.Hoàng Hải Thủy
LTS: Xin quí bạn lưu ý: Loạt bài này đã đăng tên báo Làng Văn và in thành sách, có tính cách “phiếm đàm” hay “biếm văn” hơn là biên khảo hay nghị luận, xin đừng dùng làm tài liệu nghiên cứu cổ văn.
Kỳ 1
Thúc Kỳ Tâm, Công tử Vô Tích
Thúc Kỳ Tâm, Công tử Vô Tích, được giới thiệu về cuộc đời “ái tình và sự nghiệp” bằng bốn câu:
Khách du bỗng có một người
Kỳ Tâm họ Thúc cũng nòi thư hương
Vốn người huyện Tích, châu Thường
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng Lâm Tri
Sai. Thúc Kỳ Tâm là con nhà tạp hoá – người Bắc kỳ những năm 40 gọi những nhà bán hàng hoá tạp nhạp mấy sợi giải rút, cây kim, ống chỉ, cục pin đèn, lưỡi câu, dây câu, lọ mực,.. này là hàng xén, tạp hoá; người Nam kỳ cũng những năm 40 gọi theo Ba Tàu là tiệm chạp phô – Thúc Kỳ Tâm không thể là con nhà thư hương được. Anh bố của Kỳ Tâm là nhà buôn gia truyền. Không thể gọi những người “nòi thư hương” là những anh có đi học lõm bõm năm ba chữ. “Nòi thư hương” phải là “thư hương” từ đời ông, đời cha…
Nguyễn Du dùng hai chữ “thư hương” hơi nhiều trong Kiều. Trước Thúc Kỳ Tâm, ta thấy Sở Khanh cũng:
Một chàng vừa trạc thanh xuân
Hình dung chải chuốt, áo khăn dịu dàng
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh.
Nhưng đây là Kiều tưởng lầm Sở Khanh là con nhà thư hương – nhà có học – qua diện mạo và trang phục của tay chơi phóng đãng họ Sở. Kiều tưởng lầm thì có thể chấp nhận được, nhưng Thúc Kỳ Tâm được Nguyễn Du giới thiệu rõ ràng là “con nhà thư hương” thì cần phải xét lại.
Anh con nhà buôn Thúc Kỳ Tâm đẹp trai, hào hoa phong nhã không kém gì Công tử Bắc Kinh Kim Trọng. Anh còn hơn Kim Trọng hai điểm:
– Có vợ.
– Biết mần thơ.
Và như những nhà thơ lớn sẵn sàng mần thơ một cách dễ dàng ở mọi nơi, mọi lúc, Thúc Kỳ Tâm đã mần thơ khi Kiều tắm. Công tử Kim Trọng chơi đàn ghi-ta, vẽ vời cây thông cây tùng, nhưng không mần thơ được. Bằng chứng cậu phải nhờ Kiều mần giùm mấy câu thơ đề lên bức họa:
Trên yên bút giá, thi đồng
Ðạm thanh một bức tranh tùng treo trên
Phong sương được vẻ thiên nhiên
Mặn khen nét vẽ càng nhìn càng tươi
Sinh rằng: “Phác họa vừa rồi
Phẩm đề, xin một vài lời cho hoa”
Tay tiên gió táp, mưa sa
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
Tôi nghĩ: Thơ phải để cho những thi sĩ chân chính mần, bọn con nhà buôn chẵn buôn lẻ dính vào thơ làm bẩn thơ, làm thơ mất giá. Năm mươi năm xưa, thi sĩ Nguyễn Bính đã phải ngán ngẩm:
Trọc phú ti toe bàn thế sự
Ðĩ già tấp tểnh nói văn chương
Ðã coi đồng bạc to hơn núi
Lại học đòi theo thói Mạnh Thường…
Một đêm tại ngục vịnh Kiều, tôi tưởng tượng ra cảnh chiều mùa hạ, trời nóng, ở lầu Ngưng Bích, Kiều tắm:
Dưới trăng quyên đã gọi hè
Ðầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một toà thiên nhiên
Sinh càng tỏ nết càng khen
Ngụ tình tay thảo một thiên Luật Ðường.
Thúc Kỳ Tâm có thể làm nhiều việc thích hợp với việc Kiều tắm, nhưng y lại mần thơ. Thơ của những anh con nhà tạp hoá loại Thúc Kỳ Tâm là thứ thơ dỏm, cóc nhái, ễnh ương, thằn lằn, cắc ké, kỳ nhông. Thúy Kiều chắc phải ngán ngẩm đến buồn nôn vì thơ phú của người tình con nhà tạp hoá. Nàng ngấy người nên nàng – một cân mần thơ – mới giả vờ nhớ nhà để tránh phải làm thơ thù tạc. Tôi thay nàng làm bài thơ vịnh Thúc Sinh mần thơ:
“Lòng còn gửi áng mây Hàng
Hoạ vần xin hãy chịu chàng hôm nay”
Người hay ngợm? Lạ lùng thay!
Thang lan em tắm nửa ngày hạ thiêu
Thấy em tắm, chẳng thèm yêu
Giở trò con khỉ con tườu… mần thơ!
Thơ gì? Thơ ngẩn, thơ ngơ
Thơ con cá lóc lập lờ cửa hang.
I tờ em biết tài chàng
Lời lời rau muống, hàng hàng mắm tôm.
Thơ chàng… hán cũng như nôm
Quẳng ra con vện, con xồm đều chê
Tứ thơ thì trật …môn lề
Mà niêm với luật …lộn mề tanh banh
Chán chường em nói loanh quanh:
– Nhớ nhà, em phải …lộn vành hôm nay!
Môn đăng, hộ đối
Thúc Kỳ Tâm là con nhà buôn – xã hội phong kiến đời Gia Tĩnh triều Minh coi khinh bọn con nhà buôn nhất. Trong bốn thành phần xã hội, bọn buôn bán được xếp hạng bét: Sĩ, Nông, Công, Thương.
Nhưng vợ Thúc Kỳ Tâm con nhà tạp hoá lại là:
Vốn dòng họ Hoạn danh gia,
Con quan Lại bộ tên là Hoạn Thư…
Nhà mẹ Hoạn Thư có treo tấm bảng “Thiên Quan Chủng Tể” trước đôi mắt ngỡ ngàng của Thúy Kiều bị bắt cóc đưa đến:
Ngước trông toà rộng, dãy dài
“Thiên Quan Chủng Tể” có bài treo trên.
“Thiên Quan Chủng Tể” là mỹ danh để gọi các ông Tể tướng. Như vậy ông thân sinh ra Hoạn Thư “ở ăn thì nết cũng hay, nói lời ràng buộc thì tay cũng già” từng làm tể tướng. Ngày xưa – ở vào cái thời Gia Tĩnh triều Minh thế kỷ thứ mười bốn, mười lăm ấy – người đương thời phân biệt và tôn trọng giai cấp rất chặt chẽ. Thời bi giờ người ta thường thấy những ông thạc sĩ con nhà tỉ phú du học ở Ăng-lê, Phú-lang-sa về yêu và nhất định kết hôn với những em thợ may, thợ uốn tóc chợ Bàn Cờ, Cầu Muối; những ái nữ con nhà tỉ phú nằng nặc đòi làm vợ những chú tài xế chuyên nghiệp – những chuyện tình không chia giai cấp này được thể hiện nhiều nhất, trung thực nhất, sôi nổi nhất, nồng nàn nhất, đam mê nhất, trong những tiểu thuyết do những dzăng sỡi nhà nghề viết ra – nhưng đó là chuyện thời bi giờ. Còn chuyện ngày xưa, chuyện tình năm sáu trăm năm trước, người ta còn trọng cái gọi là “môn đăng, hộ đối” lắm lắm.
Con nhà công, hầu, khanh, tướng kết hôn với con nhà công, hầu, khanh, tướng. Chuyện đó chắc như bắp rang, chắc hơn cua gạch. Con gái tể tướng không thể về làm dâu nhà buôn tạp hoá đứng hạng bét trong bốn nấc thang xã hội. Nhưng em Hoạn Thư, con gái quan Tể tướng, đã trở thành con dâu của me sừ Thúc ông phó thường dân chủ tiệm chạp phô. Tại sao? Gần hai trăm năm nay chúng ta đọc Kiều, yêu Kiều, tưởng tượng ra Kiều, đấu hót, tán nhảm, viết vung vít về Kiều, nhưng ít có ai thắc mắc đến chuyện tại sao lại có cuộc hôn phối hết sức hổng môn đăng, hộ đối một ly ông cụ nào như cuộc hôn nhân Hoạn Thư, ái nữ Tể tướng, với Thúc Kỳ Tâm, công tử chạp phô?
Công tử Hà Ðông, anh em cùng vợ với con trai Bà Cả, bèn vận dụng công phu duy vật biện chứng Ăn Ðong để phân tích cuộc hôn nhân Tể tướng – Chạp phô của Hoạn tiểu thư và Thúc công tử. Ðại khái như sau:
Gia đình Hoạn Thư đã suy sụp – sự kiện này hơi khó chấp nhận vì mới đời ông bố làm Tể tướng, ông này có ngủm củ tỉ đi nữa thì bà vợ, cô con đâu đã hết sản nghiệp nhanh đến như thế – gia đình nhà buôn họ Thúc tuy không có danh vọng nhưng có tiền. Giai cấp gian thương đang lên chân, đang dần dần trở thành có thế lực trong xã hội. Hoạn Thư kết hôn với Thúc Kỳ Tâm vì tiền của nhà họ Thúc, Thúc Kỳ Tâm lấy Hoạn Thư làm vợ vì danh tiếng của nhà họ Hoạn.
Cũng được thôi, cũng đúng thôi. Ở đời ai cần cái gì thì đi tìm cái ấy. Họ Hoạn cần tiền, họ Thúc cần được kính nể. Ðôi bên trao đổi sòng phẳng, hợp tình, hợp lý.
Năm xưa, những năm môi tôi còn thắm, tóc tôi còn xanh, mắt tôi còn sáng, tim tôi còn nóng… tôi cũng như mọi người, tôi chẳng ưa gì cái gọi là “môn đăng, hộ đối”. Không những chỉ không ưa, tôi còn chống đối kịch liệt những cuộc hôn nhân định đoạt theo tiêu chuẩn “môn đăng, hộ đối” ác ôn côn đồ. Không những chỉ chống đối mà thôi, tôi còn hoan nghênh, tán thành đến cùng những cuộc tình con gái Ðại tá – Binh nhì Chá xế, Kỹ sư – Thợ may, Thạc sĩ Kinh tế – Nữ thư ký đả cơ khí tự, v.v. Nhưng khi
Năm nay mái tóc không xanh nữa
Tôi đã đau thương, đã nợ nần…
Khi tôi bằng ông Khổng Tử năm ông thốt ra câu để đời “lục thập nhi nhĩ thuận”, hình như tôi lại có ý nghĩ khác về cái gọi là “môn đăng, hộ đối”.
Kính thưa quí vị nữ độc giả ái mộ thân mến thơm hơn múi mít. Xin quí vị bình tâm xét lại. Ta chẳng nên hung hăng con bọ xít chê bai, chống đối tất cả những kinh nghiệm sống của những người đã sống, đã yêu, đã hai năm mươi, xuôi sáu tấm trên cái cõi đời này trước chúng ta. Hôn nhân dựa trên tiêu chuẩn “môn đăng, hộ đối” coi bộ tốt, coi bộ đúng lắm đí chứ? Có gì là sai trái khi những người cùng một hoàn cảnh gia đình, cùng một giai cấp, cùng một nghề nghiệp… kết thân, kết hôn mí nhau? Quân tử tàu, những người khôn dàng trời, tối đất, có lời khuyên minh triết xanh rờn về việc cưới vợ, gả chồng cho con như vầy:
– Cưới vợ cho con trai mình thì nên chọn con gái nhà nào kém nhà mình để con vợ nó về nó sợ nhà mình.
– Gả chồng cho con gái thì nên chọn nhà nào hơn nhà mình để con gái mình nó không khinh thường nhà chồng nó.
Chí lý quá xoá, phải không ạ? Chí lý đến nỗi ở trên cái cõi đời này không còn gì có thể chí lý hơn được nữa. Thúc Kỳ Tâm, con nhà tạp hoá, nếu lấy vợ cũng con nhà tạp hoá thì đâu có chuyện sợ vợ đến khốn khổ khốn nạn, thảm kịch chết đi sống lại vì mất vợ bé đâu có xảy ra. Làm sao những nỗi đoạn trường ghê gớm có thể đến với cuộc đời Thúc Kỳ Tâm tạp hoá nếu vợ Kỳ Tâm là con gái một ông chủ chạp phô nào đó ở chợ Bàn Cờ, một nhà vẫn phải lấy hàng hoá gối đầu của nhà buôn họ Thúc tổng đại lý chợ Kim Biên? Chị vợ Thúc Kỳ Tâm con nhà chạp phô nhỏ này sẽ sợ chồng một phép. Không những chỉ sợ mà thôi, chị còn mừng khi thấy chồng có vợ bé để chị yên thân ở nhà nuôi con, ăn heo quay, xá xíu béo mầm, quanh năm ngồi xem phim tình cảm Quỳnh Dao Tài Oăn ướt lướt thướt, năm bữa nửa tháng chờ anh chồng hào hoa phong tình về thăm hỏi năm bảy phút nhấp nháy cò con…
Cuộc hôn nhân tốt đẹp, êm đềm ấy là cuộc hôn nhân đặt căn bản trên tiêu chuẩn “môn đăng, hộ đối”. Nhưng thay vì con nhà buôn hạng bét phải lấy vợ cũng con nhà buôn hạng áp bét, Thúc Kỳ Tâm – đúng ra phải kể là anh bố nhà buôn háo danh ngu đần của Thúc Kỳ Tâm – đã với cao hơn đầu, đã thực hiện một cuộc hôn nhân “môn bất đăng, hộ bất đối”. Và chính vì thế mà Thúc Kỳ Tâm sợ Hoạn Thư hơn sợ bố, hơn cả sợ pháp luật triều đình. Tất cả những đau đớn đứt ruột của Thúc Kỳ Tâm, những bất hạnh không đáng phải chịu của Thúy Kiều: bị bắt cóc, bị biệt giam, bị bắt làm tôi đòi, bắt quì tạn mặt, bắt mời tận tay, bắt khảy đờn, bắt ngồi canh đèn ở cửa phòng vệ sinh, rồi đi tu chùa tụng kinh, rồi lại trở vào chốn yên hoa làm vợ khắp người ta có tiền… Tất cả những cái vừa kể đó đều không có nếu anh bố Thúc Kỳ Tâm khôn ngoan áp dụng quy luật hôn nhân “môn đăng, hộ đối”.
Tôi càng nghĩ càng thấy thấm sự minh triết của qui luật “môn đăng, hộ đối”. Chị con gái nhà buôn tuy có tiền đem về nhà chồng, tậu nhà, mua xế cho chồng nhưng vẫn tủi thân khi nghe chồng, hay người nhà chồng, nói những lời khinh thường những kẻ sống ở đời mà không phải là bác sĩ, kỹ sư, đốc phủ sứ hoặc không có thân nhân là bác sĩ, kỹ sư, đốc phủ sứ, hoặc khi nghe chồng mạt sát bọn nhà buôn ngu si, dốt nát chỉ biết kiếm tiền.
Như con gái một cải lương chi bảo, hay một tân nhạc danh ca về làm dâu một nhà mù tịt về những cái gọi là dzăng nghệ dzăng gừng… có thể tủi thân khi nghe người nhà chồng nói đến bốn tiếng “xướng ca vô loại”. Lại tỉ như con gái một anh viết báo, viết tiểu thuyết – như tôi chẳng hạn – kết hôn với một anh chồng hoàn toàn không biết đến tờ báo, quyển truyện là cái gì, có thể nực gà, nóng mắt khi nghe thằng chồng vô tình nói: “Mấy thằng nhà báo nói láo ăn tiền.”
Nhưng nếu thằng rể quí của tôi cũng có bố hành cái nghề nói láo ăn tiền như bố vợ nó thì câu nói trên chỉ là câu nói đùa hết sức có duyên giữa đôi vợ chồng trẻ. Thảm kịch hôn nhân không môn đăng, hộ đối giữa hai họ Hoạn – Thúc làm tôi sáng mắt, sáng lòng. Tôi thấy rõ tính hợp lý của việc môn đăng, hộ đối trong hôn nhân.
Tôi tưởng tượng nếu con gái tôi có diễm phúc được làm vợ con trai của những ông Minh Vồ, Duyên Anh, Hoàng Anh Tuấn chẳng hạn, nó sẽ hết sức dịu dàng, thoải mái mà hỏi chồng nó:
– Ê… thằng khốn nạn kia! Mày chửi bố mày hay chửi bố tao đấy?
Hoặc:
– Chèng đéc ơi… Từ nãy tới giờ em cứ tưởng là anh chửi bố em, hoá ra là anh chửi tía anh, anh chửi nghe đã quá!
Cuộc tình Hoạn – Thúc rắc rối tơ, sai qui luật cho tôi đi đến mấy kết luận kiểu luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu:
– Con nhà báo mần vợ chồng với con nhà báo.
– Con nhà lính mần vợ chồng với con nhà lính.
– Con nhà buôn mần vợ chồng với con nhà buôn.
– Mình là con nhà thường dân thì đừng có dính dáng gì đến những em con nhà quan lại; để cho các em chổng mông…
– Vợ chồng cùng giai cấp là hạnh phúc nếu không chắc như bắp thì cũng không đến nỗi đau khổ để văn thơ phải ghi chép tốn giấy, tốn mực. Vợ chồng đừng có lai căng, vợ chồng đầu gối, tay ấp mí nhau mà đòi hoà hợp, hoà giải giai cấp đấu tranh là hổng có được. Xung đột dữ dội lắm. Nhiều khi đi đến tạt dầu hôi, bôi át-xít nhau đấy. Ông cha đã dạy hổng chịu nghe, thảm kịch xảy ra kêu trời, kêu đất…
– Những cuộc tình đẹp, thơ mộng tuyệt vời kiểu không chia giai cấp, con gái tỉ phú lấy tài xế xe nhà, bác sĩ mua bằng giả yêu em thợ uốn tóc thẩm mỹ viện Ngã Ba Chú Ía… chỉ là những chuyện có thật trong tiểu thuyết, trên màn ảnh vi-đê-ô, đừng có tin, đừng tưởng bở…
Bố ký cóp, con bốc trời
Công tử chạp phô Thúc Kỳ Tâm thích mần thơ đã là chuyện lố bịch làm sỉ nhục thơ văn, nhưng ngu ngốc nhất là việc đương sự “tưởng Thúy Kiều là con của Tú Bà”!
Tưởng thế nào được? Thúc Kỳ Tâm tưởng cái gì về Thúy Kiều cũng có thể tha thứ được, nhưng “tưởng Thúy Kiều là con Tú Bà” thì hổng thể nào chịu nổi. Con nít lên mười, cụ già chín mươi cũng chẳng có ai tưởng một cách ngu si, đáng ghét như thế. Khi thấy Thúy Kiều tắm trong bồn nước pha Chanel No. 5, Thúc Kỳ Tâm làm cái việc ruồi bâu kiến đậu là ngồi rung đùi mần thơ. Rồi đến lúc thấy Kiều vờ vẫn bày đặt chuyện nhớ nhà để tránh khỏi phải mần thơ thù tạc xôi thịt đáp lễ:
Hay hèn nghĩ cũng nối điêu
Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang
Lòng còn gửi áng mây Hàng
Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.
Thúc Kỳ Tâm làm cái việc ruồi bâu kiến đậu thứ hai khi nói:
– Ủa! Kỳ dzậy! Anh tưởng em là con má tú?
Rằng: “Sao nói lạ lùng thay
Cành kia chẳng phải cội này mà ra?”
Lúc ấy chắc chắn Thúy Kiều phải hận đến căm gan tím ruột. Không có gì làm nàng tủi nhục bằng việc nàng bị coi là con gái của mụ chủ nhà thổ thô bỉ, bệnh hoạn, nước da xanh xao, nhờn nhợt, cao lớn, đẫy đà… Nhưng tên tưởng lầm, tên sỉ nhục nàng lại là tên có tiền chi bao nàng sống. Nàng không thể dí… vào mặt nó được, nên nàng chỉ buồn ray buồn rứt:
Nàng càng ủ dột thu ba
Ðoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh.
Những đêm ở phòng giam tập thể 10 Ô-ten Chí Hoà thành Hồ, tôi nằm nuôi rệp xuất khẩu trong màn – chỉ giương cái màn mỏng dính lên thôi nhưng lạ kỳ biết chừng nào, tôi đã có một cõi riêng tư để thả hồn mơ mộng, để mần thơ vịnh Kiều – tôi thương Kiều bị bọn ngu si hạ nhục, tôi mần bài thơ chửi Thúc Kỳ Tâm, chửi đến nơi đến chốn, chửi thẳng thừng, chửi từ đời con đến đời cha, để trả hận cho Kiều:
Chửi bố cha con nhà chạp phô Thúc Kỳ Tâm
Rằng: “Sao nói lạ lùng thay
Cành kia chẳng phải cội này mà ra?”
Chém cha con mắt mù loà
Có đui mới tưởng em là con hoang.
Ngu thì ngu cũng phải chăng
Ngu sao quá nỗi bất bằng là ngu!
Chán cho anh bố lù đù
Suốt đời nhặt nhạnh từng xu, từng đồng.
Thằng con vừa ngọng vừa ngông
Trăm nghìn nó đổ như không trận cười
Bố ky cóp, con bốc trời
Cha đời nửa ngợm nửa người nhà ngu.
Như lu mụ tú mập ù
Vành mông, vòng bụng lù lù một toa
Nàng thì trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một toà nước non
Lấy gì mẹ mẹ, con con?
Mèo mù đòi dọ ngọn nguồn, lạch sông.
Tiếc em, em đỏ như vông
Vô duyên vớ phải thằng chồng cu đen.
Người yêu em nhất
Nói đến em là người đời nói đến trinh, đến trắng…
Ngay cả đến anh Công tử Hà Ðông hào hoa phong nhã chẳng bằng ai cũng ca tụng cái gọi là “chữ trinh” của em:
Trắng suốt thời gian một chữ trinh
Hai trăm năm lẻ biết bao tình
Nào dâu, nào biển, đời hay mộng
Trang giấy này em vẫn hiển linh.
Em trinh cùng mình, trinh từ đầu đến chân nhưng số em lại là số có thân chủ đàn ông đứng xếp hàng trước giường em hơi đông:
  1. Mã Giám Sinh
  2. Sở Khanh
  3. Thúc Kỳ Tâm
  4. Bạc Hạnh
  5. Từ Hải
  6. Hồ Tôn Hiến
  7. Thổ Quan
  8. Kim Trọng…
Kim Trọng, Công tử Bắc Kinh, đáng lẽ là năm-bơ-oăn, nhưng chỉ vì can tội “để dành, để sọt” nên trở thành đèn đỏ. Với Thúy Kiều thì Kim Trọng “đen hơn mõm chó mực”. Số của cậu là số “đi trước, về sau”, giống như “Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi…” Sài gòn: Thành đồng tổ quốc, đánh nhau trước nhưng “được” hưởng hạnh phúc Việt cộng muộn nhất nước.
Nhưng thôi, ta bỏ qua những chuyện lẻ tẻ đó. Thúy Kiều, anh hỏi riêng em: Người đàn ông nào yêu thương em nhất?
Một trong ba tên Thúc Kỳ Tâm, Từ Hải, Kim Trọng ư? Anh thấy cả ba tên ấy đều yêu em vì “muốn” em, vì muốn được hưởng thụ nhan sắc, thân xác của em. Nếu chúng không “muốn” em, anh chắc chúng chẳng dửng dưng con cá vàng thì cũng chẳng tha thiết gì đến em. Anh muốn em hãy phân biệt “yêu” và “muốn”. Hai cái đó giống nhau lắm đấy. Nhưng nếu ta tỉnh trí đôi chút, ta vưỡn thấy chúng khác nhau.
Theo anh, người đàn ông yêu em nhất đời em, yêu em thực tình, yêu em thật trắng, thật sạch, yêu em không phải vì “muốn” em, là Tri phủ Lâm Tri.
Khi anh đã nói đến Tri phủ Lâm Tri rồi, anh chắc em sẽ đồng ý với anh. Phải không em? Thúc Kỳ Tâm, Kim Trọng yêu em, khóc với em, khóc vì em, tiếc em… sống dở chết dở, chết đi sống lại, ngắc ngoải, rên la thảm thiết chỉ là vì em đẹp, vì muốn được nằm chung một giường mí em. Kể cả Từ Hải. Cả ba yêu em chính là tự yêu thân xác chúng. Nhưng riêng Tri phủ Lâm Tri thì yêu em mà không đòi em phải đền đáp, phải cho cái gì cả. Ðúng không em? Vì những lý do cao đẹp đó, anh long trọng tuyên bố:
Người đàn ông yêu Vương Thúy Kiều nhất cõi đời này là: Tri phủ Lâm Tri.
Tri phủ Lâm Tri
Trông lên mặt sắt, đen xì
Lập nghiêm trước đã ra uy nặng lời
Lập nghiêm nên phải thế thôi
Con người ấy thật là người hào hoa.
Hoa tiên quan mới xem qua
Nòi tình nên thấy tình là quan thương.
Khen rằng: “Giá lợp Thịnh Ðường
Tài này, sắc ấy nghìn vàng chưa cân”.
Mười lăm năm, bấy nhiêu lần
Có ai bằng được Phủ Quân nhà mình?
Ða tình nên mới yêu tình,
Hào hoa sáng rực một thành Lâm Tri.
Tuy rằng mặt sắt đen xì
Nhưng tim với óc quan thì đỏ au.
Truyện Kiều tính suốt xưa sau
Hào hoa đệ nhất đứng đầu: Phủ Quân.
Khi em một bước thanh vân, em lên chức phu nhân, em ân đền oán trả, em lập toà án xử tội những tên làm rách, làm bẩn cuộc đời ái tình và sự nghiệp của em, em trừng trị bọn Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà, Bạc Hạnh, Bạc Bà, Hoạn Thư, mẹ Hoạn Thư. Em tuyên án tử hình cả hai tên gia nô tay sai Khuyển Ưng, Khuyển Phệ. Em chi “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” máu và nước mắt nhân dân do chồng em bóp nặn, bóc lột. Em đền ơn hậu hĩ cho mụ Mã Kiều, mụ Quản gia, vãi Giác Duyên…
Nhưng em quên mất Phủ Quân, người có ơn với em nhiều nhất. Anh là người thích trọn tình, trọn nghĩa, chung tình, chung thủy, ân oán rạch ròi, nên anh bất mãn khi thấy em quên Tri phủ Lâm Tri. Vì vậy những đêm u tối mà hết sức bình yên, anh nằm với ông bạn tù thi sĩ Trần Văn Hương ở nhà tù lớn Chí Hoà, anh tại ngục vịnh Kiều và anh
Trách Kiều quên đền ơn
Lập toà em xử vẩn vương
Trách em ân, oán đôi đường chưa minh.
Lâm Tri tri phủ đa tình
Gả chồng công lớn sao mình lại quên?
Ngàn vàng em tạ Giác Duyên
Bố già vất vả em chẳng đền một xu.
Kiếp này em lại vụng đường tu…
Kiều ơi, kiếp này rõ ràng em lại vụng đường tu. Tu là để được giải thoát. Nhưng ta phải trả hết nợ ta mới ra khỏi cõi ta bà này được. Ðó là qui luật. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng qui luật “trả hết nợ mới thơ thới, hân hoan” ấy đời đời không thay đổi. Kiếp này em còn nợ anh Tri phủ, em phải mần một kiếp sau nữa để trả nợ ảnh thôi.
Công tử Bắc Kinh
hoa thơm đánh cả cụm
Kim Trọng, Công tử Bắc Kinh, là nhân vật vô duyên nhất trong Truyện Kiều.
Lẽ ra Công tử là người thứ nhất, nhưng vì Công tử vô duyên, Công tử lần chần nên trở thành người cuối sổ. Ðau thế chứ lỵ! Nhưng trong những đêm nằm thao thức ở phòng 10 tập thể khu ED lầu Bát giác Chí Hoà – năm 1988, thành Hồ – suy nghĩ về Kiều và những cái gọi là rắc rối của cuộc đời, tôi không chút xót thương anh công tử bột Kim Trọng. Không những chỉ không xót thương, tôi còn ghét cay ghét đắng, ghét đến đào đất đổ đi bọn con nhà giàu được hưởng thụ đủ thứ nhờ tiền bạc, quyền thế của bố mẹ như Kim Trọng.
Bọn con nhà giàu nhà nó đã có tiền, nó lại đẹp trai, học giỏi, đỗ đạt cao… Vậy thì nó hưởng hết rồi còn gì! Làm quan, lấy vợ đẹp, đẻ con khôn… được người đời tôn trọng, quị lụy… Bao nhiêu khoái lạc ở cõi đời này chúng nó hưởng hết, những thằng con nghèo như tôi còn cái mốc xì sư cụ gì?
Bởi dzậy cho nên bất cứ lúc nào tôi mạt sát, mạ lỵ, bôi xấu, vu cáo, chửi cạnh chửi khoé, móc máy được bọn con nhà giàu – trong Kiều, dưới chỗ để ngồi tròn nây của Thúy Kiều điển hình là hai anh Kim Trọng, Thúc Kỳ Tâm – là tôi làm tới, mần thẳng cánh. Tôi mạt sát, hạ giá bọn con nhà giàu để trả thù cho những anh con nhà công chức còm như tôi.
Kim sinh viên học gì không ai thấy, chẳng ai biết. Ta chỉ thấy cậu lái xe Jaguar đến nghĩa địa ve gái. Cậu có điều kiện mướn riêng một vi-la bên cạnh nhà người đẹp. Ta chẳng thấy cậu học hành chi cả, chỉ thấy cậu ngồi khảy đờn ghi-ta. Và cậu có sẵn những thứ mà không một người học trò nào trên cõi đời này – từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, từ ngày loài người có học trò đến ngày loài người không còn ai là học trò nữa – thường có. Những thứ đặc biệt Kim Trọng trữ sẵn đó là những món quà tặng để ve gái.
Không những chỉ ngày đêm tơ tưởng được ôm, được hôn Thúy Kiều, cậu bị ám ảnh đến mất ăn mất ngủ. Trường hợp Kim Trọng ra vào ngơ ngẩn vì muốn Thúy Kiều được diễn tả:
Chàng Kim từ lại thư song
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây
Sầu đong càng gạc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
Mây Tần khoá kín song the
Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
Mặt tơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
Buồng văn hơi giá như đồng
Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan.
Nguyễn Du phóng bút hơi quá tay khi tả cảnh đang giữa mùa hè “cái nóng nung người nóng nóng ghê” – Kim Trọng gặp Thúy Kiều ngày Thanh Minh trong tiết tháng ba – mà cái gọi là phòng văn của Kim công tử lại “lạnh giá như đồng”…
Nhưng thôi, ta trở lại với trường hợp Kim Trọng đáng lẽ ra là hành khách thứ nhất lên phi cơ lại trở thành hành khách thứ bét! Không những chỉ mướn vi-la, ngày ngày ngồi rình vườn sau nhà Vương viên ngoại, Kim công tử hào hoa phong nhã còn trữ sẵn những thứ không anh học trò nào trữ sẵn, là khăn voan hay khăn tay, khăn mặt, khăn bông, khăn lông, khăn choàng gì đó; và xuyến vàng. Khi vừa liên lạc được với người đẹp, Công tử lập tức hẹn nàng “Chờ anh tí” để phú lỉnh vào nhà:
Vội về thêm lấy của nhà
Xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông.
Nhân đây ta để ý Nguyễn Du dùng hai tiếng “thêm lấy” ngang phè và không đúng ngôn ngữ Việt Nam chút xíu nào. Chúng ta nói “lấy thêm” chứ không ai nói “thêm lấy” trừ những anh Mít lai Tẩy, lai Mẽo, lai Tẫu. Nguyễn Du có thể dùng: Vội về lấy thêm của nhà… cũng vưỡn được, chỉ có âm điệu không hay bằng. Chú học trò Việt Nam nào làm bài luận quốc văn: “Em về thêm lấy của mẹ năm bảy chục tiền nữa để mang đi bao gái…” chắc chắn bị số điểm thật khốn nạn. Nhưng Thi Sĩ Lớn dùng hai tiếng “thêm lấy” ngang phè thì những đồng bào của ông, những người thán phục thi tài của ông, đời trước, đời này, đời sau đều câm miệng hến! Thi Sĩ Lớn dùng được, thường dân hổng có dùng được. Thi Sĩ Lớn mà!
Nhưng mà con người ở cái cõi đời này đều có số cả. Số đây là Số Mệnh viết hoa. Nếu không có Số thì những bao nhiêu con gái, đàn bà đẹp, thơm, đa tình, chung thủy trên cái đời này đều làm vợ lớn, vợ bé, nhân tình những tên đàn ông con nhà giàu, con nhà quan, đỗ đạt cao, ăn trên ngồi trốc trong xã hội hết cả hay sao? Nếu không có Số thì những anh con nhà nghèo, xấu trai, học dốt như Công tử Hà Ðông, Gã Thâm, Con trai bà cả Ðọi, v.v. chỉ có cái diễm phúc làm bạn với những em thối tai, hôi nách, tính tình quái dị, hung hãn như Khủng Long hay sao?
Không. Ta không nên bi quan như thế. Nhất định là con người ta có Số và không những chỉ có Số mà thôi, con người ta còn ăn thua nhau ở cái Số nữa. Nhất định là có Số và có Trời. “Không có Trời ai ở được với ai?” Ông cha ta đã xác quyết cõi đời này có Số, có Trời từ lâu lắm rồi. Ta khỏi cần thắc mắc gì về chuyện này.
Tôi nói đời có Số là bởi vì Kim Trọng có tất cả những điều kiện tối ưu, tức là tốt nhất, để đóng vai người đàn ông thứ nhất trong đời em Vương Thúy Kiều đa tình nửa đêm leo tường, chui lỗ chó sang nhà đàn ông con trai, lại hụt ăn, lại không được hưởng, lại trở thành Người Hành Khách Ði Chuyến Tàu Vét.
Tại sao thế? Câu trả lời thật giản dị: tại vì cái Số của Kim Trọng nó đen hơn mõm chó mực. Kim Trọng không có cái Số được hưởng cái gọi văn huê là “cái yêu đào” của Vương Thúy Kiều. Nhưng một phần cũng vì Kim Trọng ngu si nặng phần trình diễn.
Kiến cơ nhi tác… Thấy có cơ hội mần được là mần ngay; không những chỉ mần ngay mà thôi, còn phải nhanh tay, nhanh chân, nhanh mắt, nhanh mồm, nhanh miệng mần liền tù tì tút suỵt, mần đến nơi đến chốn.
Kim công tử vô duyên, ngu ngơ không chịu mần ngay – Bài học luân lý giáo khoa thư lớp đồng ấu Kim công tử đem lại cho những người đọc Kiều gồm hai chữ cô đặc kiểu bí kíp “Mần Ngay” – Không những đã không chịu mần ngay, Công tử còn bày đặt những trò trình diễn rình rang không ăn nhậu tí ti ông cụ nào đến tình yêu như là lập bàn thờ thề thốt – thề mí ai? Thề mí ông Cai, bà Xã Ðò – thắp nhang đèn, viết tờ cam kết, kết giải dây lưng, uống tí rượu và… ruồi bâu kiến đậu không giống ai, lố bịch, ngớ ngẩn nhất là cắt tóc trao cho nhau:
Tiên thề cùng thảo một trương
Tóc mây một món, dao vàng chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Ðinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ căn dặn tấc lòng
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Những gì xảy đến với Kim Trọng Số đen hơn mõm chó mực cho ta thấy – rõ ràng, dứt khoát – là tất cả những việc vớ vẩn Kim Trọng làm trong đêm hôm vàng ngọc ấy đều vô ích. Không những chỉ vô ích mà thôi, chúng còn gây tác hại nặng như đá đeo. Vì những nguyên nhân duy tâm kiêm duy vật kiêm duy đủ thứ biện chứng pháp đó, Công tử Hà Ðông làm bài thơ vịnh Kiều tại ngục như vầy:
Kiến cơ nhi bất tác, vỡ mặt là cái chắc…
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
Xắn tay mở khoá động đào
Rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai…
Biết rằng gió tối mưa mai
Sao nhau để lỡ nhau hoài đêm xuân?
Tình nhân lại gặp tình nhân
Ái ân sao chỉ có ngần ấy thôi?
Sá gì trăng sáng giữa trời
Sá gì hai miệng một lời song song
Cần gì căn dặn tấc lòng
Cần gì tạc một chữ đồng đến xương.
Ngẩn ngơ toàn chuyện ẩm ương
Vô duyên cầm địch cầm đường vẩn vơ
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ
Sao người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu?
Sao không trên gối nghiêng đầu
Cho trào chín khúc, cho cau đôi mày?
Trời cho chẳng chịu vồ ngay
Nhẩn nha thì sẽ có ngày xót xa.
Tố Như ơi, tuyệt tài hoa
Một lời thôi cũng tiếng là tiên tri
Chiêm bao nào có hay gì
Cuộc tình đến quá nửa thì chiêm bao.
Toà em anh chán mớ đời
La Quán Trung báo cho ta biết trước Quan Vân Trường sẽ không giết được Tào A Man ở Hoa Dung đường nhỏ khi tả cảnh Tào Tháo bại binh lếch thếch tơi tả lết đến, Quan Vân Trường trịnh trọng:
– Kính chào Thừa tướng… Ngài vẫn được mạnh giỏi?
Ðáng lẽ ra Vân Trường phải – không có chào thừa tướng thừa tung gì cả – hét lên một tiếng lớn, vung long đao chém luôn. Nhưng thay vì làm thế, Vân Trường lại cung kính: “Kính chào Thừa tướng…” và đã một điều “Thưa ngài, kính ngài…” thì làm sao còn trở mặt, phủi tay với ngài được?
Thúy Kiều cũng dzậy. Ðúng ra Tố Như cũng báo cho ta biết Thúy Kiều sẽ không giết được Hoạn Thư. Khi Kiều ngồi ghế chánh án vừa thấy mặt nữ can phạm Hoạn Thư bị cai tù áp giải đến, Kiều đã vội vã đứng lên:
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”
Thay vì chửi mắng, ra lệnh hành quyết ngay “con khốn nạn, mày thế nọ… mày thế kia… cho mày chết…”, Chánh án dỏm Vương Thúy Kiều lại kính cẩn: “Chào cô… Thưa cô…” Chắc nàng còn xưng “em” với Hoạn Thư, cô chủ của nàng. Tội nghiệp! Nàng muốn trả thù Hoạn Thư mà nàng vưỡn còn sợ nó, vưỡn còn coi nó là cô chủ, là mợ… thì làm sao nàng có thể trở mặt giết được?
Ðây là lý do tại sao những người Tàu cộng phải tổ chức “học tập đấu tố bọn địa chủ ác ôn”. Tàu cộng biết nông dân từ bao đời truyền kiếp làm nông nô vẫn sợ hãi bọn chủ đất nên Tàu cộng dạy nông nô vừa thấy mặt chủ đất là phải gọi ngay bằng “thằng”, nhổ ngay vào mặt, chửi rủa tận tình. Có thế mới thực hiện được những cuộc đấu tố địa chủ. Nếu cứ để nông nô nói với chủ đất những câu như: “Thưa ông, năm xưa ông bóc lột bọn tôi hơi quá đáng… Nay bọn chúng tôi hành hạ ông để trả thù…” e rằng không đúng chỉ tiêu. Ðàn em Việt cộng bắt chước đàn anh trong đấu tố, cũng cải cách ruộng đất. Những chị hai, ba mươi tuổi cong cớn, hung hãn gọi những ông già là “thằng, mày…”
Trở lại với Thúy Kiều lập toà án nhưng không giết nổi “chính danh thủ phạm Hoạn Thư”, ta thấy rõ ràng vì Thúy Kiều đã không trở mặt được ngay từ đầu. Cái gọi là toà án của Kiều không ra làm sao cả! Thúy Kiều còn mặc cảm tự ti “gia nô – gái chơi”. Dù nàng có là nữ thủ tướng, là vợ tổng thống đi chăng nữa, trước mặt cô chủ, mợ chủ ngày xưa, nàng vẫn cứ thấy nàng kém nước.
Công tử Hà Ðông bèn có bài vịnh:
Thúy Kiều chánh án
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?”
Mới nghe chào, đã biết ngay
Chính danh thủ phạm toà này sẽ tha.
Ai đời lôi nó ra toà
Mà em lại gọi nó là… tiểu thư!
Vỏ lệnh bà, cốt hoa nô
Lại thêm mặc cảm giang hồ, gái chơi
Em còn sợ nó thì thôi
Toà chi để một trận cười người ta!
Toà gì gươm tuốt nắp ra
Tuốt ra rồi lại gươm tra nắp vào.
Chém cha cái tật hoa đào
Bắt Tào rồi lại tha Tào như chơi.
Toà em anh chán mớ đời!..
Ðã tha bổng chính phạm Hoạn Thư nhưng chánh án Vương Thúy Kiều lại xử tội hai tên tay sai của Hoạn Thư là Khuyển Ưng, Khuyển Phệ.
Hai Khuyển không thù oán gì với Thúy Kiều. Chúng chỉ là gia nô làm theo lệnh chủ. Tất nhiên là trên pháp luật, chúng cũng có tội và cũng bị trừng trị, nhưng khi chính phạm đã được toà tha bổng – không cần biết vì lý do gì – những tên tòng phạm cũng mặc nhiên không còn bị truy tố nữa.
Vương Thúy Kiều có thể trừng trị Khuyển Ưng, Khuyển Phệ nhưng ni cô Trạc Tuyền thì không nên.
Khuyển Ưng, Khuyển Phệ can tội theo lệnh chủ đi bắt cóc một người đàn bà tên là Vương Thúy Kiều. Khi lập toà, một phần nào người đàn bà Vương Thúy Kiều đã là ni cô Trạc Tuyền. Ni cô đã tu hành đến hơn ba niên trong chùa nhà người ta. Ni cô đã làm tốn biết bao nhiêu nhang đèn, giấy mực, cơm gạo, đậu hũ ky, tương chao… Ít nhất chánh án-ni cô cũng phải biết thế nào là ân oán. Ni cô oán người làm ni cô đau đớn, ni cô trả thù người đó khi ni cô có thể. Bọn Khuyển Ưng, Khuyển Phệ cũng oán hận ni cô vì ni cô đã trừng phạt chúng thảm thiết. Chúng cũng biết thù ni cô chứ. Kiếp này chúng không bắt ni cô trả nợ được, chúng sẽ rình ni cô ở đời sau!
Sau ba mùa lá rụng tụng kinh gõ mõ, Vương Thúy Kiều vẫn mê muội, vẫn tham sân si như chưa từng bao giờ tu hành; nhưng ni cô Trạc Tuyền thì chắc cũng có đôi lúc thoáng thấy những tiền kiếp – và nhất là thấy những kiếp sắp đến – của nàng.
Trong mười lăm năm, Thúy Kiều có tám cuộc tình qua những tên đàn ông sắp hàng theo thứ tự người đến trước hưởng trước, người đến sau hưởng sau.
Trong số tám anh đàn ông ấy chỉ có bốn anh – phíp-ty phíp-ty – may mắn sống sót. Bốn anh chết với những cái chết ghê rợn, không được bình thường. Ta có thể gọi những tên ấy là những nạn nhân của em Vương Thúy Kiều có cái số tàn sát “thượng diệt hạ tuyệt” những anh đàn ông nằm chung chăn gối với nàng. Ông cha ta gọi loại đàn bà này là “oan gia”.
Ðàn bà oan gia đẹp, đa tình, quyến rũ, mê hoặc… Phải có những đặc tính ấy mới là đàn bà oan gia chân chính. Ðàn ông cõi đời này không lửng lơ con cá vàng với những người đàn bà hiền lành, vô thưởng vô phạt; nhưng lại cứ như những con thiêu thân thi nhau, tranh nhau, hại nhau, giết nhau để được ưu tiên lao đầu vào những lò lửa tình của những người đàn bà oan gia như Vương Thúy Kiều.
Than ôi! Ta đọc Kiều, ta bị Tố Như mê hoặc, ta bị Tố Như cho vào xiếc… Ta yêu Thúy Kiều, ta mộng Thúy Kiều… Nhưng chỉ cần ta hạ cơn áp huyết xuống vài số thôi, ta sẽ thấy “đàn bà như Thúy Kiều là một tai họa khủng khiếp cho đàn ông”. Ái tình mí những em con nhà lành tuy chẳng có gì sôi nổi, gay cấn, thơ mộng – như bữa bữa ăn cơm ở nhà, vừa bổ vừa lành vừa đỡ tốn – nhưng an ninh, chữ thọ vững hơn. Bằng chứng rõ ràng không thể chối cãi được là tất cả những anh đàn ông dính dáng đến cái chỗ để ngồi của em Vương Thúy Kiều đều có những cuộc đời nếu không đen hơn thì cũng đen gần bằng mõm chó. Bốn anh tưởng bở Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Từ Hải… bỏ mạng ở pháp trường, chết đứng… Anh Hồ Tôn Hiến dâm quan chưa chắc đã giữ nổi cái chức đại thần cho đến hết đời. Anh Thổ quan vô duyên vừa mới được quan trên ban cho vợ thừa đã tá hoả tam tinh vì cô dâu nhảy lầu – xin lỗi, nhảy sông – đi một đường về Thủy Cung làm vợ Hà Bá. Còn cậu Kim Trọng thì khỏi nói. Ðường công danh của cậu cứ dắt cậu qua Phòng Nhất, Phòng Nhì cũng đủ làm cậu mỏi gối chồn chân, mới bốn mươi đã rề rề đeo kính…
Ai thích Thúy Kiều xin cứ việc… liều mạng, thí mạng cùi. Nhân tâm tùy mạng mỡ. Tui thì tui cứ giữ phận phó thường dân bền chữ thọ mí em Thúy Vân. Một chuyện lạ lùng, ngu si là chúng sinh bá tính cứ xúm lại ca tụng, hôn hít em Thúy Kiều, cứ dửng dưng coi thường, đôi khi còn coi khinh nữa, em Thúy Vân. Khỉ nắm! Người đáng ca tụng là Thúy Vân chứ hổng phải Thúy Kiều…
Này nhé Thúy Vân người tròn trặn, có da có thịt, hồng hào, mặt tròn, béo, lông mi lông mày mượt, nhiều, mắt sáng mà hiền, hổng có thu ba thu biếc gì hết. Ðàn ông, con trai khôn ngoan đừng có mê mắt thu ba. Thu ba chỉ làm cho người ta chết chìm, chết đuối mà thôi. Thúy Vân ngực nở, lưng ong, mông to. Ðàn bà như thế là đàn bà khoẻ mạnh, khéo chiều chồng, khéo nuôi con, tính nết vui vẻ, dễ dàng, ăn no, ngủ kỹ, thai nghén dễ, đẻ sòn sòn, không đòi hỏi này nọ, không lăn đùng ngã ngửa, mắt trợn trắng, miệng sùi bọt mép mỗi khi gặp chuyện không được bằng lòng. Thúy Vân là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đảm đang, trung hậu muôn đời, là người vợ giúp đỡ chồng con – vượng phu, ích tử – là chỗ dựa vững chãi cho người chồng. Dân tộc Việt Nam ta còn giữ nguyên được những đặc tính Giao Chỉ ngàn xưa mặc dù bao nhiêu đời ta bị bọn Tây, Tàu, Nhật, Ðại Hàn, Phi, Mẽo ra sức đồng hoá chính là nhờ công của những người đàn bà Việt Nam như Thúy Vân.
Nếu Thúy Vân sống ở Sài gòn những ngày đen tối sau ba mươi tháng tư, chồng nàng đi cải tạo mút mùa, nàng cũng buồn, cũng thương chồng, xót con nhưng nàng hôm trước hôm sau ra ngồi ngay đầu ngõ bán chuối chiên, vịt lộn, khoai lang, khoai mì, trái cóc, bánh cuốn, cơm tấm, v.v. Cái gì cũng được, miễn là lương thiện và có tí tiền mua gạo cho con.
Cũng trong hoàn cảnh ấy, Thúy Kiều lăn đùng ngã ngửa giãy đành đạch, nằm thẳng cẳng thở hắt ra, rầu rĩ ủ ê, nằng nặc đòi chồng kiếm cây cho nàng đi chui, nếu không nàng uống thuốc rầy nàng hành cho trí mạng. Hai nàng tuy là hai chị em ruột nhưng khác nhau như dzậy đó.
Bởi vậy tôi thấy thật là bất công khi ta cứ đề cao Thúy Kiều mà mạt sát Thúy Vân. Bất công như thế là không khá được. Mà quả thực là ta không khá đứt đuôi con thằn lằn rồi. Mất hết cả nước. Bỏ của chạy lấy người. Mấy triệu mạng sống đời lưu vong. Bọn kẹt lại nem nép sống dưới nách những tên công an Việt cộng lớn nhỏ…
Trở lại với ni cô Trạc Tuyền…
Ni cô đã giết oan hai gã Khuyển Ưng, Khuyển Phệ. Khi lên ghế lệnh bà nhờ anh chồng tướng cướp, ni cô ơn đền oán trả rất mực đàn bà tầm thường. Và ni cô đã ân oán không minh, vay trả không sòng phẳng. Bà vãi Giác Duyên chỉ tình cờ mà giúp đỡ nàng. Sau đó đã bừa bãi đẩy nàng vào nhà họ Bạc. Bà này đáng lẽ ra là phải trừng trị, đè ra đánh cho ba trăm hèo quắn đít về cái tội bê bối đã giao du mật thiết với chủ nhà thổ, lại còn ngu muội, tắc trách, không có chút tinh thần trách nhiệm nào khi đẩy đàn bà con gái đi tị nạn vào nhà thổ. Từ sau khi đẩy Thúy Kiều sang nhà họ Bạc, Giác Duyên không hề thắc mắc chi đến an ninh tối thiểu của Thúy Kiều. Mụ đẩy Kiều đi nhưng mụ giữ lại bộ chuông vàng, khánh bạc của nhà họ Hoạn.
Ðền ơn hậu hĩ cho người không đáng được đền ơn, chánh án Thúy Kiều – ni cô Trạc Tuyền  đã tu hành đến ba niên bằng tiền bạc, nhang đèn của nhà họ Hoạn, lại còn giết oan hai tên Khuyển Ưng, Khuyển Phệ. Ni cô Trạc Tuyền gây nghiệp oán. Kiếp này ni cô không trả được nợ máu, kiếp sau ni cô sẽ phải chi thôi.
Bèn có thơ rằng:
Trạc Tuyền…
Mười lăm năm, tám cuộc tình
Sáu tên chết bởi cô mình oan gia
Toà gì chính phạm thì tha,
Hai thằng tòng phạm thì bà cưa đôi.
Oan còn kết, oán chưa thôi
Trạc Tuyền… em có bồi hồi không em?
Ái ân ta có bấy nhiêu ngần
Những năm 1940 tôi mới trên dưới mười tuổi. Bản Kiều thứ nhất tôi được đọc trong đời là bản Kiều của chị tôi – bản Kiều bìa đỏ, bán ở những tiệm hàng xén ngoài chợ. Kỷ niệm xưa nhất của tôi về Kiều là tôi thắc mắc về nhân vật Sở Khanh.
Tôi thường nghe loáng thoáng người lớn nói chuyện với nhau:
– Thằng ấy là thằng sở khanh…
Hoặc nói đến ai đó bằng giọng khinh bạc:
– Ðồ sở khanh…
Tuy chưa biết nhân vật Sở Khanh làm những hành động gì để bị người đời khinh bỉ đến như thế, tôi cũng biết Sở Khanh là người xấu, đáng khinh. Vì vậy tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao trong Kiều lại có tên tự nhận nó là Sở Khanh? Tôi tự bảo: “Nếu nó xưng tên nó là Sở Khanh thì người ta biết nó là thằng đểu giả rồi. Nó còn lừa ai được nữa?”
Năm 1947 tôi đi kháng chiến ở vùng Bắc Ninh – Bắc Giang. Vùng này có cái tên gọi khá hay là Bắc Bắc. Nói là đi kháng chiến cho oai, thực ra tôi đi làm liên lạc viên, quanh năm đi chân đất mang thư đi giao cho cơ quan tôi – ban VB: Ban tình báo đặc biệt Gia Lâm. Có lần tôi sống với một anh trong cơ quan rất thích đọc Kiều. Anh có quyển Kiều mang theo trong ba-lô. Thấy tôi mượn đọc một chiều, anh hỏi tôi:
– Chú thích nhân vật nào trong Kiều nhất?
Tôi trả lời ngay boong:
– Em thích Thúc Sinh.
Anh ngạc nhiên:
– Thúc Sinh là thằng con nhà buôn, ăn chơi, hèn nhát. Nó có cái gì mà chú thích nó?
Tôi không trả lời được.
Năm mươi năm sau…
Năm nay mái tóc không xanh nữa
Tôi đã đau thương, đã nợ nần..
Năm nay tôi biết tại sao năm mươi năm xưa tôi thích Thúc Sinh. Nhưng tôi không phân tích, không giải thích tại sao. Tôi dành việc đó để các bạn làm, nếu các bạn muốn.
Em có nhớ chăng, em có tiếc…
Tôi thấy cuộc tình Thúc Kỳ Tâm – Vương Thúy Kiều là cuộc tình đẹp nhất trong ba cuộc tình của Thúy Kiều. Tương đối thôi, nhưng là tương đối đẹp nhất.
Cuộc tình Thúy Kiều – Kim Trọng bị sứt mẻ, tiếc hận, cay cú, sai lầm nhiều hơn là ái ân. Hai nữa cuộc tình thứ nhất này của Thúy Kiều là cuộc tình ngây thơ, lãng mạn của tuổi dậy thì. Ðây là thứ tình mà những năm 1960, 1970 ở Sè gòong chúng ta gọi là “tình nữ sinh, tình học trò”. Thứ tình này thường nhiều mộng mơ, thư tình mực tím, hoa cúc sân trường, cao tay lắm là hẹn hò nhau ngọn đèn cư xá, ly chanh đường, nắm tay, hôn má nhau trong bóng tối rạp xi-nê đồng hạng đồng loã…
Cuộc tình Thúy Kiều – Từ Hải là tình oan nghiệt, tình oan khiên, tình hận, tình giết nhau, tình làm nhau chết đứng.
Công tử Hà Ðông đặc biệt không ưa thứ tình yêu khốc hại này.
Chỉ còn và vưỡn còn tình Vương Thúy Kiều – Thúc Kỳ Tâm. Vưỡn biết đoạn cuối của cuộc tình chẳng ra cái thống chế gì cả. Em yêu ơi… anh đã không đi mí em đến những nơi cuối bãi, đầu ghềnh, sơn cùng, thủy tận như em muốn… Nhưng mà em cũng thấy anh có yêu em chứ? Anh cũng yêu em..
Công tử Hà Ðông xúc động vì tình yêu của Công tử Vô Tích. Chàng bèn tưởng tượng chàng là Công tử Vô Tích và chàng mần thơ thay bạn, nói với người yêu ngà ngọc – những nàng Kiều Thơm Hơn Múi Mít trên cõi đời này:
Ái ân ta có bấy nhiêu ngần…
Mày ai trăng ấy mới in ngần
Phấn thừa, hương cũ xót trăm phần
Nhìn trăng nhớ nét mày em đẹp
Thơ Kiều tuyệt diệu những câu thần…
Lầu xanh lãng tử mê hồ điệp
Phật các ni cô đắm ái ân.
Trên lầu Ngưng Bích trao hồng thiếp
Dưới gác Quan Âm khoá ái ân.
Từng gian díu lắm, từng quen nết
Ðàn khi gió gác, rượu trăng sân.
Bốc rời tiền ấy tiêu không mệt
Ðêm đông, ngày hạ cũng là xuân.
Chàm xanh một nhúng tay xanh hết
Búa rìu ta có tiếc gì thân.
Phong lôi dù nổi, tình không tuyệt
Ba cây chập lại một cành xuân.
Mộc già một bức tay tiên viết
Sắc tài vàng ấy đáng nghìn cân.
Lá ngô vàng thuở chen cành biếc
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi chiếc
Nửa soi gối lẻ, nửa quan san.
Ba sao sáng nửa vầng trăng khuyết
Phật đài khấn chửa cạn lời vân
Hoa tình bỗng nổi gai oan nghiệt
Biết đâu là quả, biết đâu nhân!
Những tưởng xa nhau là tạm biệt
Ai ngờ vĩnh quyết lúc đưa chân.
Tìm em chín suối sai đồng thiếp
Gặp tiên hồ dễ được hai lần.
Tầm xuân đến thác tơ chưa hết
Nhớ thương trọn kiếp chẳng nguôi dần.
Anh về Vô Tích hồn tê liệt
Sống mòn ở đấy kiếp tù nhân.
Em ơi…
Phấn thừa, hương cũ đau khôn xiết
Mày em trăng ấy vẫn in ngần.
Những tưởng chôn nhau là vĩnh quyết
Ai ngờ địa ngục thấy tình nhân.
Ðèn loà, mắt quáng, ai trên tiệc?
Tóc rối, da chì, kẻ dưới sân?
Ngán nó lòng gang mà miệng thép
Thương em ngọc diệp chịu phong trần.
Tiệc rượu gia hình đau nó kẹp
Cung cầm tuyệt vọng tội em đàn.
Này yêu, này mến, duyên hay nghiệp?
Nào nhớ, nào thương, khóc với than!
Tâm hương thiêu mãi oan không hết
Quan Âm nào cứu được tình nhân.
Ðoạn trường càng khóc càng oan nghiệt
Cát lầm ngọc trắng thiệt đời xuân.
Vàng phai, đá nát đành ly biệt
Núi mòn, sông cạn vẫn tình quân.
Em trốn đi em, trời đất khép
Dâu biển tình ta cũng hợp tan.
Liệu mà xa chạy, cao bay tuyệt
Ái ân ta có bấy nhiêu ngần…
Những tưởng xa nhau là vĩnh quyết
Ai ngờ gươm giáo thấy dung nhan.
Oan gia quen gặp nhau đường hẹp
Ai biết ai quì ở dưới sân?
Mười năm sương gió em càng đẹp
Nửa kiếp chua ngoa nó chẳng đần.
Sâm Thương chẳng vẹn, ta cùng tiếc
Tại ai há dám phụ tình quân.
Thương chồng, tha vợ cho tròn kiếp
Thêm trăm cuốn gấm, bạc nghìn cân.
Ñt nhiều cũng một phen oanh liệt
Oan thì trả oán, ái đền ân…
Nửa vui, nửa tiếc, mừng chen khiếp
Lửa ái ân xưa vẫn chửa tàn.
Hồn anh trọn kiếp mê hồ điệp
Thịt xương rung mãi ngón em đàn.
Em có nhớ chăng, em có tiếc
Những mùa yêu cũ đã tiêu tan?
Ôi những chiều vàng, đêm ngọc biếc
Còn nhớ ngày em tắm dưới màn.
Em ơi…
Phấn thừa, hương cũ đau khôn xiết
Mày em trăng mới vẫn in ngần!
Em yêu anh nhất, thơ còn viết
Sợ vợ hay không, mặc chúng bàn.
Quên em? Nào có bao giờ?
Em ơi…
Em có nghe những tiếng gọi xé trời?
Không những anh chỉ gọi em vì anh nhớ thương em, anh tiếc em… anh còn gọi em thay cho tất cả những Thúc Kỳ Tâm trên cõi đời này…
Cuộc tình Thúc Kỳ Tâm – Vương Thúy Kiều có nhiều hợp tan nhất…
Những ba lần hợp, ba lần tan.
Lần thứ nhất gặp nhau ở lầu Ngưng Bích, tan khi Thúc Kỳ Tâm về Vô Tích thăm Hoạn Thư.
Lần thứ hai gặp nhau trong bữa tiệc gia hình – nhìn nhau mà đứt ruột, yêu mà lệ rớt, thương mà máu rây. Những oái oăm tàn ác, dã man, vô nhân đạo của cái gọi là Cuộc Ðời: Những người yêu thương nhau không được sống chung mí nhau, những người thù ghét nhau cứ phải sống chung mí nhau – Lần thứ hai tan hàng ở Quan Âm Các.
Lần hợp thứ ba trong pháp đình toà án quân sự cách mạng, Chánh án Phu nhân xét xử bất chấp mọi thứ pháp luật trên cõi đời này. Ðây cũng là lần tan thứ ba và lần này là lần hợp tan cuối cùng.
Lần tan thứ nhất Thúc Kỳ Tâm yên chí sẽ trở lại mí em như hổng có chuyện gì xảy ra cả. Thúc Kỳ Tâm tin chuyện này chắc hơn bắp rang, chắc hơn cua gạch. Nhưng cái gì càng tin chắc lắm thì càng dễ lép…
Thúc Ông ngu đần thấy cái xác cháy đen trong đống tro tàn, yên chí ngay đó là con dâu yêu quí, hí hửng đem về tẩm liệm, làm ma, đem chôn, khóc than ra rít. Khi về đến tổ ấm thấy “linh sàng, bài vị thấy nàng ở trên”, Công tử Vô Tích lăn đùng ngã ngửa cũng phải thôi. Thằng đàn ông nào ở vào cảnh ngộ này lại không lăn đùng, ngã ngửa. Công tử bèn khấn vái nàng và lần chia tay kẻ ở trần thế, người xuống suối vàng này là lần Công tử cũng chắc hơn bắp rang là sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy mặt nàng…
Khi nàng đã chết cháy, khi nàng đã được người ta đào sâu, chôn chặt thì… còn mong gặp lại nàng ở kiếp này là điên. Thúc Kỳ Tâm yên chí kiếp sau sẽ gặp lại Thúy Kiều, nhưng chỉ khoảng một niên sau – khi nỗi đau mất Thúy Kiều đã phai nhạt, Công tử Vô Tích trở về với vợ lớn con quan. Làm sao cậu có thể ngờ cô vợ ác ôn của cậu đã bắt Thúy Kiều về làm người ở?
Ðây là lần tan hợp Kỳ Tâm – Thúy Kiều thứ hai. Chia tay nhau ở Quan Âm Các, một lần nữa Thúc Kỳ Tâm chẳng mơ màng gì đến chuyện gặp lại Thúy Kiều lần thứ ba.
Nhưng hai lần chưa hết. Ðịnh mệnh còn an bài cho cặp tình nhân đau khổ này tan hợp lần nữa. Lần thứ ba, nàng trở thành lệnh bà. Chàng rúm ró, xanh xám quì mọp cạnh cô vợ ghen tuông nay trở thành chính danh thủ phạm dưới sân toà án Quân sự Mặt trận…
Cho họ hợp tan lần thứ ba để làm chi vậy? Chẳng để làm ký gì sốt. Ðịnh mệnh thường hết sức ác ôn côn đồ với những người yêu nhau. Ðịnh mệnh thường tỏ ra hết sức dễ dãi trong việc dàn xếp cho những người thù ghét nhau sống chung mí nhau nhưng định mệnh lại hết sức khắt khe, ác độc trong việc ngăn cản không cho những người yêu nhau được sống chung vợ chồng. Ðã không cho sống mí nhau thì chớ, định mệnh còn ác độc dàng trời khi lâu lâu lại dàn xếp cho người ta gặp nhau, nhìn thấy mặt nhau, đôi khi còn cho người ta ngửi cả thấy mùi da, mùi tóc của nhau.
Trong ngục Chí Hoà thành Hồ Xã hội Chủ nghĩa, những đêm tù tôi tưởng tượng, tôi hoá thân làm Thúc Kỳ Tâm. Trước toà khi nàng hỏi:
– Em… em người tình cũ của anh ở Lâm Tri đây, anh còn nhớ em không?
Khi nàng nói:
– Vì tình xưa, nghĩa cũ của đôi ta… chẳng gì đôi ta cũng đã yêu thương nhau một thời… chúng ta không sống được mí nhau đến ngày tóc nhuộm, răng giả không phải là lỗi tại em…
Tôi sẽ run, sẽ quị đầu gối – Công tử Hà Ðông là bạn đồng môn học cùng thầy, cùng trường, cùng ngồi một bàn với Công tử Vô Tích – tôi sợ thấy mồ nhưng tôi vưỡn thấy nàng sao quá đẹp, quá quyến rũ. Những người đàn bà đa tình, lẳng lơ cũng chẳng có mòn thường trẻ lâu, đẹp lâu, tình lâu, quyến rũ lâu hơn những người đàn bà sơn son để thờ. Không dám hở môi ra đâu nhưng trong tim tôi, tôi thầm hỏi, thầm nói với nàng:
– Làm sao anh có thể quên em được? Không những anh không quên, anh còn nhớ ra rít. Anh chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần từ ngày anh mất em. Anh mới là người có quyền hỏi em có nhớ những ngày ái ân của đôi ta ngày xưa không chứ? Tại sao em lại hỏi anh…
Ðây là bài thơ tôi mần để trả lời nàng trước toà án:
Thúc Kỳ Tâm trả lời Thúy Kiều trước toà
Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”
Tiếc hoa anh ngậm ngùi xuân
Thân này dễ được mấy lần gặp tiên?
Từ ta tàn cuộc tình duyên
Tơ tình anh đứt ruột, lửa phiền anh cháy gan.
Mày em trăng vẫn in ngần
Phấn thừa, hương cũ bội phần xót xa.
Nhớ em trong ngọc, trắng ngà
Có bao giờ tưởng em là cố nhân.
Cố nhân nhẹ bước thanh vân
Nguyệt cầm có vẳng cung đàn Lâm Tri?
Nhớ từ Ngưng Bích nhớ đi
Từ Quan Âm Các nhớ về, em ơi.
Nhớ em kiếp kiếp, đời đời
Tấc son vật đổi, sao dời vẫn son.
Dẫu rằng sông cạn, đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ.
Quên em? Nàocó bao giờ
Sao em lại hỏi hững hờ: “Nhớ không?”
(còn tiếp)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here