CHÉM ĐÁ
. Sắc Không
Mở lời như chém đá
(Lễ Kinh)

Thơ và người
1.
Nhà thơ Bùi Giáng, tác giả thi phẩm lừng danh Lá hoa cồn, tức “…Hoa Cá”, vô cùng sửng sốt khi ông nhận được hai bài thơ bất hủ sau đây:
Khe
Khe về rú lạc đầu truông
rã năm ngón vốc nhỏ buồn gieo riêng
Dẫn xanh sai nhiếp tuổi miền
bướm xiêu phấn đổ, vọng tuyền phi âm
Gánh đau tuần quảy trăng ngầm
bờ phôi tin gió dựng nhầm cõi hoa
Cỏ em về rắc tháng ba
hồng in tin hạnh trang già xuống rêu.
Rú
Rú đầu khe lạc về truông
vốc năm ngón rã gieo buồn nhỏ riêng
Nhiếp sai dẫn tuổi xanh miền
phấn xiêu phi bướm vọng tuyền đổ âm
Trăng đau tuần quảy gánh ngầm
dựng bờ tin gió cõi nhầm phôi hoa
Rắc về em cỏ tháng ba
xuống in trang hạnh hồng già tin rêu.
Ông bèn đánh ngay fax sang cho Sắc Không, hỏi: “Ðâu ra cái thứ của quí vạy?” Sắc Không vị tình mà phải thưa thật: “Thằng Cu của nhà cái Ðĩ của mẹ Ðĩ nhà tôi nó xóc chữ ra hai bài trên từ bài thơ của ông đấy, quên rồi sao? Rất có thể, theo nhà văn Mai Thảo, thì trước và sau ba bài này: Không có Thơ!”
Thơ Bùi Giáng
Lạc về đầu rú khe truông
vốc năm ngón nhỏ gieo buồn rã riêng
Tuổi xanh nhiếp dẫn sai miền
đổ xiêu phấn bướm phi tuyền vọng âm
Tuần trăng quảy gánh đau ngầm
cõi bờ phôi dựng gió nhầm tin hoa
Em về rắc cỏ tháng ba
xuống trang hồng hạnh tin già in rêu.
2.
Cùng lúc, Sắc Không cũng nhận được “Thư của Viên Linh gửi các nhà văn Việt Nam” trong lúc Sắc Không đang mơ ước trở thành nhà văn nên “sướng quá, sướng quá”. Song, đọc đi đọc lại, cứ ngờ ngợ có một cái gì đó không ổn, vội quay số (714) 897-2559 để hỏi:
– Ông muốn thay đổi định chế Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, sao không thông qua tiếng nói của ban Ðịnh Chế mà trưởng ban là nhà thơ Lưu Nguyễn, ghi bên lề thư?
– Chưa liên lạc được với Thiên Thai!
Sắc Không chợt nhớ nhà văn Viên Linh, tác giả truyện Hạ đỏ, cũng là nhà thơ với tập Thủy mộ quan (Mồ cửa nước), vội hỏi tiếp:
– Làm văn thơ: lên. Làm chủ tịch: xuống. Ông nghĩ sao?
– Nghe đây, bài thơ mới nhất:
Muốn xuống nó cứ lên hoài
ngược đời chẳng thấy một ai giống mình
Vào tù ra tội vì tình
nước non xuống dưới, thân mình lên trên.
Âu đành Lạc thú lãng quên
vào nơi Thanh Hải ra tiền giấy bay
Hoá Thân từ bấy đến rày
xe bon Mã Lộ, Cúc bày Tà huy.
3.
Mỗi người Việt là một nhà thơ, trừ Sắc Không, một kẻ gần thành… nhà thơ, bởi “sở trường gồm rất nhiều sở đoản và sở đoản là chẳng có sở trường nào cả”. Ngay cái tên Sắc Không, nằm trong câu hỏi – dao chém đá có sắc không– cũng đủ sặc mùi quê rồi. Nào có biết chi về “sắc tức thị không, không tức thị sắc” trong Tâm Kinh nhà Phật, xin quí bạn đọc đừng hỏi gì cao xa thêm nữa.
Trong số những người cật vấn Sắc Không, hân hạnh thay có cả nhà văn Nhật Tiến, tác giả tập Chim hót trong lồng (có giê), hôm qua đã gay gắt hỏi Sắc Không:
– Này! Anh thấy tôi và Nguyễn Chí Thiện khác nhau ở chỗ nào?
– …
– Cứ nói! Giữa hai lằn đạn bắn ra. Một mình đi tới mà ta chẳng sờn. Huống hồ…
– Khác ở chỗ này: Bùi Nhật Tiến là nhân vật cai ngục trong thơ Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Chí Thiện là nhân vật bà sơ trong truyện của Bùi Nhật Tiến!
Chưa hết, nhà văn Nhật Tiến còn cố hỏi thêm:
– Người ta bảo ở hải ngoại này có “tam Bùi qui độc”. Hai người kia là Bùi Duy Tâm và Bùi Tín. Lạ thật, tên ba anh em chúng tôi, cùng khác cha mẹ, đều vần T. Nhưng anh thấy ai đáng mặt “đệ nhất độc”?
– Không dám. Nhưng nhà thơ Mậu Binh Hà Huyền Chi có một bài thơ nói về việc ấy. Ông có thể nghe…?
– Ðược!
– Tôi xin đọc:
Chó săn thua đứt chim mồi,
những tên cầm-bút-làm-bồi, gáy vang
Sông Ðà bọt nổi sớm tan
giả làm Mặt Thật càng tàn rụi nhanh
Quê Người hết em lại anh
ra công giấu vuốt, che nanh Quê Nhà
Sự thật sao không nói ra
bởi đâu con trẻ, người già đói ăn?
5.
Trong lúc nhà thơ Phạm Thiên Thư đang sống ở quê nhà, vẫn không làm cách nào cho in nổi tập bản thảo Trường ca Hồ Chí Minh, viết nắn nót, xong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Qua bài thơ mới nhất, gửi Sắc Không, giọng ông dường cay đắng, rất Ðoạn Trường Vô Thanh:
Sóng lòng bật nước toé ra
vô thanh nhường ấy mới là vô thanh
Ðào phai lá biếc tàn nhanh
máu se hạt đọng trên nhành quắt khô
Triều dâng ngọn bạc nhấp nhô
chân va ghềnh đá đầu xô tiếng thầm
Kiếp sau anh làm sóng ngầm
lật em thuyền úp chốn đầm đìa sương.
6.
Quen toàn các tay tổ, thú thật! Sắc Không xin nói thêm về tác giả Ðộng hoa vàng và Suối mây hồng: Trước 1975, vốn là thiền sư Tuệ Không, sau cởi áo dài nâu, ra đời lần thứ hai, thích làm thơ Tình và thơ Ðạo, ký tên Phạm Thiên Thư. Thường ông chỉ mơ ước được làm con chí trong mái tóc nàng Tây Thi. Nên nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật trên tờ Khởi hành ở Sài gòn, do nhà thơ Viên Linh làm chủ bút, đã cho đăng bài thơ sau đây:
Kiếp sau xin chớ làm người
làm con chí đực rong chơi tóc nàng
Em nằm ngủ Ðộng Hoa Vàng
Suối Mây Hồng mướt đôi hàng bờ xanh.
Sự đời qua cái liếc nhanh
chim chưa mở mắt, bướm đành ngậm sương.
Biết người còn cuộc tang thương
giấu trong hạt lệ vô thường đêm qua
Người về kinh tụng xót xa
trông toà sen lại tưởng toà …thiên nhiên.
Nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật, giờ ở Na Uy, cho biết nay đã già, lấy làm tiếc về những trò chơi chữ thời trai trẻ mà ông gọi là loại thơ lộn… hàng. Hiện ông có 500 bài Tục Thi, chỉ cho in sau khi chết.
7.
Chưa chắc gì Tục Thi đã “lộn hàng” bằng thơ Mai Thảo, trong tập Ta thấy hình ta những miếu đền, như:
Ðặt tay vào chỗ không thể đặt
vậy mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
cười tủm: “Còn thương đặt chỗ nào?”
Chỗ nào? Phải chăng cái chỗ mà trẻ con cũng biết song người lớn chẳng tiện nói ra. Hay là… đúng như nhà thơ Nguyên Sa đã tả:
Chỗ đào có lá sen xanh
bờ xa cỏ thấp nghiêng mình dáng sông.
Sắc Không đành phải cầu cơ bút, hồn nhà thơ Xuân Diệu hiện về. Rõ là Vua Thơ Tình:
Chỗ, mà anh đã đặt tay/
của em / ngày trước tới nay vẫn còn
Mưa nhiều / dẫu nhạt ngói son
rướn cong / mái cũ / từng hòn bám rêu
Mười năm tình cũ / càng yêu
lò tôn / đượm lửa than nhiều / nóng ran
Lòng em hè phố / mê man
tay thương đặt cả hai bàn / nhé / anh.
8.
Dù bài “Cười tủm” của nhà thơ Mai Thảo đã được ca kỹ Khánh Ly ngợi khen là “bất hủ, thiêng liêng, cao cả…” vẫn thua xa bài Thừa thắng xông lên của nhà thơ vĩ đại Hồ Chí Minh. Trong và ngoài nước đều chưa ai biết bài thơ này, trừ Bộ Chính Trị, được kể là Quốc Tế Thi Ca Chi Bảo, cấm phổ biến bừa bãi. Nhà thơ Sóng Hồng Trường Chinh Ðặng Xuân Khu, trước khi tạ thế đã gửi cho Sắc Không một bản sao “để lưu”. Người còn dạy: “Nhạc điệu dồn dập. Ý tứ xoắn xuýt. Hơi thơ keo quánh. Hổn hển. Hết ý!”
Khẩn trương lên! Khẩn trương lên!
dù không trăng, chẳng đóm đèn, sá chi
Khắc phục đi! Khắc phục đi!
bú mồm xong đến ôm ghì múa đôi
Cái cốc đứng, cái nồi ngồi
cà phê nhỏ giọt, mồ hôi vãi giòng
Hết hợp tác lại vần công
tình yêu giai cấp bần nông cực kỳ
Mai này lỡ Ðảng tan đi
vẫn lòng ơn Bác mất vì khẩn trương
Khắc phục còn tới bộ xương
rung lên bần bật trên giường nhân dân.
9.
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, vốn khó tính, vừa mới tới Mỹ đã vội lên tiếng:
Dân tộc còn đang quằn quại
dưới hầm chông
Ta làm sao có thể viết
lông bông
Ca ngợi cái đùi, cái ngực,
cái mông
Tán tụng mây trời hoa lá
viển vông
Vậy mà khi nghe bài Thừa thắng xông lên, ông cũng phải suýt soa: “Quả là cần phải có một định nghĩa mới cho thi ca Việt trong và ngoài nước, cuối thế kỷ 20. Thơ là cái ở dưới cái ngực, trên cái đùi và trước cái mông“. Nhưng nhà văn thời danh kiêm thi sĩ Milan Kundera, người Tiệp, trên tờ tạp chí văn học Figaro xuất bản tại Paris, lại nghĩ khác:
Cứ nhìn vào thơ phú
dù của dân tộc nào
Bạn sẽ hiểu vì sao
ta khinh hay quí họ./.