Trong những bài thơ Vũ Hoàng Chương lưu lại, tôi xúc động nhất với “Mười hai tháng sáu”.

 

Thấy cụ đấm ngực thùm thụp thở than thảm thiết, có “sầu dựng mộ”, có “bia đề tháng 6 ghi 12”, “Mười năm thôi thế mộng tan tành”, rồi thì “tay vỗ vào bia mười ngón giập”, chuyển từ thơ bảy chữ mạnh mẽ, xung động, sang lục bát trôi xuôi, nhẹ nhàng như thôi khóc chỉ còn lại tiếng nấc ngậm ngùi, bi thương,.. tôi tưởng cụ khóc cho cụ bà sau mười năm hương lửa bỗng nhiên dọn ra nghĩa địa. Không phải! Mà là cụ “rủa” người yêu của cụ đi… lấy chồng. Thằng tôi ngẩng tò te… Mấy ông thi sĩ,.. ngộ thiệt! (nhn)

 

Mười hai tháng sáu

 

Riêng gửi Kiều Thu

 

Trăng của nhà ai? trăng một phương!
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường
Ờ, đêm tháng sáu mười hai nhỉ
Tố của Hoàng ơi! Hỡi nhớ thương.

 

Là thế, là thôi, là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyền ước?
Tố của Hoàng ơi! Tố của anh.

 

Tháng sáu mười hai – từ đấy nhé
Chung đôi – từ đấy nhé lìa đôi
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.

 

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai
Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của ai!

 

Tay gõ vào bia mười ngón giập
Mười năm theo máu hận trào rơi
Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp
Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi.

 

Kiều Thu hề Tố em ơi!
Ta đương lửa đốt tơi bời mái Tây
Hàm ca nhịp gõ khói bay
Hồ Xừ Xang Xế bàn tay điên cuồng

Kiều Thu hề trọn kiếp thương!
Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô
Xừ Xang Xế Xự Xang Hồ
Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên

Kiều Thu hề Tố hỡi em!
Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng
Xế Hồ Xang khói mờ rung
Nhịp vương sầu tỏa năm cung ngút ngàn…

 

Vũ Hoàng Chương

 

 

 

Tôi có làm thêm ngàn bài nữa, in thêm chục tập nữa cũng vẫn cứ không phải là thi sĩ. Đã nói vậy rồi mà. In cả ra giấy nữa. Nói có sách mách có chứng: trang 9, tập Cỏ Biếc:

 

“Anh bảo chữ tròn như cái kẹo

Bỏ lọ lắc ra xếp mấy hàng”

 

Bỏ chữ vô lọ, lắc lắc xốc xốc như xin xăm, chữ nào rớt ra thì lượm xếp lại cho có vần có vè. Gọi nó là “thơ”, cũng được, nhưng đừng gọi người lắc xăm là thi sĩ!

 

Cổ Bồn Ca là bài hát Trang Tử hát khi vợ chết.

Chương Chí Lạc trong Nam Hoa Kinh chép rằng vợ Trang Tử chết, Huệ Tử đến điếu, thấy Trang Tử ngồi xoạc hai chân vừa gõ bồn (盆: cái chậu) vừa ca.

Huệ Tử hỏi: “Vợ chết không khóc đã là quá lắm rồi! Lại còn vỗ bồn ca hát, không thái quá sao?”

Trang Tử đáp: “Lúc nàng mới chết, tôi cũng động lòng. Nhưng nghĩ lại, thuở trước nàng vốn không sanh, không hình, chẳng qua là tạp chất ở trong hư không biến ra mà có khí có hình, có sanh có tử. Khí, hình, sanh, tử, có khác nào xuân, hạ, thu, đông bốn mùa hành vận. Người ta đã nghỉ yên nơi cự thất (1) mà tôi còn than khóc tức là tôi không thông mệnh (không hiểu Đạo). Thế nên tôi không khóc.”

Từ chương sách mang tính triết lý vô vi này, đời sau thêu dệt thành chuyện Trang Tử giả chết thử vợ như sau:

Trang Tử đi đường, thấy một chị ngồi quạt nấm mồ đất chưa khô. Ông hỏi thì chị ấy cho biết là mộ chồng. Chồng chị trối rằng phải đợi mộ khô mới được lấy chồng khác. Vì vậy chị phải quạt cho đất mau khô, để sớm tái giá.

Trang Tử về nhà kể chuyện cho vợ. Vợ chê trách chị kia không chung thủy.

Trang Tử đột ngột chết. Linh cữu còn quàn trong nhà thì một thanh niên trẻ đẹp ghé vào, xưng là học trò cũ, xin ở lại lo ma chay cho trọn tình sư đệ.

Vợ Trang Tử sớm đem lòng yêu thương kẻ ấy. Đột ngột đêm đến, anh ta đau bụng quằn quại, nói rằng chỉ có sọ người mới chết đem mài uống thì khỏi ngay.

Vợ Trang Tử mau mắn đem chày vồ ra đập vỡ nắp hòm (săng), để lấy sọ chồng làm thuốc cứu tình nhân. Nắp hòm bật lên thì Trang Tử ngồi nhổm dậy, chàng trai biến mất.

Biết chồng dùng phép, giả chết thử lòng mình, người vợ xấu hổ, bèn tự tử.

Vợ chết rồi, Trang Tử vừa vỗ bồn vừa hát:

堪嘆浮世事,Kham thán phù thế sự,

有如花開謝。Hữu như hoa khai tạ.

妻死我必埋,Thê tử ngã tất mai,

我死妻必嫁。Ngã tử thê tất giá.

我若先死時,Ngã nhược tiên tử thời,

一場大笑話。Nhất trường đại tiếu thoại.

田被他人耕,Điền bị tha nhân canh,

馬被他人跨。Mã bị tha nhân khóa.

妻被他人戀,Thê bị tha nhân luyến,

子被他人罵。Tử bị tha nhân mạ.

以此動傷心,Dĩ thử động thương tâm,

相看淚不下。Tương khán lệ bất hạ.

世人笑我不悲傷,Thế nhân tiếu ngã bất bi thương,

我笑世人空斷腸。Ngã tiếu thế nhân không đoạn trường.

世事若還哭得轉,Thế sự nhược hoàn khốc đắc chuyển,

我亦千秋淚萬行。Ngã diệc thiên thu lệ vạn hàng.

Bản chữ Hán trên có thể có vài dị bản. Một người khuyết danh đã khéo léo dịch bài hát của Trang Tử sang tiếng Việt như sau:

Nên than ôi, thế sự,

Dường hoa đơm lại rã.

Vợ chết ắt ta chôn,

Ta chết vợ cải giá.

Ví bằng ta chết trước,

Một cuộc cười ha hả.

Ruộng phải người khác cày,

Ngựa phải người khác cưỡi.

Vợ phải người khác lấy,

Con phải người khác mắng.

Nghĩ lại chạnh tấm lòng,

Nhìn nhau khôn tuôn lệ.

Ðời cười ta chẳng bi thương,

Ta cười đời luống đoạn trường.

Việc đời khóc mà chuyển biến được,

Ta cũng ngàn thu khóc vạn hàng.

Từ chuyện thêu dệt trên, dân gian Việt Nam có câu:

Quạt mồ còn hơn bổ quan tài.

Hay là:

Thương thay cho kẻ quạt mồ

Ghét thay cho kẻ cầm vồ bửa săng.

Tích Trang Tử vỗ bồn ngầm chỉ người vợ không chung thủy, thiếu tiết hạnh.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here