Hôm nay, 17 tháng giêng, 47 năm ngày kỹ niệm cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974
Ngày này TQ đưa hải quân xâm lăng phần lãnh thổ trên biển của Việt Nam.
Những bí mật về cuộc chiến Hoàng Sa đã được CIA Mỹ giải mật từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước, đúng theo thông lệ quốc tế về “bạch hóa” những sự kiện thuộc diện “bi mật quốc gia”. Người ta thường bạch hóa các sự kiện “bí mật quốc phòng” sau 20 năm hoặc 30 năm tùy theo mức độ “tế nhị” của vấn đề.
Những năm trước đây (2013, 2014…) ta thấy các báo Tuổi Trẻ, Thanh niên… thường có những bài báo nhắc lại sự kiện lịch sử Hoàng Sa. Có bài báo không ngần ngại vinh danh những người lính VNCH nhân ngày 17 tháng Giêng. Các tập sách sử hiếm hoi xuất bản dưới thời GS Phan Huy Lê làm chủ biên cũng có nói đến sự kiện Hoàng Sa. Mục đích các bài viết như để nhắc nhở chúng ta rằng lãnh thổ Hoàng Sa là của VN và những người chiến sĩ VN đã anh dũng đổ máu để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia mình. Cho dầu TQ đã xâm chiếm vùng lãnh thổ này bằng vũ lực nhưng VN cương quyết không từ bỏ chủ quyền ở vùng lãnh thổ này. Hành vi sử dụng vũ lực của TQ xâm lăng lãnh thổ một quốc gia khác là vi phạm hiến chương của LHQ. Luật quốc tế không nhìn nhận các việc thụ đắc chủ quyền lãnh thổ bằng vũ lực.
Tuy nhiên, từ khi thủ tướng Phúc ký Quyết định số 1722 ngày 3 tháng Mười một năm 2020, vấn đề chủ quyền lãnh thổ, hải phận quốc gia trở thành một thứ cấm kỵ. Quyết định xếp vào hạng mục “tuyệt mật” các thông tin liên quan đến các quyết định của đảng và nhà nước về chủ quyền lãnh thổ, biển đảo… Từ nay ai bàn luận đến các đề tài này cũng đều có thể bị kết tội “tiết lộ bí mật” của đảng, hay nhà nước.
Hiển nhiên quyết định 1722 của thủ tướng là vi hiến.
Hiến pháp qui định “nước CHXHCNVN do nhân dân làm chủ” và “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Tức là quyền tối thượng (chủ quyền) về lãnh thổ, bầu trời, vùng biển v.v… của đất nước VN thuộc về toàn dân. Điều này được lý giải rằng bất kỳ một quyết định nào, nếu có liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, bầu trời và hải phận quốc gia, nếu không được Quốc hội bàn bạc và thông qua, tất cả đều vi hiến.
Hiến pháp qui định đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Điều này không hàm ý đảng viên muốn làm gì thì làm. Đảng và cán bộ đảng viên không có thẩm quyền đơn phương quyết định về các vấn đề liên quan tới lãnh thổ, hải phận, bầu trời… của lãnh thổ Việt Nam. Đơn thuần là vì đảng, cán bộ đảng viên không đại diện cho nhân dân VN.
Nghị định 1722 của thủ tướng đã vi hiến. Thủ tướng đã lạm dụng quyền lực khi đề ra những thứ luật lệ, thứ nhứt có mục đích bảo vệ các hành vi lạm quyền (nếu có) của đảng viên và cán bộ nhà nước trong quá trình thương nghị với TQ về ranh giới hải phận, không phận và chủ quyền lãnh thổ trên biển. Thứ hai cấm cản người có thẩm quyền trong nhân dân nói về luật, về lịch sử về chủ quyền lãnh thổ, hải phận quốc gia, không phận quốc gia…
Người dân có quyền đặt vấn đề: tại sao thủ tướng Phúc lại ra quyết định 1722 trong thời điểm này ?
Thực tế cho thấy từ lâu nay, trong bất kỳ lãnh vực nào, nếu xét thấy điều gì có hại cho uy tín hay có thể làm suy yếu sự lãnh đạo của đảng, thì họ sẽ ra luật để cấm. Đảng CSVN chỉ cho phép báo chí, học giả nọ kia… nói những gì mà họ muốn cho người dân biết mà thôi.
Luật hình sự VN có các điều cấm, như “lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhà nước”, hoặc là “làm, tàn trữ, phát tán thông tin nhằm chống nhà nước…” Các điều luật này có thể áp dụng bất cứ lúc nào để trấn áp, bắt bớ bất kỳ đối tượng nào. Vụ mới xử các nhà báo thuộc hội Nhà báo độc lập VN hoặc nhân sự thuộc nhóm Hiến pháp, bằng những bản án nặng nề, đã khẳng định điều này.
Nghị định của ông Phúc cho ta thấy sắp tới đảng CSVN sẽ có những nhượng bộ về chủ quyền lãnh thổ trên biển, hoặc về hải phận hay không phận quốc gia cho TQ. Những áp lực của TQ từ nhiều năm nay, từ kinh tế đến quốc phòng, cho thấy VN đã không thể kháng cự. Ngay cả “cuộc chiến các công hàm” xảy ra từ tháng Mười hai năm 2019 tại Văn phòng Tổng thư ký Liên Hiệp quốc. Việt Nam đã thua trận chiến công hàm này.
Do nghị định này, những sự kiện pháp lý và lịch sử liên quan đến Hoàng sa, mặc dầu đã 47 năm qua, những điều chưa nói ra hết, lại trở thành chuyện “tuyệt mật” của đảng và nhà nước.
Ở ý kiến ngắn trong bài viết này tôi sẽ không đề cập, hay tiên đóan cán bộ đảng viên CSVN sẽ nhượng bộ cho TQ về cái gì ở Biển Đông ?
Bài này có mục đích “vén màn bí mật” vì sao nhà cầm quyền CSVN luôn né tranh vấn đề Hoàng Sa ?
Nếu không có những nhà báo can đảm “xé rào” thì chuyện Hoàng Sa đến nay vẫn là chuyện xếp vào diện “tuyệt mật”.
Ý kiến của tôi là có nhiều lý do đã khiến cho nhà cầm quyền CSVN luôn tìm cách che dấu sự thật về vấn đề HS. Ở đây tôi chỉ nói hai điểm chính.
Thứ nhứt, về trách nhiệm “bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ”. Chính phủ VNDCCH do đảng CSVN lãnh đạo đã hai lần vô trách nhiệm trước sự kiện TQ dùng vũ lực xâm lược lãnh thổ Hoàng Sa của VN.
Lần thứ nhứt năm 1956. Lợi dụng sự non trẻ của Quốc Gia Việt Nam, thành lập theo Hiệp ước Elysée 1948. Chính phủ này được thành lập trong sự khủng hoảng nặng nề do thay đổi lãnh thổ và cuộc di dân vĩ đại sau 20 tháng Bẩy 1954. Quốc phòng không có mà ngân sách cũng không. Hải quân TQ chiếm TQ chiếm nhóm An Vĩnh. Hai năm sau, chính xác là 14 tháng Chín năm 1958, chính phủ ông Hồ ra công hàm công nhận vùng lãnh thổ này thuộc chủ quyền của TQ.
Lần thứ hai năm 1974, chính phủ VNDCCH đứng về phía TQ lúc quốc gia này xâm lăng nhóm Nguyệt Thiềm, chiếm trọn quần đảo HS.
Ta biết là sau Hiệp định Genève 1954, quốc gia Việt Nam bị phân chia tạm thời ở vĩ tuyến 17. Nhưng thực tế thì ta thấy phát sinh hai chính phủ quản lý hai vùng lãnh thổ của VN với ranh giới là sông Bến hải. Cả hai chính phủ đều tự nhận là đại diện của một “quốc gia VN độc lập, thống nhứt ba miền” với “lãnh thổ VN chạy dài từ Nam quan đến mũi Cà mau”.
Nếu đứng trên quan điểm “lãnh thổ VN từ Lạng sơn đến Cà mau” như nội dung của hiến pháp VNDCCH, người dân và chính phủ hai miền tất cả đều có trách nhiệm như nhau trong công cuộc bảo vệ lãnh thổ Hoàng Sa.
Trong cuộc chiến HS ngày 17 đến 19 tháng Giêng 1974 ta thấy, về phương diện quốc tế, chính phủ VNDCCH ở Hà Nội luôn giữ thái « im lặng » trước hành vi TQ xâm lăng HS. Thái độ « im lặng » của VNDCCH trong trường hợp này được xem là sự « đồng thuận mặc nhiên».
Còn trên thực tế, quân của MTGPMN và bộ đội miền Bắc đứng chung một chiến tuyến với quân Trung cộng, tất cả hợp sức trên mọi mặt trận, từ rừng núi đến đồng bằng rồi ra đến biển, để đánh lại quân VNCH.
Trong khi trách nhiệm về “bảo toàn lãnh thổ” bắt buộc chính phủ VNDCCH phải có một lập trường rõ rệt, bằng hành vi quân sự hay bằng văn bản ngọai giao, chống lại, hay lên án hành vi TQ xâm lăng lãnh thổ của VN bằng vũ lực.
Ta có thể cho rằng, trong vấn đề Hoàng Sa, chính phủ VNDCCH ở Hà Nội đã vô trách nhiệm trong vấn đề bảo toàn lãnh thổ.
Thứ hai, sự hiện hữu công hàm 14 tháng Chín năm 1958 của Phạm Văn Đồng. Đây là một văn kiện ngoại giao, giữa hai nhà nước có công nhận lẫn nhau, đó là nhà nước VNDCCH và nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa. Văn kiện này có nội dung công nhận hải phận 12 hải lý của TQ ở các đảo Tây sa và Nam Sa (tức HS và TS của VN).
Công hàm 1958 của VNDCCH có giá trị pháp lý ràng buộc hay không, chuyện này sẽ bàn lại nếu có dịp. Nhưng giữa hai nhà nước có công nhận lẫn nhau, trên lý thuyết, văn kiện này có giá trị thi hành.
Như vậy hành vi chiếm HS của TQ, thay vì là hành vi xâm lược, vi phạm hiến chương của LHQ, nhờ công hàm 1958 của PVĐ lại trở thành một hành vi “giải phóng một vùng lãnh thổ của TQ bị VNCH xâm chiếm bất hợp pháp”.
Trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ Hoàng Sa từ 17 đến 19 tháng giêng năm 1974, các bằng chứng lịch sử và pháp lý nhắc lại cho thấy đảng CSVN đã chọn đứng về phía TQ để chống lại VNCH, tức chống lại hành vi của nhân dân miền Nam bảo toàn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam.
Rõ ràng đây là một hành vi tiếp tay kẻ địch chiếm đoạt lãnh thổ quốc gia. Nếu chiếu theo luật hiện hành của nhà nước CHXHCNVN thì chính phủ VNDCCH đã phạm vào trọng tội “phản bội tổ quốc”.
Theo tôi hai lý do vừa dẫn đã khiến nhà cầm quyền CSVN liên tục 47 năm đã cấm đoán tất cả những ý kiến muốn nói về Hoàng Sa. Việc cấm đoán này đến nay không thấy có dấu hiệu sẽ chấm dứt.
___________________________________________________
Tại sao các lãnh đạo quân đội Mỹ cảm thấy họ phải giữ vững lập trường?
Cuộc bạo loạn chết người tại Điện Capitol cuối cùng đã kéo Bộ Tham mưu trưởng Liên quân, tập hợp các nhà lãnh đạo quân sự cấp cao nhất của Mỹ, vào một cuộc khủng hoảng chính trị chưa từng có.
Trong suốt nhiệm kỳ của tổng thống Trump, các vị tướng bốn sao hàng đầu đã kiên định rằng Ngũ Giác Đài sẽ không can dự vào chính trị – ngay cả khi Trump liên tục cố gắng vận hành nó theo quỹ đạo đảng phái. Nhưng sau vụ bạo động kinh hoàng tại Điện Capitol tuần trước và những hình ảnh về cuộc nổi dậy được chiếu khắp thế giới, các thủ lĩnh cảm thấy họ phải lên tiếng, đặc biệt là đưa thông điệp của họ tới quân đội Mỹ.
Các trợ lý hàng đầu của Tướng Mark Milley, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng, bắt đầu soạn thảo “Bản ghi nhớ cho Lực lượng chung”, và vào đầu ngày thứ Ba, các tướng lĩnh đã họp để hoàn thiện thông điệp của họ.
Đây là cuộc họp quan trọng thứ hai của họ trong vòng chưa đầy một tuần.
Sau cuộc bạo động, họ đã gặp nhau để nói về những gì đã xảy ra và chặng đường phía trước. Về hình thức, đây là một lời nhắc nhở đối với quân đội trên toàn thế giới. Thông điệp được đưa ra: “Chúng tôi ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp. Bất kỳ hành động nào nhằm phá vỡ quy trình lập hiến không chỉ chống lại truyền thống, giá trị và lời thề của chúng tôi mà còn vi phạm pháp luật.”
Nhưng các quan chức quốc phòng cho biết rõ rằng bản ghi nhớ sẽ được đọc trên toàn cầu. Họ có nhiều điều để nói và từng từ đã được chọn lọc cẩn thận.
Các tướng lĩnh không theo đảng phái, nhưng họ có lựa chọn phù hợp với môi trường chính trị. Họ biết khi nào thì đến lúc họ phải lên tiếng, như họ đã làm sau các cuộc biểu tình kỳ thị chủng tộc năm ngoái. Và họ biết rằng bản ghi nhớ này sẽ khiến họ bất hòa với Trump vài ngày trước khi ông rời vị trí tổng tư lệnh.
Bản ghi nhớ của các tướng lĩnh quân đội cũng đưa ra điểm mấu chốt rằng “quân đội Mỹ sẽ tuân theo mệnh lệnh hợp pháp” từ giới lãnh đạo dân sự.
Đây có thể là dòng quan trọng nhất cần nhớ.
Các tướng lĩnh và chỉ huy tác chiến trên khắp thế giới đã suy nghĩ về những gì họ sẽ làm nếu Trump ban hành một lệnh bất hợp pháp, và câu trả lời rất đơn giản: Họ sẽ bất tuân mệnh lệnh,theo một số quan chức Ngũ Giác Đài.
Quân đội Hoa Kỳ được huấn luyện để chỉ tuân theo mệnh lệnh hợp pháp. Nhưng trong trường hợp bị thử thách, sẽ không ai công khai nói về việc các thủ lĩnh sẽ từ chối một mệnh lệnh bất hợp pháp như thế nào trong trường hợp Trump sẽ ban hành lệnh.
Nhưng bên trong giới lãnh đạo cao cấp hiểu rõ rằng: Để hợp pháp, một mệnh lệnh hành động quân sự phải có mục tiêu hợp lệ, nó phải hợp lý và có đạo đức, và vũ lực chỉ được sử dụng trong trường hợp cần thiết.
Các chỉ huy chỉ đơn giản là không thực hiện các cuộc tấn công hạt nhân, bỏ bom và phóng tên lửa, hoặc gửi quân đội đến nơi nguy hiểm mà không có lý do chính đáng cho hành động quân sự.
Các mệnh lệnh của tổng thống đưa ra sẽ qua phải nhiều tầng xem xét pháp lý để đảm bảo các chỉ huy có thể thực hiện các mệnh lệnh trên.
Liệu khi một mệnh lệnh bất hợp pháp được đưa ra thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Các luật sư và ban lãnh đạo Ngũ Giác Đài sẽ giải thích với tổng thống lý do tại sao lệnh này không hợp pháp.
Nếu tổng thống vẫn không lùi bước, thì không có lựa chọn nào khác. Các chỉ huy phải từ chức. Luật pháp nghiêm cấm họ thực hiện các mệnh lệnh bất hợp pháp. Bằng cách đưa ra lời từ chức, các tham mưu trưởng đã có câu trả lời riêng tư lẫn công khai về tình huống phải đối mặt.
Nhưng điều đáng lo ngại là không ai biết Tổng thống có lắng nghe hay không.
____________________________________________________

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here