LA-TINH, “TỬ NGỮ” CHƯA CHỊU CHẾT
. nhn
Người ta phân biệt có hai thứ: sinh ngữ và tử ngữ. Sinh ngữ là ngôn ngữ “sống” còn được dùng và phát triển thêm mỗi ngày. Tử ngữ là thứ không còn ai dùng và không phát triển thêm, trong đó có tiếng la tinh. Nhưng, hiện nay, thế kỷ 21, vẫn còn rất nhiều từ ngữ la-tinh sống vững vàng trong các sinh ngữ khác (Anh, Pháp, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,..) Xét theo điều kiện “tiếp tục phát triển” thì la-tinh đã là tử ngữ, nhưng nếu xét theo điều kiện “còn được dùng” thì la-tinh vẫn là “sinh ngữ”. Nó còn sống, dù là sống nhờ vào sinh ngữ khác.
Chắc quí bạn không ngạc nhiên khi biết vẫn còn 51 ngàn chữ la-tinh, tức 30% của tổng số chữ trong tự điển Anh; nhưng bạn (và tôi) sẽ ngạc nhiên trước bách phân 70% trong tiếng Tây Ban Nha và 80% trong tiếng Pháp! Những số liệu này tuy không chính thức, nhưng được nhiều học giả và nhìn nhận. Ngay trong tiếng Đức cũng có 725 chữ la-tinh đang được dùng. Còn Việt Nam? Chắc bạn chưa quên hầu hết những chữ cái (mẫu tự) chúng ta đang dùng, ngoại trừ /y/ là chữ Hi-lạp, còn lại đều xuất phát từ chữ la tinh. Ở cuối bài, tôi sẽ nhắc đến một phương châm la-tinh danh tiếng trong tiếng Việt…
Để các bạn trẻ không phải thắc mắc lâu, hãy nói một chút về tiếng la-tinh.
Tiếng la-tinh được ghi nhận cách nay 3000 năm trong một bộ tộc nhỏ sống dọc theo hạ lưu sông Tiber ở Ý ngày nay. Sau đó, ngôn ngữ này lan truyền lục địa châu Âu và các vùng ven biển phía tây Địa Trung Hải của châu Phi trong thời kỳ phát triển tột đỉnh của đế chế La Mã. Thời đó, Kinh Thánh chỉ được in bằng tiếng la-tinh và bị cấm dịch ra bất cứ thứ tiếng nào khác.
Sau đây, chúng ta thử lướt qua một vòng các chữ và câu thông dụng la-tinh đang sống vững trên thế giới ngày nay.
“E Pluribus Unum”: “trong số nhiều, một” là phương châm (motto) không chính thức của Mỹ.
Veni, Vidi, Vici: Tôi đến, tôi thấy, tôi chinh phục
Câu này được gán cho Julius Caesar trong thông điệp gửi tới Thượng viện La Mã để mô tả chiến thắng của ông trước vua Pharnaces II của Pontus gần Zela vào năm 47 trước Công nguyên.
Status Quo: hiện trạng
Có nghĩa là “tình trạng hiện tại (của các công việc)”, được sử dụng chính yếu trong bối cảnh các vấn đề xã hội hoặc chính trị. Nó cũng có thể đề cập đến một “điều kiện không thay đổi”.
Crescat Scientia; Vita Excolatur: Khoa học Crescat; Vita Excolatur.
Đây là phương châm của Đại học Chicago (Mỹ), có nghĩa là “hãy để kiến thức phát triển ngày càng nhiều; và nhờ đó cuộc sống con người sẽ trở nên phong phú hơn.”
Carpe Diem: nắm lấy thời cơ
Đây là một trong những nhóm chữ la-tinh được dùng nhiều nhất, Carpe diem có nghĩa là “nắm bắt thời cơ”, nhưng cách hiểu rộng hơn là “sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng của bạn”.
Nhóm chữ la-tinh này lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm Odes của nhà thơ La Mã Horace (23 trước công nguyên). Carpe là một dạng của động từ nguyên thể carpō, có nghĩa là “nhặt” hoặc “nhổ”, vì vậy bản dịch theo nghĩa đen là “nhổ vào ngày [nó chín]”.
Vox Clamantis in Deserto: Tiếng kêu trong ở sa mạc
Nhóm chữ này được Đại học Dartmouth (Mỹ) sử dụng làm phương châm, có nghĩa là “tiếng kêu trong nơi hoang dã”. Những người sáng lập trường đại học đã mượn nó từ Ê-sai 40:3 vào năm 1769 và dùng cho tới nay.
In Vino Veritas: trong rượu nho có sự thật
Người ta sẽ để lộ sự thật sau một ly rượu vang trong lúc ba hoa quảng cáo một món hàng.
Persona Non Grata: người không được chào đón
Ban đầu câu này được sử dụng trong bối cảnh ngoại giao, khi một nhà ngoại giao nước ngoài được nước sở tại yêu cầu triệu hồi. Ngày nay, nó được sử dụng trong các tình huống cá nhân hơn – ví dụ: một người bạn lừa dối có thể sẽ là người không được chào đón trong nhóm bạn bè.
Leges Sine Moribus Vanae: luật pháp không có đạo đức là vô dụng
Đại học Pennsylvania sử dụng câu này làm phương châm…
Thế ra, trong tiếng Việt có chữ la-tinh không? Thời trước thì có. Trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức của VNCH từng có phương châm Cư An Tư Nguy, có nghĩa là lúc đang sống yên phải nghĩ tới (chuẩn bị cho) lúc gặp hiểm nguy. Trong thời gian mới mở trường, nguyên ngữ la-tinh được thêu trên phù hiệu của trường: Si vis pacem para bellum (muốn hoà bình phải chuẩn bị chiến tranh).