SÔNG TƯƠNG MỘT DẢI …NÔNG SỜ
. Nguyễn Hữu Nghĩa

Hồi nhỏ, tôi thuộc Kiều khá nhiều, nghịch đủ cách với Kiều (kể Kiều, ngâm Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều, bói Kiều và cả xuyên tạc Kiều (như “sè sè nấm đất bên đường” chẳng hạn), hay bảo phứa rằng Truyện Kiều ngắn ngủn, chỉ hai câu: “Trăm năm trong cõi người ta, Mua vui cũng được một và trống canh”. Tất nhiên là tôi trộm mất một chữ /i/ ở câu bát, nhưng ý nghĩa vẫn tròn đầy, đời ngắn lắm, vui chơi đi, chỉ vài trống canh là hết í mà!

LM Thích, cha đỡ đầu của cả ba tôi lẫn tôi, ghét Kiều đến độ đào đất đổ đi. Cậy là gia sư của Tổng thống Diệm lúc còn nhỏ, cha Thích thường gợi ý khuyên Tổng thống nên bỏ Kiều ra khỏi chương trình giáo khoa, vì lý do đạo đức. Sau này, cha cũng khuyên Tổng thống Thiệu như vậy, nhưng có lẽ chẳng ông nào nghe nên cô Kiều cứ còn phơi phới trong sách dạy trẻ.

GS Mục, vị đàn anh phóng khoáng của tôi không đến nổi mê Kiều, nhưng bỏ cả nửa đời để cạy cục sửa chữa những chữ nôm trong 3254 câu Kiều mà người đời thường đọc sai.

Có lần đang giữa bữa ăn, ông Mục đố tôi: “Nầy cậu có để ý câu ‘Sông Tương một dải nông sờ’ không nhỉ?

Tôi đáp: “Có chứ ạ! Em vẫn thắc mắc con sông to kềnh ấy, dài gần 950 cây số thì nông sờ thế nào được? Hai bà phi Nga Hoàng và Nữ Anh của vua Thuấn khi chồng chết đã nhảy xuống đó tự trầm để chết theo chồng. Sông mà “nông sờ” thì làm sao tự trầm được?”

Đến phiên ông Mục thắc mắc: “Chỉ thắc mắc thế thôi?”

Tôi thưa: “Dạ, chỉ thắc mắc thế thôi.”

Ông Mục phê: “Không tìm hiểu, thấy lạ mà không đặt vấn đề? Cậu này… hay thật!”

Người xưa bảo “hay thật” thì phải hiểu là …dở thật, quá dở! Nhưng sâu nông gì cũng là chuyện đâu đâu bên xứ nào, tôi có một tá vấn đề của tuổi trẻ để vui chơi, hơi đâu mà để ý đến những chuyện của cụ bà … Thúy Kiều?”

Ông Mục đặt bát xuống, với lấy giấy bút vẽ ngay hai chữ nôm to tướng, hỏi: “Hai chữ này cậu đọc như thế nào?”

Trời đất quỉ thần thiên địa ơi! Nét chữ thì trông quen lắm, nhưng chúng nó có thể nhận ra tôi chứ làm sao tôi nhận ra chúng? Thưa thật “em không biết” thì lại nghe “cậu này hay thật”. Tôi cũng liều nhắm mắt đưa…. tay chỉ đại một chữ: “Bác! Chữ này phải đọc “nung”, không phải “nông”. Chữ kia thì em không biết, nhưng cặp chữ nầy có thể là “nung sừ”, một chữ rất cổ mà có lần em nghe bà cố em nói: “Biển cả nung sừ, trời đất tối mù, biết lối nào mà đi!”

Hỏi: “Bà cố người ở đâu?”

Đáp: “Hà tĩnh”.

Ông Mục khua tay cười hớn hở: “Vậy thì đúng rồi! Nung sừ có nghĩa là mênh mông, mịt mù, bao la bát ngát, không phải là “nông sờ” như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Phan Ngọc, Xuân Phúc, Nguyễn Quảng Tuân đọc, hay “nông trờ” như Trương Vĩnh Ký đọc. Gì thì gì, nhất định không thể “nông”. Cậu đồng ý không? Thế thì tôi ghi vào sách nhé! Hai chữ nầy phải đọc là “nung sừ” theo Lê Hữu Mục và Nguyễn Hữu Nghĩa.

Tôi toát mồ hôi lạnh, thanh minh thanh nga liền: “Cái này… em ngáp phải ruồi bác ơi. Bác ghi là “Lê Hữu Mục” đủ rồi, đừng bêu đầu em lên đó.

Ông cụ không nói gì thêm, nhưng vài tháng sau, khi nhuận sắc cuốn “Truyện Kiều và Tuổi Trẻ” của ông Mục, Nguyên Hương hỏi tôi: “Sao lại có tên anh bên cạnh chữ nung sừ?” Tôi cười, bảo: “Bỏ ra đi.”

Sách in xong, bán hết, tái bản, bán tiếp, cả năm ba năm sau đó, ông Mục mới khám phá việc tôi âm thầm lấy tên ra. Ông nhìn tôi lắc đầu rồi gật gật: “Cậu này hay thật! Cậu này hay thật!”

Tôi cười cười, giải thích: “Vậy đi bác, tiện hơn. “Chúng nó” có đánh bác, em bênh. Thế hay hơn! Em dính chùm vào đấy, lấy ai bênh bác!”

Nhưng rồi cũng chẳng ai “đánh”. Vài năm sau, một số học giả trong nước dùng chữ “nung sừ” thay cho “nông sờ”, nhưng không ai dám nêu tên GS Lê Hữu Mục, vì lúc đó Làng Văn đã in cho ông cuốn “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký” nổ như bom giữa cung đình văn chương Hà Nội.

Hà Nội huy động 40 học giả làm việc ngày đêm để kịp ra sách chữa cháy, bênh “bác” và đấu tố GS Mục, đánh luôn tôi và tạp chí Làng Văn trong gần hai năm.

Mấy ông này, hay thật!

——————————–

May be an image of 2 people, people standing, people sitting and indoor
Ảnh: GS Lê Hữu Mục tặng chữ ký trong một buổi ra mắt sách “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký.” Người đứng là ông Đỗ Trọng Chu, Cao Ủy đặc trách định cư đồng bào di cư năm 1954. Hai cụ cùng sinh năm 1924 và đều đã qua đời.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here