vong.

Hơn mười năm sau khi sinh-hoạt văn-nghệ trong nước bị vùi-dập, người dân tan-tác, tản-lạc khắp bốn phương, ngày nay chúng ta có quyền hãnh-diện về sự khởi đầu tốt đẹp trong sự phục-hồi sinh-mệnh văn-chương, nhất là hiện-tượng “tứ đại đồng đường”, tre chưa già, măng đã lớn như hiện nay.

Ít ra, chúng ta có thể tin-tưởng một cách chắc chắn và mạnh-mẽ rằng, sự sống của văn-học lưu-vong chẳng những sẽ không bị thui-chột, tàn-lụi trong vòng hai hay ba mươi năm tới, ngược lại, còn mở thêm những bước tiến mới vô cùng tốt đẹp. Hai, hay ba mươi năm, khoảng thời-gian khá dài đó khả-dĩ đã đủ để đẩy cuộc cách-mạng nhân-bản hiện nay đến mức kết-thúc hầu tiến tới giai-đoạn kế-tiếp, giai-đoạn phục-hoạt nền văn-chương trong nước, đang thoi thóp trong nấm mồ xã-hội chủ-nghĩa.

(Nguyễn Hữu Nghĩa)

 

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here